Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Công Thương Hai Bà Trưng - Pdf 29

Lời Nói Đầu.
Trong chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế của đất nớc đến năm 2000 và
giai đoạn tiếp theo, nhiệm vụ tạo vốn và sử dụng vốn có hiệu quả nhằm phục
vụ tốt nhất cho công cuộc CNH, HĐH đất nớc là một trong những nhiệm vụ
hàng đầu đợc chính phủ đặc biệt quan tâm, trong đó có thể nói vai trò của
ngành ngân hàng là quan trọng nhất. Mà vốn lại là một nguồn lực quý và khan
hiếm, cho nên sử dụng có hiệu quả nguồn vốn là mục tiêu của bất kỳ nhà quản
lý nào, đặc biệt các nhà quản lý trong lĩnh vực ngân hàng vì nó liên quan đến
sự tồn hay bại của đơn vị đó.
Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất trong các hoạt động của
Ngân hàng thơng mại. Trong thời gian qua có một số Ngân hàng thơng mại đã
bị đổ vỡ mà nguyên nhân sâu xa do hoạt động tín dụng mang lại. Rủi ro luôn
luôn tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng, những tổn thất do hoạt động này mang
lại thờng rất lớn: làm thất thoát vốn của Ngân hàng thơng mại, mức độ lớn hơn
có thể làm cho Ngân hàng thơng mại bị mất khả năng thanh toán và dẫn tới
phá sản. Chính vì vậy hiệu quả chất lợng tín dụng luôn là mối quan tâm hàng
đầu của Ngân hàng thơng mại.
Là một chi nhánh Ngân hàng thơng mại QD, NHCT Hai Bà Trng trong thời
gian qua đã có nhiều nỗ lực trong việc mở rộng hoạt động tín dụng nói chung
và tín dụng trung dài hạn nói riêng nhằm một mặt bảo đảm lợi nhuận cho
chính mình, mặt khác giúp các doanh nghiệp giải quyết khó khăn về vốn, qua
đó góp phần thực hiện mục tiêu chung của nền kinh tế. Tuy nhiên cũng phải
nhìn nhận khách quan rằng những kết quả đã đạt đợc từ hoạt động tín dụng
cuả Ngân hàng Công Thơng Hai Bà Trng không phải là nhỏ, song hiệu quả
của hoạt động tín dụng nói chung và hiệu quả hoạt động tín dụng trung dài
hạn cần phải đợc từng bớc nâng dần lên để góp phần cho Ngân hàng Công Th-
ơng Hai Bà Trng ngày càng phát triển.
Đó chính là lý do thúc đẩy em chọn đề tài: Một số giải pháp nâng cao
chất lợng tín dụng trung dài hạn tại Ngân hàng Công Thơng Hai Bà Tr-
ng.
Ngoài phần lời nói đầu và kết luận luận văn gồm 3 chơng:

động tiền gửi trong dân c và các tổ chức kinh tế để cho vay.
Ngân hàng thơng mại là một trung gian tài chính, là cầu nối giữa những ng-
ời thừa vốn và những ngời thiếu vốn. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học kỹ thuật, nhu cầu thị trờng ngày càng đa dạng và phong phú, để đáp
ứng nhu cầu thị trờng thì phải mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhng
hiện nay hầu hết các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh đều trong tình trạng
thiếu vốn, trong khi đó một bộ phận nguồn vốn đáng kể đang nhàn rỗi trong
mọi tầng lóp dân c xã hội. Ngân hàng thơng mại đã đóng vai trò trung gian tài
chính điều hoà đợc lợng vốn thừa thiếu trên thị trờng.
Ngân hàng thơng mại huy động tiền gửi trong các tầng lớp dân c trong xã
hội và trả cho họ một mức lãi xuất tùy theo thời hạn gửi tiền, qui mô tiền gửi
và loại tiền gửi. Ngân hàng thơng mại sử dụng vốn cho vay, tài trợ cho các
hoạt động sản xuất kinh doanh và thu một mức lãi xuất cho vay nhất định đủ
để bù đắp chi phí trả lãi, chi phí hoạt động và có lãi.
Để đẩy mạnh hoạt động cho vay, tăng khả năng sinh lời, Ngân hàng thơng
mại phải mở rộng việc huy động vốn dới những hình thức khác nhau nh phát
hành trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, đa dạng hoá các loại hình kỳ
hạn, đa ra mức lãi xuất cạnh tranh.... Bên cạnh đó ngân hàng phải có biện
pháp quản lý và sử dụng nguồn vốn đó hợp lý để đủ bù đắp chi phí và có lãi.
Ngoài ra, Ngân hàng thơng mại còn thực hiện một loạt hoạt động khác nh:
kinh doanh ngoại hối, tham gia thị trờng chứng khoán, góp vốn mua cổ phần,
3
đầu t mua trái phiếu, kỳ phiếu và các chứng từ có giá khác, cung cấp dịch vụ t
vấn, dịch vụ quỹ két, dịch vụ thanh toán....
1.1.2.Hoạt động chủ yếu của một NHTM:
a.Tạo lập vốn.
Muốn thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình thì trớc tiên các ngân
hàng phải có vốn. Nguồn vốn của ngân hàng rất đa dạng và phong phú, có thể
kể ra một số nguồn nh sau:
*Nguồn tiền gửi:Bao gồm tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm.Tiền gửi

của một ngân hàng. Khả năng thanh toán thờng xuyên của một ngân hàng đợc
đảm bảo bởi các tài sản có tính lỏng rất cao nh: tiền mặt tại két của ngân hàng,
tiền gửi tại NHTƯ và các NHTM khác,tiền đang trong quá trình thu.Số lợng
các tài sản này càng nhiều thì khả năng thanh toán của ngân hàng càng đợc
đảm bảo. Tuy nhiên đây cũng là tài sản không sinh lời hoặc sinh lời thấp nhất
trong các tài sản của ngân hàng thơng mại, việc giữ nhiều tài sản này sẽ ảnh h-
ởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.Chính vì vậy mà các ngân hàng
cần phải tính toán để duy trì các tài sản này ở mức hợp lý sao cho vừa đảm bảo
khả năng thanh toán để duy trì các tài sản này ở mức hợp lý sao cho vừa đảm
bảo khả năng thanh toán thờng xuyên, vừa đạt đợc mức lợi nhuận hợp lý.
Công việc đó đợc gọi là hoạt động ngân quỹ.
*Hoạt động cho vay:
Ngợc lại với hoạt động ngân quỹ, là hoạt động mang lại ít thu nhập nhất
cho ngân hàng, hoạt động cho vay lại là hoạt động chủ yếu và thờng xuyên
nhất, mang lại lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng. Thực chất hoạt động cho vay
là việc thiết lập các quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng, chúng
đem lại cho ngân hàng những khoản thu nhập lớn từ lãi tiền vay, song cũng
đặt ngân hàng trớc những nguy cơ rủi ro cao nhất. Chính vì vậy mà việc quản
lý các khoản mục cho vay luôn đợc các ngân hàng đặc biệt chú ý
*Hoạt động đầu t:
Các NHTM thực hiện hoạt động đầu t bằng cách tiến hành mua bán các
chứng khoán trên thị trờng để tìm kiếm lợi nhuận thông qua chênh lệch giá.
Đây cũng là cách thức để ngân hàng thực hiện phơng châm đa dạng hoá hoạt
động kinh doanh. Hơn nữa, các chứng khoán có độ an toàn cao và tính lỏng
cao cũng sẽ giúp đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng đợc tốt hơn.
*Hoạt động trung gian: Để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế ngày càng
phát triển, từ chỗ chỉ nhận tiền gửi và cho vay đến nay các NHTM đã không
ngừng mở rộng hoạt động của mình, cung cấp thêm nhiều dịch vụ mới, qua đó
cũng mang lại những khoản thu không nhỏ cho ngân hàng. Có thể kể ra một
số dịch vụ nh: dịch vụ thanh toán và cung ứng các phơng tiện thanh toán, dịch

hàng.
TDNH ( cho vay) trung và dài hạn là các khoản cho vay của ngân hàng
có thời hạn trên một năm nhng không dài hơn thời gian khấu hao cần thiết
của tài sản hình thành bằng vốn vay. Việc phân chia cụ thể tín dụng trung
hạn và tín dụng dài hạn tuỳ thuộc vào quy định của mỗi quốc gia, ở Việt
Nam các khoản tín dụng có thời hạn từ 1-5 năm đợc gọi là tín dụng trung
hạn, trên 5 năm đợc gọi là tín dụng dài hạn.
b. Vai trò của tín dụng trung và dài hạn đối với sự phát triển kinh tế.
Thứ nhất, tín dụng trung dài hạn nhằm cung ứng cho những doanh nghiệp
có tiềm năng mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh mà thiếu vốn. Đây là
một hình thức, giải pháp kịp thời để chuyển hoạt độngcủa các đơn vị quốc
doanh từ cơ chế quản lý quan liêu bao cấp sang cơ chế hạch toán kinh doan,
góp phần tháo gỡ những khó khăn, thực sự trao quyền sản xuất kinh doan cho
các doanh nghiệp thuộc các nghành then chốt.
6
Thứ hai, cho vay trung dài hạn đối với các thành phần kinh tế thực sự là
một loại tín dụng đầu t theo chiều sâu nhằm mở rộng sản xuất , tăng quy mô,
năng lực sản xuất kinh doanh, tăng thêm sản lợng, nâng cao chất lợng công
trình.
Thứ ba, tạo thị trờng sử dụng vốn ngắn hạn vì cho vay trung và dài hạn sẽ
đầu t vào trang thiết bị của doanh nghiệp kích thích sản xuất phát triển. Do sản
xuất phát triển cho nên sẽ cần nhiều vốn lu động hơn và thị trờng vốn ngắn
hạn sẽ đợc mở rộng hơn theo tốc độ phát triển sản xuất.
Thứ t, cho vay trung dài hạn để phát triển kinh tế theo chiều sâu đầu t vào
các công trình sản xuất, trang thiết bị máy móc, tài sản cố định... do đó nó
thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá để tiêu thụ trong
nớc và xuất khẩu. Xuất khẩu hàng hoá nhiều sẽ làm tăng nguồn vốn ngoại tệ
cho đất nớc, đảm bảo cán cân thanh toán quốc tế.
Thứ năm, cho vay trung dài hạn ở trong nớc giúp các doanh nghiệp phát
triển sản xuất tăng thêm thu nhập và nộp vào ngân sách Nhà nớc nhiều góp

dài.
Xuất phát từ đặc điểm thời hạn dài nên rủi ro trong hoạt động TDNH trung
dài hạn cũng cao hơn so với tín dụng ngắn hạn. Chúng ta đều biết rằng nền
kinh tế đất nớc khó có thể ổn định trong một thơi gian dài, mà thờng xuyên có
những biến động. Những biến động này có thể theo hai chiều hớng tốt hoặc
xấu. Là một chủ thể trong nền kinh tế doanh nghiệp không thể tránh khỏi tác
động của những biến động này. Và một khi doanh nghiệp chịu những tác động
tiêu cực do nền kinh tế mang lại thì ngân hàng với t cách là chủ nợ khó tránh
khỏi những rủi ro.Thời hạn cho vay càng dài xác suất xảy ra các biến động
càn lớn và do đó rủi ro tiềm ẩn càng cao. Đặc điểm này lại làm phát sinh thêm
một đặc điểm khác của TDNH trung và dài hạn: hầu hết các khoản cho vay
trung và dài hạn đều là các khoản cho vay có bảo đảm. Hình thức bảo đảm có
thể là bảo đảm đối nhân hay bảo đảm đối vật. Việc áp dụng các hình thức bảo
đảm này nhằm giúp ngân hàng có thể thu đợc nợ trong trờng hợp có rủi ro xảy
ra.
Một hệ quả nữa của tính chất rủi ro cao là lãi suất cho vay trung dài hạn
phải cao hơn lãi xuất cho vay ngắn hạn. Điều này là hợp lý bởi bởi một khoản
cho vay tiềm ẩn rủi ro cao thì lãi suất phải cao để bù đắp những rủi ro nếu xảy
ra.Mặc dù vậy, đã có thời kỳ ở Việt Nam áp dụng mức cho vay trung dài hạn
thấp hơn mức cho vay ngắn hạn, tuy nhiên đến nay điểm bất hợp lý này đã đợc
điều chỉnh. Mức lãi suất phụ thuộc nhiều yếu tố( lãi suất huy động vốn, phí
ngân hàng, lợi nhuận ngân hàng, tỷ lệ lạm phát,lãi suất cơ bản do NHTƯ quy
định, lãi suất trên thị trờng quốc tế). Mức lãi suất này có thể cố định trong
suốt thời hạn vay vốn hoặc điều chỉnh linh hoạt theo sự biến động của thị tr-
ờng.Thông thờng, để tránh rủi ro cho cả hai bên thì lãi suất đợc điều chỉnh cho
phù hợp với tình hình thị trờng từng thời kỳ.
c. Nguyên tắc cho vay
Để đảm bảo tránh rủi ro, việc cho vay phải tiến hành trên cơ sở tuân thủ
triệt để các nguyên tắc cho vay. Đó là:
*Việc sử dụng vốn vay: phải đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng

nhỏ.Nguồn vốn huy động của dân c dới hình thức phát hành trái phiếu dài hạn
hoặc huy động tiền gửi có kỳ hạn dài.
Nguồn huy động ngắn hạn định kỳ đợc xem xét, tính toán và đợc trích ra
một tỷ lệ phần trăm nhất định nào đó tuỳ thuộc vào lợng biến động của tiền
gửi và rút ra của khách hàng để tạo ra một nguồn ổn định nhằm cho vay trung
dài hạn. Nguồn này có tỷ lệ trích nhỏ và dễ xẩy ra rủi ro cho ngân hàng vì
dùng vốn vay ngắn hạn để cho vay trung dài hạn.
Nguồn đi vay của NHNN: nguồn này thờng phụ thuộc vào chính sách tiền
tệ quốc gia trong từng thời kỳ của Ngân hàng Nhà nớc
9
Nguồn vay nợ nớc ngoài để cho vay trung dài hạn: nguồn này có u điểm là
vay đợc khối lợng lớn, lãi suất vừa phải nhng lại phải chấp nhận một số điều
kiện bất lợi do phía cấp vốn đa ra.
Ngoài ra còn có các nguồn tài trợ uỷ thác của các tổ chức tín dụng n-
ớcngoài nh: nguồn tín dụng EC, nguồn Việt Đức.
1 .2.3. Nguồn trả nợ và ph ơng pháp trả nợ cho các khoản cho vay trung
đài hạn.
Có nhiều cách để trả nợ cho một khoản vay trung dài hạn, chẳng hạn; trả
lãi trớc ngay từ khivay tiền và trả nợ gốc vào cuối thời hạn vay; trả lãi và gốc
làm nhiều lần trong suốt thời hạn vay; trả lãi làm nhiều lần và gốc vào cuối
thời hạn vay. Trong thực tế hiện nay ngời ta thờng áp dụng phơng pháp trả nợ
gốc và lãi làm nhiều lần trong suốt thời hạn vay. Theo đó thời hạn vay vốn đợc
chia thành các kỳ hạn trả nợ, cuối mỗi kỳ hạn khách hàng sẽ phải thanh toán
cho ngân hàng số lãi trong kỳ và một phần nợ gốc. Kỳ hạn trả nợ dài hay
ngắn, số tiền trả nợ gốc mỗi kỳ do hai bên thoả thuận trên cơ sở xem xét tính
chất khoản vay, chu kỳ sản xuất kinh doanh, nguồn vốn trả nợ của khách hàng
và đợc ghi trong hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên lịch trình trả nợ này không
phải là hoàn toàn cố định mà có thể đơc điều chỉnh theo thoả thuận của hai
bên khi có những tình huống phát sinh ngoài dự kiến.
Trên cơ sở lịch trình trả nợ đã đợc ký kết đó, các doanh nghiệp vay vốn sẽ

xã hội.
Với t cách là một trung gian tài chính trong nền kinh tế, hoạt động chủ yếu
và thờng xuyên nhất là nhận tiền gửi và cho vay, chất lợng tín dụng luôn là
mối quan tâm hàng đầu của các NHTM. Chất lợng TDNH đơng nhiên đợc tạo
nên bởi chất lợng của từng khoản tín dụng. Song không chỉ có vậy, nếu bó hẹp
khái niệm chất lợng tín dụng đồng nghĩa với chất lợng của một khoản tín dụng
thì rõ ràng là không đầy đủ và không phản ánh đợc chính xác tính đa dạng và
phức tạp của hoạt động TDNH. Do đó, một cách đầy đủ có thể hiểu khái niệm
chất lợng tín dụng trung dài hạn nh sau:
Chất lợng TDNH trung dài hạn là khái niệm phản ánh khả năng mở
rộng cho vay trung dài hạn của ngân hàng phù hợp với nhu cầu vay vốn của
khách hàng, với yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội, đồng thời đảm bảo sự tồn
tại và phát triển của ngân hàng.
Từ khái niệm trên ta có thể thấy khả năng mở rộng tín dụng là một trong
những điều kiện cần thiết để đảm bảo chất lợng tín dụng cao, song chỉ thế thôi
thì cha đủ. Mở rộng tín dụng đồng thời phải bảo đảm:
Đáp ứng tốt nhất nhu cầu vốn của khách hàng.
Bảo đảm sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế đất nớc.
Tóm lại chất lợng tín dụng ngân hàng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh
khả năng thích nghi của ngân hàng với môi trờng kinh doanh, phản ánh sức
mạnh của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Chất l-
ợng tín dụng không thể tự nhiên mà có, nó là kết quả của một quá trình phối
hợp hành động hợp lý và hiệu quả giữa các thành viên trong từng tổ chức với
nhau vì một mục đích chung. Do đó, muốn đạt đợc chất lợng tín dụng cao đòi
hỏi phải có một phơng pháp quản lý khoa học, chặt chẽ.
b. Các chỉ tiêu đánh giá chất lợng TDNH trung dài hạn.
11
b1.Các chỉ tiêu định tính:
Nh trên đã phân tích, chất lợng tín dụng ngân hàng trung và dài hạn thể

đợc rủi ro, bảo đảm hiệu quả kinh doanh của chính mình.
*Yêu cầu thứ hai để có chất lợng tín dụng tốt là phải bảo đảm sự tồn tại và
phát triển của ngân hàng. Nói cách khác hoạt động tín dụng phải mang lại cho
ngân hàng thu nhập đủ để trang trải các chi phí liên quan và có lãi, hạn chế
thấp nhất nguy cơ rủi ro. Điều này không chỉ phụ thuộc vào ngân hàng mà còn
phụ thuộc rất lớn vào doanh nghiệp vay vốn. Một khoản tín dụng chỉ có thể đ-
ợc coi là có hiệu quả khi các nguyên tắc cho vay đợc tuân thủ triệt để; sử dụng
vốn vay đúng mục đích; sử dụng vốn vay có hiệu quả kinh tế cao; hoàn trả nợ
12
gốc và lãi đúng thời hạn. Việc tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc tín dụng vừa
là điều kiện cần thiết vừa là biểu hiện của chất lợng tín dụng tốt. Mục đích sử
dụng vốn vay đã ký kết trong hợp đồng tín dụng đã đợc cả hai bên ngân hàng
và doanh nghiệp phân tích, đánh giá kỹ lỡng về hiệu quả, tính khả thi cũng nh
mức độ phù hợp với chính sách phát triển kinh tế- xã hội chung của ngành,
của địa phơng và của cả nớc. Do đó, sử dụng vốn vay đúng mục đích là một
trong những điều kiện đảm bảo mục tiêu đã đề ra ban đầu. Sử dụng vốn vay
đúng mục đích, cộng với sự năng động, nhạy bén trong kinh doanh của doanh
nghiệp và sự giúp đỡ hiệu quả của ngân hàng sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp
đạt đợc kết quả kinh doanh cao nhất và đó chính là tiền đề để doanh nghiệp
thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của ngân
hàng.
*Một yêu cầu nữa đối với hoạt động TDNH là phải đóng góp vào sự tăng
trởng và phát triển kinh tế- xã hội của vùng, của địa phơng và của đất nớc.
Điều này là hệ quả tất yếu đạt đợc khi cả ngân hàng và doanh nghiệp đều hoạt
động có hiệu quả. Nó đợc biểu hiện ở sự ổn định của nền tài chính- tiền tệ
quốc gia, giúp nâng cao năng lực sản xuất, năng lực công nghệ cho doanh
nghiệp, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao mức sống dân c.
Tuy nhiên, khi đánh giá tiêu thức này cần căn cứ vào từng trờng hợp cụ thể
trong từng thời kỳ chứ không thể có một tiêu chuẩn chung cho tất cả các trờng
hợp. Chẳng hạn các dự án cải tạo, nâng cấp trang thiết bị, đổi mới công nghệ

NH chú trọng đến cho vay trung dài hạn, tuy nhiên cũng có thể là hậu quả của
công tác thu nợ không đợc tốt. Nói chung các ngân hàng đều mong muốn có
tỷ lệ này cao do tín dụng trung và dài hạn là hoạt động mang lại thu nhập cao
hơn so với tín dụng ngắn hạn. Tuy nhiên, do đặc tính rủi ro cao của các khoản
tín dụng trung và dài hạn nên thông thờng các ngân hàng sẽ căn cứ vào đặc
điểm riêng của nguồn vốn, khả năng quản lý, trình độ chuyên môn của mình
để xác định tỷ lệ này cho phù hợp.
Chỉ tiêu thứ hai phản ánh tơng quan so sánh về quy mô cho vay trung dài
hạn so với tổng tài sản, đồng thời cho phép đánh giá tính hợp lý trong cơ cấu
sử dụng vốn của NH. Nếu tỷ lệ này cao chứng tỏ các khoản cho vay trungdài
hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản. Điều này là tích cực nếu NH có
nguồn vốn trung dài hạn dồi dào và việc quản lý đợc thực hiện tốt và đảm bảo
an toàn. Ngợc lại, nếu tỷ lệ này cao trong khi ngân hàng không có đợc tiềm
lực vốn trung dài hạn dồi dào và khả năng quản lý tốt thì có nghĩa là ngân
hàng đang ở vào tình thế nguy hiểm có thể dẫn đến mất khả năng thanh toán
bất c lúc nào. Thông thờng các ngân hàng thờng thích phân tán rủi ro bằng
cách đa dạng hoá các tài sản sinh lời hơn là tập trung vào một loại tài sản có
khả năng sinh lời cao nhng nguy cơ rủi ro cũng rất lón nh vậy.
Chỉ tiêu về cân đối vốn: D nợ cho vay trung dài hạn.
Tổng nguồn vốn trung dài hạn-
các khoản đầu t trung dài hạn- giá trị
TSCĐ.
Chỉ tiêu này cho phép đánh giá khả năng về nguồn vốn NH để đáp ứng nhu
cầu tín dụng trung dài hạn. Hầu hết các NH thờng sử dụng vốn này tài trợ cho
ba loại tài sản: TSCĐ, cho vay trung dài hạn, đầu t trung dài hạn. Nh vậy nếu
14
tỷ lệ trên càng gần 1 thì hầu hết các khoản cho vay trung dài hạn của NH đợc
tài trợ bởi nguồn vốn trung dài hạn, điều này đảm bảo cho NH một cơ cấu vốn
tối u xét về mặt phòng ngừa rủi ro. Tuy nhiên, do đặc điểm của các nguồn vốn
ngắn hạn của ngân hàng có sự gối đầu nhất định nên ngân hàng có thể tận

đợc nợ. Trong trờng hợp này khách hàng sẽ phải chịu lãi xuất nợ quá hạn cao
hơn nhiều so với lãi suất đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, mặc dù vậy
có thể thấy rõ chẳng ngân hàng nào muốn sẽ phải nhận khoản lãi cao này khi
15
cho vay. Nợ quá hạn là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giá
chất lợng TDNH, nó phản ánh những rủi ro mà ngân hàng đang phải đối mặt.
Ngoài ra để đánh giá một cách kỹ hơn ngời ta thờng chia nợ quá hạn ra thành
các loại: nợ quá hạn có khả năng thu hồi, nợ quá hạn khó đòi và nợ quá hạn
không có khả năng thu hồi. Căn cứ để phân chia các loại nợ quá hạn chủ yếu
dựa vào các tiêu thức nh: thời hạn gia hạn nợ, nguyên nhân gây ra nợ quá hạn,
uy tín của doanh nghiệp vay vốn. Các chỉ tiêu để đánh giá tình hình nợ quá
hạn bao gồm:
(1)Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng d nợ: DN tín dụngTDH quá hạn.

DN tín dụng TDH.
(2)Tỷ lệ nợ quá khó đòi hạn trên tổng d nợ:
DN quá hạn khó đòi của TDTDH.
DN tín dụng TDH.
(3)Tỷ lệ nợ quá hạn không có khả năng thu hồi trên tổng d nợ
DN quá hạn TDH không có khả năng thu hồi.
DN tín dụng TDH.
Chỉ tiêu(1) phản ánh khái quát về tình hình nợ quá hạn của NH trong cho
vay trung dài hạn. Rõ ràng là các ngân hàng đều mong muốn hạ tỷ lệ này
xuống càng thấp càng tốt, bởi lẽ tỷ lệ này cao cho thấy ngân hàng đang gặp
nhiều rủi ro. Tuy nhiên trong thực tế do những rủi ro trong kinh doanh là
không thể tránh khỏi nên các ngân hàng thờng chấp nhận một tỷ lệ nợ quá hạn
nhất định đợc coi là an toàn.Tỷ lệ này theo ý kiến của một số chuyên gia ở
mức dới 3% là có thể chấp nhận đợc. Tuy nhiên chỉ tiêu này không phải là căn
cứ đáng tin cậy để đánh giá mức độ rủi ro mà NH đang đối mặt.Chẳng hạn có
những dự án vay vốn hoạt động rất hiệu quả nhng do việc định kỳ hạn trả nợ

là một trong những nhân tố tạo nên chất lợng tín dụng cao của ngân hàng.
Chỉ tiêu thứ hai cho phép đánh giá mức độ đóng góp của hoạt động tín
dụng trung dài hạn vào toàn bộ kết quả kinh doanh của NH. Tỷ lệ này cao
chứng tỏ lợi nhuận của NH có đợc hầu hết là từ hoạt động cho vay trung dài
hạn. Điều đó chỉ có thể có đợc khi quy mô cho vay trung dài hạn của ngân
hàng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản của ngân hàng đồng thời hiệu quả
do hoạt động này mang lại cũng cao. Nói cách khác chất lợng tín dụng trung
dài hạn của ngân hàng là khả quan.Tuy nhiên điều này cũng đồng nghĩa với
việc NH chấp nhận đối mặt với những nguy cơ rủi ro tiềm tàng. Vì vậy hoạt
động này cần đợc quản lý khoa học và chặt chẽ.
Về phía doanh nghiệp:
Các chỉ tiêu đợc sử dụng để đánh giá chất lợng của khoản tín dụng xét theo
quan điểm doanh nghiệp bao gồm:
17
Mức tăng năng suất lao động nhờ thực hiện dự án.
Doanh thu tăng từ dự án.
Lợi nhuận tăng từ dự án.
Các chỉ tiêu này càng cao càng tốt, nó cho thấy hiệu quả sử dụng vốn vay
của doanh nghiệp đạt mức cao. Đó là tiền đề để doanh nghiệp thực hiện đúng
cam kết trả nợ cho NH đồng thời bản thân doanh nghiệp có lợi nhuận, đóng
góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế.
Tóm lại, chất lợng tín dụng ngân hàng nói chung và chất lợng tín dụng
trung dài hạn nói riêng là một khái niệm tổng hợp vừa mang tính trừu tợng vùa
mang tính cụ thể. Nó đợc biểu hiện thông qua nhiều chỉ tieu liên quan đến
nhiều chủ thể( ngân hàng, doanh nghiệp, nền kinh tế). Các chỉ tiêu đó có thể
là chỉ tiêu định lợng hay chỉ tiêu định tính và có mối quan hệ phụ thuộc lẫn
nhau, có thể bổ sung cho nhau nhng cũng có thể mâu thuẫn nhau. Do đó để
đánh giá một cách tơng đối chính xác chất lợng tín dụng trung dài hạn của
một ngân hàng thì cần phải đánh giá toàn bộ những chỉ tiêu đó trong một hệ
thống trên cả quan điểm của ngân hàng, doanh nghiệp và nền kinh tế. Đồng

Ngoài ra, một ngân hàng có nguồn vốn trung dài hạn dồi dào cũng dễ dàng
hơn trong việc tạo lập uy tín đối với khách hàng, nhờ đó thu hút đợc nhiều
khách hàng hơn
*Năng lực của NH trong việc thẩm định dự án, thẩm định khách hàng:
Một trong những tiêu chí đánh giá chất lợng tín dụng của ngân hàng là vốn
và lãi phải đợc trả đúng kỳ hạn. Điều này sẽ không thể có đợc nếu nh việc
thực hiện dự án không đạt hiệu quả nh mong muốn, hoặc doanh nghiệp không
có thiện chí, cố tình lừa đảo ngân hàng. Để hạn chế nguy cơ đó ngân hàng cần
thực hiện tốt công tác thẩm định dự án, thẩm định khách hàng. Thông thờng
công tác thẩm định khách hàng đợc tiến hành trớc, chủ yếu xem xét các mặt:
khả năng tài chính; khả năng điều hành quản lý kinh doanh, năng lực sản xuất
kinh doanh, mức độ tín nhiệm. Nếu ngân hàng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu do
ngân hàng đặt ra thì dự án đầu t sẽ tiếp tục xem xét để quyết định có cho vay
hay không. Vấn đề đặt ra ở đây là thủ tục và điều kiện, tiêu chuẩn đợc sử dụng
làm căn cứ để đánh giá khách hàng và dự án đầu t có hợp lý hay không. Nếu
thủ tục rờm rà, cac điều kiện, tiêu chuẩn đặt ra quá khắt khe, không phù hợp
với thực tế sẽ làm nản lòng các doanh nghiệp hoặc có rất ít các doanh nghiệp
thoả mãn đợc yêu cầu của ngân hàng. Điều đó gây cản trở cho ngân hàng
trong việc thu hút khách hàng, mở rộng tín dụng. Ngợc lại, nếu quy trình, điều
kiện đặt ra không chặt chẽ có thể sẽ khiến ngân hàng sai lầm trong quyết định
cho vay, dẫn đến rủi ro tín dụng. Chính vì vậy trong việc ra quyết định cho vay
dẫn rủi ro. Vì vậy trong quá trình hoạt động các ngân hàng phải chú ý không
ngừng cải tiến, hoàn thiện công tác thẩm định của mình. Làm đợc nh vậy sẽ
giúp ngân hàng lựa chọn đợc chính xác khách hàng tin cậy, những dự án thực
sự khả thi và đó là tiền đề để nâng cao chất lợng tín dụng của ngân hàng.
*Năng lực giám sát và xử lý các tình huống tín dụng của NH.
Cho dù công tác thẩm định dự án, thẩm định khách hàng đợc tiến hành tốt,
giúp cho ngân hàng lựa chọn đợc những khách hàng tốt, những dự án khả thi
có khả năng sinh lời cao. Song đó cha phải là sự bảo đảm chắc chắn để có đợc
chất lợng tín dụng cao, đặc biệt là đối với tín dụng trung và dài hạn. Bởi lẽ

biện pháp bảo đảm tiền vay; quy trình quản lý tín dụng; lãi suất có tác dụng
trực tiếp hay gián tiếp đến chất lợng tín dụng ngân hàng.Nếu chính sách tín
dụng đợc xây dựng và thực hiện một cách khoa học và chặt chẽ, kết hợp đợc
hài hoà lợi ích của ngân hàng, khách hàng và của xã hội thì sẽ hứa hẹn một
chất lợng tín dụng tốt. Còn ngợc lại, nếu việc xây dựng và thực hiện chính
sách tín dụng không hợp lý, không khoa học thì chắc chắn chất lợng tín dụng
nói chung và chất lợng tín dụng trung dài hạn nói riêng của ngân hàng sẽ
không cao, thậm chí là rất thấp.
Thông tin tín dụng:
Thông tin tín dụng luôn là yếu tố cơ bản cần thiết cho công tác quản lý dù
ở bất kỳ lĩnh vực nào. Trong hoạt động tín dụng ngân hàng cũng vậy, để thẩm
định dự án, thẩm định khách hàng trớc tiên phải có thông tin về khách hàng
20
đó, về dự án đó,để làm tốt công tác giám sát sau khi cho vay cũng cần thông
tin. Thông tin càng chính xác, kịp thời càng thuận lợi cho ngân hàng trong
việc đa ra quyết định cho vay, theo dõi việc sử dụng vốn vay và tiến độ trả nợ.
Thông tin chính xác, kịp thời, đầy dủ còn giúp cho ngân hàng xây dựng hoặc
điều chỉnh kế hoạch kinh doanh, chính sách tín dụng một cách linh hoạt cho
phù hợp với tình hình thực tế. Tất cả những điều đó góp phần nâng cao chất l-
ợng tín dụng cho ngân hàng.
*Công nghệ NH, trang thiết bị kỹ thuật: cũng là một nhân tố tác động đến
chất lợng tín dụng trung dài hạn của ngân hàng, nhất là trong thời đại khoa
học kỹ thuật phát triển nh vũ bão hiện nay. Một ngân hàng sử dụng công nghệ
hiện đại, đợc trang bị các phơng tiện kỹ thuật chất lợng cao sẽ tạo điều kiện
đơn giản hoá các thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch, đem lại sự tiện lợi tối
đa cho khách hàng vay vốn.Đó là điều kiện tiền đề để ngân hàng thu hút thêm
khách hàng, mở rộng tín dụng. Sự hỗ trợ của các phơng tiện kỹ thuật hiện đại
còn giúp cho việc thu thập thông tin nhanh chóng, chính xác, công tác lập kế
hoạch, xây dựng chính sách tín dụng cũng có hiệu quả hơn.
*Chất lợng nhân sự và quản lý nhân sự của NH:

cũng vậy. Do số lợng doanh nghiệp có quan hệ với ngân hàng là có hạn và có
những lúc nhu cầu đầu t của các doanh nghiệp này không cao, chẳng hạn
trong giai đoạn hoạt động kinh doanh gặp khó khăn các doanh nghiệp thờng
có xu hớng thu hẹp sản xuất. Trong trờng hợp đó nhu cầu vốn trung dài hạn
cảu các doanh nghiệp sẽ không cao và do đó ngân hàng sẽ gặp khó khăn khi
muốn mở rộng tín dụng.
*Khả năng của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các điều kiện, tiêu
chuẩn tín dụng của NH:
Để đảm bảo an toàn, tránh rủi ro khi cho vay, các NHTM thờng đặt ra các
điều kiện, tiêu chuẩn tín dụng nhằm phân loại, chọn ra những khách hàng có
thể cho vay hay không thể cho vay. Chỉ những khách hàng nào đáp ứng đủ yêu
cầu của ngân hàng mới đợc xem xét cho vay. Những điều kiện, tiêu chuẩn này
có thể khác nhau tuỳ theo từng ngân hàng cụ thể, song nhìn chung các ngân
hàng thờng quan tâm đến một số vấn đề sau: tính hợp lý, hợp pháp của mục
đích sử dụng vốn; năng lực tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp; tính khả thi của dự án; các biện pháp bảo đảm.
Rõ ràng khả năng của doanh nghiệp trong việc đáp ứng các điều kiện, tiêu
chuẩn tín dụng sẽ ảnh hởng trực tiếp tới chất lợng tín dụng của ngân hàng. Bởi
nếu đa số các khách hàng không thể đáp ứng các yêu cầu của ngân hàng, có
thể do điều kiện đặt ra quá khắt khe, không thực tế hoặc do khả năng của các
doanh nghiệp quá thấp, thì ngân hàng không thể mở rộng cho vay trong khi
vẫn bảo đảm an toàn tín dụng.
*Khả năng của doanh nghiệp trong việc quản lý và sử dụng khoản vay có
hiệu quả:
Khi cho vay thì ngân hàng trông đợi khoản trả nợ sẽ đợc lấy từ chính kết
quả hoạt động của dự án chứ không phải bằng cách phát mại tài sản thế chấp,
cầm cố. Điều này lại phụ thuộc vào hiệu quả quản lý và sử dụng vốn vay của
doanh nghiệp. Có nhiều yếu tố để bảo đảm cho việc sử dụng vốn vay của
doanh nghiệp đạt hiệu quả cao, trong đó có một số nhân tố giữ vai trò quyết
định nh: vị thế, năng lc thị trờng của doanh nghiệp; năng lực công nghệ; chất

tiếp trong quan hệ tín dụng với ngân hàng nh cố tình sử dụng vốn sai mục
đích, tìm cách lừa đảo ngân hàng, hoặc cũng có thể là các hành vi gián tiếp
ảnh hởng tới chất lợng TDNH nh kinh doanhtrái pháp luật, lừa đảo chiếm
dụng vốn lẫn nhau. Tất cả các hành vi đó đều có thể mang lại sự rủi ro cho
ngân hàng.
c.Nhóm nhân tố thuộc môi trờng:
*Môi trờng tự nhiên:
Nói chung môi trờng tự nhiên không tác dụng trực tiếp tới hoạt động tín
dụng của ngân hàng mà vai trò của nó thể hiện qua sự tác động đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp mà hoạt đọng
23
của chúng phụ thuộc vào môi trờng tự nhiên nh các doanh nghiệp hoạt động
trong các nghành nông nghiệp, ng nghiệp. Điều kiện tự nhiên diễn biến thuận
lợi hay bất lợi sẽ ảnh hởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
do đó ảnh hởng tới khả năng trả nợ cho ngân hàng.
* Môi trờng kinh tế:
Là một tế bào trong nền kinh tế, sự tồn tại và phát triển của ngân hàng cũng
nh doanh nghiệp chịu ảnh hởng rất nhiều của môi trờng này. Sự biến động của
nền kinh tế tốt hay xấu sẽ làm cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng và
doanh nghiệp biến động theo chiều hớng tơng tự. Đạc biệt, trong điều kiện
quóc tế hoá mạnh mẽ nh hiện nay, hoạt động của các ngân hàng và doanh
nghiệp khong chỉ chịu ảnh hởng của môi trờng kinh tế trong nớc mà cả môi tr-
ờng kinh tế quốc tế. Những tác động do môi trờng kinh tế gây ra có thể là trực
tiếp với ngân hàng ( Ví dụ: những rủi do thay đổi tỷ giá, lãi xuất, lạm phát làm
cho ngân hàng bị thiệt về thu nhập ) hoặc tác động xấu đến hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp, qua đó gián tiếp ảnh hởng tới chất lợng TDNH.
* Môi trờng chính trị, xã hội:
Sự ổn định của môi trờng chính trị, xã hội là một căn cứ quan trong để ra
quyết định của nhà đầu t. Nếu môi trờng này ổn định thì các nhà đầu t sẽ yên
tâm thực hiện việc mở rộng đầu t vàdo đó nhu cầu vốn TDNH trung và dài hạn

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển:
Ngày 6/5/1951 Ngân hàng quốc gia VN ra đời với t cách là ngân hàng
trung ơng của VN với hai nhiệm vụ chính là quản lý nền kinh tế và kinh
doanh, 1-1960 Ngân hàng quốc gia VN đợc đổi tên là NHNNVN và hoạt động
theo mô hình NH 1 cấp. Đến 1988 hệ thống NH đợc phân thành 2 cấp theo
NĐ53/HĐBT. 1/7/1988 NHCTVN ra đời với t cách là ngân hàng chuyên
doanh. Sau đó NHCTVN đã chính thức trở thành NHTM theo pháp lệnh số 38
tháng 5/1990. Từ 1990 NHCTVN hoạt động theo pháp lệnh nhà NH, HTX tín
dụng và công ty tài chính, luật các tổ chức tín dụng.
NHCTHBT ra đời trên cơ sở là chi nhánh của NHCT thành phố HN.
1/4/1993 do việc giải thể NHCT thành phố thì NHCT II-HBT là 1 chi nhánh
25

Trích đoạn Nângcao hiệu quả công tác thẩm định dự án, thẩm định khách hàng.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status