LUẬN VĂN:
Tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn đối với phát triển kinh tế - xã
hội ở Đại Lộc, Quảng Nam mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Qua 20 năm đổi mới, sự phát triển KT-XH đất nước ta đạt được những thành tựu
rực rỡ, kinh tế luôn đạt mức tăng trưởng cao, năm sau cao hơn năm trước và phát triển
tương đối toàn diện; vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá nhanh; cơ cấu kinh tế cả nước tiếp tục
chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng CN và DV; nông nghiệp, nông thôn được xác
định là mục tiêu trọng tâm trước mắt và đã đạt được một số kết quả bước đầu. Tuy nhiên,
đi kèm với những thành tựu đó là những yếu kém, hạn chế như: Tăng trưởng kinh tế chưa
tương xứng với khả năng; cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm; “khoảng cách về thu
nhập, mức sống giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các vùng có xu hướng doãng ra” [6,
tr.63] và đang đặt ra hàng loạt vấn đề cần giải quyết, trong đó “đẩy mạnh công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông
thôn và nông dân” [6, tr.68] là vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách.
Nhìn chung các huyện ở nước ta hiện nay, nông nghiệp vẫn chiếm phần chủ yếu
trong cơ cấu kinh tế. CN, DV tuy đã có những bước đi tạo nên những chuyển biến tích
cực, nhưng so với yêu cầu phát triển chung vẫn còn rất xa. Trong khi đó, các công cụ đòn
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Về hoạt động tín dụng, vai trò của tín dụng cho phát triển KT-XH đã có nhiều công
trình, bài viết được công bố và đăng tải. Tiêu biểu như:
- Đổi mới hoạt động tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp nhằm phát triển nông nghiệp,
nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Luận văn Thạc sỹ Kinh tế (Chuyên ngành Quản
lý kinh tế), Võ Văn Lâm, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 1999.
- Tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn nhằm phát triển ngành
nông nghiệp tại tỉnh Thanh Hoá. Luận văn Thạc sỹ kinh tế (Chuyên ngành Kinh tế phát
triển), Đặng Ngọc Ba, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004.
- Giải pháp tín dụng ngân hàng góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn
trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Luận văn Thạc sỹ Kinh tế (Chuyên ngành Kinh tế tài chính – ngân
hàng), Phan Xuân Sinh, Học viện Ngân hàng, 2006.
- Đẩy mạnh tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. PGS-TS
Đỗ Tất Ngọc, Tạp chí Tài chính tiền tệ ( Số 1), 4.2005
Tuy nhiên, những công trình, tác phẩm đó được tiếp cận từ nhiều giác độ và mục
đích khác nhau: đổi mới tín dụng để phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá; tín dụng cho
kinh tế nông nghiệp nông thôn; tín dụng cho phát triển làng nghề; tín dụng với kinh tế tư
nhân v.v Nhưng vấn đề tín dụng của NHNo&PTNT đối với phát triển KT-XH trên địa
bàn huyện Đại Lộc thì chưa có công trình nào nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Làm rõ vị trí, vai trò tín dụng của NHNo&PTNT đối với phát triển KT-XH trên địa
bàn huyện. Đánh giá đúng đắn thực trạng quan hệ tín dụng giữa NHNo&PTNT với các chủ
thể trên địa bàn để đề xuất các giải pháp tín dụng thúc đẩy phát triển KT-XH ở huyện Đại
Lộc.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ về mặt lý luận vai trò tín dụng của NHNo&PTNT đối với phát triển KT-
XH trên địa bàn huyện.
- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT đối với phát
ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
đối với phát triển kinh tế - xã hội ở huyện
1.1. Tín dụng trên địa bàn huyện
1.1.1. Khái niệm và bản chất tín dụng
Tín dụng có nguồn gốc từ thuật ngữ la tinh “Credittum”, có nghĩa gốc là sự tin
tưởng, tín nhiệm, theo nghĩa thông thường được hiểu là tin tưởng và sử dụng. Trong KTCT
học, tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hoá, là hình thức vận động của vốn vay, nó
biểu thị mối quan hệ dựa trên nền tảng của lòng tin giữa một bên là sở hữu tài sản và một
bên là có nhu cầu sử dụng tài sản đó.
Theo Giáo trình Kinh tế học chính trị Mác - Lênin, “Tín dụng phản ánh quan hệ kinh tế
giữa chủ thể sở hữu và các chủ thể sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế trên nguyên
tắc hoàn trả có kỳ hạn cả gốc lẫn lợi tức” [9, tr.594].
Như vậy, về bản chất, tín dụng bao gồm các nội dung sau:
- Nhượng quyền sử dụng tài sản (bằng tiền hay tài sản có giá trị bằng tiền) chứ
không nhượng quyền sở hữu tài sản.
- Phải hoàn trả theo thời hạn nhất định.
- Phải trả cả lợi tức (lãi).
C.Mác viết: “Tín dụng là hình thức xã hội của của cải” [17, tr.327]. Quan hệ tín
dụng là một bộ phận của quan hệ sản xuất xã hội, do đó nó lệ thuộc vào bản chất cuả xã
hội.
Dưới chế độ phong kiến, quan hệ giữa người cho vay với người đi vay phổ biến là
cho vay nặng lãi. Lợi tức cho vay là rất cao, người cho vay thu toàn bộ sản phẩm thặng dư
và có khi còn lấy vào phần sản phẩm tất yếu của người đi vay. Tư bản cho vay nặng lãi
dựa trên quan hệ người cho vay bắt bí, bắt chẹt người đi vay, nhất là những người sản xuất
nhỏ mỗi khi xảy ra thiên tai địch hoạ.
Trong nền sản xuất TBCN, tín dụng là hình thức vận động của tư bản cho vay, đảm
bảo lợi ích của người đi vay, lợi tức chỉ là một bộ phận của lợi nhuận bình quân mà người
đi vay đem trả cho người cho vay, nhằm mục đích phân phối lại tư bản, đưa tư bản nhàn
Sự tồn tại của hình thức tín dụng cho vay nặng lãi là do nhu cầu sản xuất và tiêu dùng;
gia đình gặp thiên tai địch hoạ hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh.
Hình thức cho vay gồm cả tiền, hiện vật, dịch vụ, việc trả nợ cũng có thể là tiền,
hiện vật, dịch vụ.
Tác hại của tín dụng nặng lãi đã được C.Mác đánh giá:
Nó không làm cho phương thức sản xuất thay đổi, nhưng bám chặt các vòi
của nó vào phương thức sản xuất này như giống ký sinh trùng và làm cho nền
sản xuất trở nên bần cùng. Nó làm cho sản xuất trở nên khánh kiệt, rút hết sức
lực của nền sản xuất và khiến cho việc tái sản xuất phải tiến hành trong những
điều kiện ngày càng thảm hại [17, tr.357].
- Tín dụng thương mại:
Tín dụng thương mại là việc cung cấp hàng hoá, dịch vụ của một bên cho bên còn
lại, theo cách không trả tiền ngay mà được chịu nợ với kỳ hạn và lợi tức nhất định. Tín
dụng thương mại có mặt ở tất cả các quy mô lớn nhỏ của quan hệ mua bán, từ những hợp
đồng mua bán lớn giữa các doanh nghiệp với nhau, đến các hợp đồng cung ứng hàng hoá, dịch
vụ phục vụ cho tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình. Từ lý do đó, tín dụng thương mại là hình
thức tín dụng phổ biến và không thể thiếu trên mọi địa bàn trong nền kinh tế thị trường.
Tín dụng thương mại có đặc điểm:
Số vốn tiền tệ cho vay là giá trị hàng hoá bán được, tính thêm cả lãi suất của người
sản xuất, kinh doanh, thực hiện trong quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hoá.
Giá trị hàng hoá cho vay là một bộ phận trong vốn lưu động của người vay;
Quan hệ tín dụng thương mại dựa trên cơ sở của sự tín nhiệm giữa các nhà sản xuất
kinh doanh với nhau, giữa các nhà sản xuất và người tiêu dùng.
Hình thức thực hiện tín dụng thương mại là giấy biên nhận cam kết nghĩa vụ trả nợ
của bên mua cho bên bán theo kỳ hạn cụ thể. Những giấy biên nhận đó được gọi là hối
phiếu thương mại hay thương phiếu.
- Tín dụng ngân hàng:
Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng được thực hiện thông qua vai trò trung
tâm của ngân hàng. Đây là hình thức tín dụng rất quan trọng trên địa bàn huyện, đáp ứng
cây trồng, con vật nuôi. Do vậy, công tác thẩm định để đầu tư đòi hỏi quy trình kỹ thuật
phức tạp, áp dụng riêng cho từng loại đối tượng vay vốn. Chi phí thẩm định vì thế mà có
thể rất cao.
Ba là, ý thức chấp hành kỷ cương pháp luật, trình độ sản xuất kinh doanh và năng
lực hạch toán kinh tế của người vay trong quan hệ tín dụng trên địa bàn huyện là thấp.
Phần lớn chủ thể vay vốn trong quan hệ tín dụng trên địa bàn huyện chủ yếu là
nông dân, đầu tư vào lĩnh vực chính là nông nghiệp, nông thôn. Trình độ hạch toán kinh tế
của người vay, ý thức chấp hành kỷ cương pháp luật nói chung là thấp. Người vay vốn
không ý thức được đầy đủ việc chấp hành các quy trình tín dụng, kỷ cương pháp luật, thiếu
khả năng hạch toán kinh tế và trình độ kỹ thuật để có thể tự xây dựng được những dự án
đầu tư hiệu quả, chỉ làm theo kinh nghiệm là chính. Từ đó ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả
và rũi ro tín dụng.
Bốn là, tín dụng của NHNo&PTNT trên địa bàn huyện có tính đảm bảo bằng tài
sản thấp, chủ yếu dựa trên chữ tín.
Do tín dụng của NHNo&PTNT trên địa bàn huyện có tính rũi ro cao nên muốn đảm
bảo tính an toàn các chi nhánh NHNo&PTNT đều phải lấy thế chấp tài sản làm điều kiện
quyết định để cho vay. Tuy nhiên, điều nghịch lý là tài sản thế chấp ở nông thôn thì thường
có giá trị thấp, khó thanh lý khi quan hệ tín dụng bị phá vỡ. Từ lý do đó, thực chất quan hệ
tín dụng trên địa bàn huyện đều phải chủ yếu dựa trên chữ tín để quyết định cho vay.
Trong nhiều trường hợp có tài sản làm đảm bảo nhưng đó cũng chỉ là điều kiện chủ thể
cho vay ràng buộc người vay tôn trọng hợp đồng, tìm nguồn khác trả nợ khi việc làm ăn
thất bại, chứ không phải với mục đích thanh lý tài sản thế chấp để thu nợ. Thực tế cho thấy
tỷ lệ thanh lý, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi vốn vay thành công đạt được là rất thấp.
Đây là một tính chất rất đặc thù của các hình thức tín dụng trên địa bàn huyện hiện nay.
- Tín dụng nhà nước:
Tín dụng nhà nước là quan hệ vay mượn có hoàn trả vốn và lãi theo thời hạn nhất
định, giữa nhà nước với các tổ chức kinh tế, với các tầng lớp dân cư, với nước ngoài
Trong hình thức này, nhà nước là người đi vay bằng cách phát hành công trái, trái
phiếu có mục đích, tín phiếu kho bạc nhằm bổ sung vào khoản ngân sách bị thiếu hụt,
đủ lớn mạnh và phát triển mới có thể nắm giữ được vai trò chủ đạo, chủ lực trong quan hệ
tín dụng của toàn bộ nền kinh tế.
Quan hệ hợp tác và cạnh tranh của các hình thức tín dụng trên địa bàn huyện thể
hiện như sau:
Đó là sự bổ sung, tạo điều kiện cho nhau để cùng tồn tại và phát triển, phát huy đến
mức cao nhất vai trò tích cực của tín dụng đối với sự phát triển KT-XH. Đây là mối quan
hệ được nhà nước khuyến khích phát triển. Tại Điều 16, khoản 1, Luật các tổ chức tín dụng
quy định :“Các tổ chức hoạt động ngân hàng được hợp tác và cạnh tranh hợp pháp” [15,
tr.102], trong đó quan hệ hợp tác chỉ có thể xảy ra đối với các hình thức tín dụng hợp pháp mà
thôi. Riêng sự tồn tại của tín dụng nặng lãi không được luật pháp và xã hội thừa nhận, song
thực tế nó vẫn lén lút tồn tại, bất chấp pháp luật và tác hại cũng rất khó lường.
Đồng thời với quan hệ hợp tác là sự cạnh tranh giữa các hình thức tín dụng để giành
thị phần, với mục đích cuối cùng là lợi nhuận cho đơn vị mình. Theo đó, sự cạnh tranh chỉ
xảy ra với các TCTD có cùng chung địa bàn hoạt động, cùng chung nhóm đối tượng khách
hàng. Tuy nhiên, trên địa bàn huyện hiện nay sự cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng diễn
ra không phải lúc nào cũng chỉ với các tổ chức tín dụng có mặt trên địa bàn, mà có thể xảy
ra cả với các TCTD ngoài địa bàn, khi quy định về địa bàn hoạt động của các tổ chức tín
dụng hiện nay còn có nhiều điểm khác biệt. Đơn cử là, đối với NHNo&PTNT thì địa bàn
được phân định rõ, chi nhánh NHNo&PTNT chỉ cho vay các đối tượng khách hàng trên
địa bàn của mình mà không có quyền tự ý cho vay đối với các khách hàng ngoài địa bàn,
kể cả khách hàng nới khác đến đặt cơ sở SXKD trên địa bàn. Trong khi đó các NHTMCP,
chi nhánh ngân hàng vốn nước ngoài thì không phải bị ràng buộc bởi “quy chế địa bàn”…
Quan hệ hợp tác và cạnh tranh của các hình thức tín dụng được biểu hiện ở các
mặt sau:
- Quan hệ giữa tín dụng ngân hàng với tín dụng tập thể:
Trong điều kiện ngân hàng chưa thiết lập được quan hệ với khắp các hộ thì sự hiện
hữu và phát triển của tín dụng tập thể là hết sức cần thiết, vừa ngăn ngừa sự tồn tại và tác
hại của tín dụng nặng lãi, vừa có vai trò động lực kích thích sản xuất, kinh doanh và các
nhu cầu đời sống, đặc biệt là trên địa bàn nông thôn. Tín dụng tập thể là cầu nối giữa ngân
Về phân vùng phục vụ: Đối tượng của tín dụng NHCSXH như đã phân tích trên,
thuộc về các đối tượng chính sách xã hội, người nghèo, sinh viên, học sinh Còn đối
tượng của NHNo&PTNT là các đối tượng còn lại.
Tuy nhiên, việc phân định nói trên, đôi lúc, đôi nơi vẫn còn tình trạng không rõ
ràng, dẫn đến việc cho vay trùng lắp, chồng chéo. Khi đó, nếu không có sự hợp tác chặt
chẽ giữa các tổ chức tín dụng trên địa bàn về thông tin khách hàng thì rũi ro là khó tránh
khỏi.
Về tạo nguồn: Theo Thông tư 04/2003/TT-NHNN, ngày 24/2/2003 của Thống đốc
NHNN về việc “hướng dẫn các tổ chức tín dụng nhà nước duy trì tiền gửi tại NHCSXH”
quy định các ngân hàng thương mại nhà nước đều phải duy trì số dư tiền gửi tại NHCSXH
để loại hình ngân hàng đặc biệt này đảm bảo duy trì hoạt động an toàn. Ngược lại, các
phòng Giao dịch NHCSXH lại là một đầu mối mở tài khoản tại chi nhánh NHNo&PTNT
trên địa bàn, góp phần tạo nguồn vốn để NHNo&PTNT cho vay.
Cạnh tranh hợp pháp trong phạm vi nội bộ tín dụng ngân hàng trên địa bàn huyện
hiện nay thể hiện ở các mặt: Thương hiệu, lãi suất, tiện ích và sản phẩm dịch vụ, thái độ
phục vụ, văn hoá doanh nghiệp, chính sách khách hàng v.v , được pháp luật nhà nước đảm
bảo và chỉ khi đó cạnh tranh mới có những tác động tích cực đến sự phát triển KT-XH.
Hoạt động cạnh tranh giữa các tổ chức tín dụng càng gay gắt thì khách hàng là người được
hưởng lợi. Điều đó có thể có lợi nhất thời cho các chủ thể kinh tế liên quan mà đôi khi gây
khó khăn cho các tổ chức tín dụng tham gia thị trường, làm hạn chế vai trò đối với sự phát
triển KT-XH trên địa bàn. Do vậy, để đảm bảo sự phát triển hài hoà, các tổ chức tín dụng
cần phải xử lý tốt mối quan hệ giữa sự hợp tác và cạnh tranh hợp pháp.
Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay ở nước ta quan hệ
cạnh tranh giữa các hình thức tín dụng là tất yếu và được Nhà nước đảm bảo tính lành
mạnh và hợp pháp, nhằm tránh việc cạnh tranh có thể “gây tổn hại đến việc thực hiện
chính sách tiền tệ quốc gia, an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng và lợi ích hợp pháp giữa
các bên” [15, tr.102].
Theo Luật các tổ chức tín dụng 2004, hành vi cạnh tranh bất hợp pháp bao gồm:
Khuyến mại bất hợp pháp, thông tin sai sự thật làm tổn hại lợi ích của tổ chức tín dụng
NHNo&PTNT trên địa bàn huyện luôn có bộ máy tổ chức màng lưới rộng khắp,
ngoài các chi nhánh cấp 2, còn có các chi nhánh cấp 3, phòng Giao dịch, các tổ cho vay
lưu động… Sự phát triển về số lượng và chất lượng hoạt động của tổ chức mạng lưới đã
giúp cho quan hệ của các chủ thể và ngân hàng được mở rộng và ngày càng được nâng
cao.
NHNo&PTNT luôn luôn dẫn đầu về thị phần tín dụng và tiền gửi ở khu vực nông
nghiệp nông thôn. Vào thời điểm 31/12/2005 có đến 9,4 triệu hộ có dư nợ vay vốn
NHNo&PTNT tương ứng với 93 ngàn tỷ đồng, chiếm 75% tổng số hộ nông dân trong toàn
quốc, tiền gửi dân cư tại NHNo&PTNT là 78.243 tỷ đồng [31, tr.10]. Bằng cách đó,
NHNo&PTNT đã trở thành lực lượng chính để giải quyết tận gốc nạn cho vay nặng lãi ở
khu vực nông thôn.
1.2.1.2. Giải phóng các nguồn lực, khai thác tốt các tiềm năng, tạo công ăn việc
làm
Nước ta là nước đang phát triển, tiềm năng về đất đai, tài nguyên, lao động là rất
lớn. Để xây dựng đất nước theo hướng CNH, HĐH đòi hỏi phải phát huy mạnh mẽ các
nguồn lực, tiềm năng thế mạnh sẵn có, bằng các chính sách hợp lý. Trong đó, tín dụng của
NHNo&PTNT phải được xem là công cụ đòn bẩy thích hợp, góp phần động viên các
nguồn lực vào sản xuất.
Từ đồng vốn tín dụng của NHNo&PTNT đã tác động vào việc khai thác các nguồn
lực tài nguyên thiên nhiên, đất đai, thổ nhưỡng, lao động để tạo nên những sản phẩm hàng
hoá, mang lại lợi ích thiết thực cho người sản xuất kinh doanh và người lao động địa
phương.
Mặt khác, trên địa bàn huyện ở nước ta với lực lượng lao động dồi dào, hàng năm
có từ 5 - 6 triệu người không có đủ việc làm dưới nhiều hình thái khác nhau, đã tạo nên
một áp lực rất lớn về việc làm. Giải quyết vấn đề đó hoàn toàn không đơn giản, nhất thiết
phải vận dụng nhiều con đường, nhiều giải pháp đồng bộ thì mới mang lại hiệu quả. Trong
số các giải pháp đó, việc vận dụng công cụ tín dụng ngân hàng, cụ thể là tín dụng của
NHNo&PTNT mang lại những hiệu quả thiết thực.
1.2.1.3. Thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung ruộng đất, đẩy nhanh phát triển
án xây dựng kết cấu hạ tầng, các dự án sử dụng nhiều lao động, ứng dụng được các công
nghệ tiên tiến, tác động tích cực vào quá trình CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, đưa
sánh sáng của các thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào đời sống kinh tế, văn hoá, xã
hội ở địa phương.
Các đường dẫn đưa vốn tín dụng NHNo&PTNT cho phát triển nông nghiệp, nông
thôn là thông qua quan hệ tín dụng của: Các chủ đầu tư, chủ dự án với các chi nhánh
NHNo&PTNT để thi công các công trình cải tạo, nâng cấp hoặc làm mới về đường sá, cầu
cống, trường học, các công trình thuỷ lợi, giao thông nông thôn, lưới điện, các cơ sở công
cộng; Các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, hộ gia đình vay vốn thực hiện các dự án phát
triển làng nghề truyền thống, chế biến nông sản có dây chuyền sản xuất, trang thiết bị và
công nghệ hiện đại; Các dự án phát triển kinh tế trang trại quy mô lớn, sử dụng nhiều lao
động, có cơ sở nghiên cứu ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất v.v
1.2.1.5. Nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, tăng cường hạch toán kinh tế
Thực tiễn chứng minh đại bộ phận các chủ thể kinh tế trên địa bàn huyện hiện nay
đều có quan hệ tín dụng với NHNo&PTNT. Vốn tín dụng ngân hàng là vốn có thời hạn,
hoàn trả cả gốc và lãi, điều đó đòi hỏi các chủ thể vay vốn NHNo&PTNT phải tính toán
cân nhắc sử dụng đồng vốn mang lại hiệu quả cao nhất để vừa hoàn vốn cả gốc và lãi cho
ngân hàng, vừa mang lại lợi nhuận cho mình. Từ đó, cùng với quy luật cạnh tranh trong
nền kinh tế thị trường đòi hỏi tất cả các chủ thể phải biết tính toán, hạch toán, tiết kiệm chi
phí, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, tăng cường sức mạnh cạnh tranh, hạ giá thành
sản phẩm. Kết quả tất yếu là năng lực SXKD, khả năng hạch toán kinh tế của các chủ thể
kinh tế trên địa bàn huyện ngày càng được nâng cao.
Mặt khác, NHNo&PTNT không chỉ đầu tư trực tiếp bằng nguồn vốn tự có mà
còn là trung gian tài chính, làm cầu nối, huy động các nguồn tiền vốn nhàn rỗi chưa sử
dụng trên địa bàn (hoặc thông qua hoạt động điều tiết nguồn vốn huy động từ nới thừa
sang nơi thiếu của NHNo&PTNT Việt Nam) để cho vay thực hiện các nhu cầu sản
xuất, kinh doanh và đời sống trên địa bàn huyện.
1.2.1.6. Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá
Một là, phải có cơ chế chính sách tín dụng phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế
từng thời kỳ.
Tín dụng ngân hàng luôn luôn là một công cụ đắc lực phục vụ cho chính sách tiền
tệ quốc gia. Chính sách tín dụng của NHNo&PTNT trên địa bàn huyện phải phụ thuộc vào
cơ chế chính sách sử dụng công cụ tín dụng của Nhà nước và Chính quyền địa phương sở
tại. Hay nói cách khác, mục tiêu định hướng của chính sách tín dụng chịu sự điều tiết của
mục tiêu định hướng phát triển KT-XH của nhà nước và của địa phương sở tại.
Một trong những chính sách và giải pháp lớn để thực hiện mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010 do Đại hội Đảng toàn quốc Lần thứ X đề ra là: “thực hiện
các nguyên tắc của thị trường, hình thành đồng bộ các loại thị trường và thể chế kinh tế thị
trường định hướng XHCN” [6, tr.187].
Giải pháp thuộc chính sách tiền tệ tín dụng là phải “ổn định giá trị đồng tiền, kiểm
soát lạm phát, góp phần tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an ninh hệ thống các ngân hàng và
tổ chức tín dụng”. Và để “đảm bảo an ninh hệ thống các ngân hàng và tổ chức tín dụng”,
Văn kiện Đại hội Đảng X tiếp tục chỉ rõ “Nâng cao chất lượng tín dụng, khả năng sinh lời,
xử lý nhanh nợ đọng, giảm tỷ lệ nợ xấu xuống mức an toàn; tăng vốn tự có của ngân hàng
thương mại đạt chuẩn mực quốc tế. Tạo điều kiện thuận lợi cho dân cư và doanh nghiệp
tiếp cận với các sản phẩm và tiện ích ngân hàng”. “Xây dựng các ngân hàng thương mại
nhà nước lớn mạnh về mọi mặt, đủ sức làm nòng cốt trong hệ thống ngân hàng thương mại
trong cơ chế thị trường”, đảm bảo cho sự cạnh tranh lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng
[6, tr.249].
Ngoài ra còn có các điều kiện khác, như sự đảm bảo về an ninh, quốc phòng, trật tự
an toàn xã hội, dư luận xã hội, khả năng phòng chống thiên tai, dịch bệnh của chính quyền
và nhân dân, môi trường về giáo dục, y tế v.v…
Chính sách vĩ mô của Nhà nước về tín dụng cụ thể hoá đường lối của Đảng, tạo ra
những điều kiện, môi trường pháp lý để đổi mới, cơ cấu lại hoạt động ngân hàng theo
hướng hiện đại và hội nhập. Quyết định Số 67/1999/QĐ-TTg, ngày 30/3/1999 của Thủ tướng
Chính phủ “về một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông
thôn” là một văn bản điển hình, cụ thể hoá các chính sách tín dụng nói trên, nhằm đẩy mạnh
sự phát triển KT-XH khu vực nông nghiệp nông thôn, thông qua công cụ đòn bẩy tín dụng.
đông đảo các tâng lớp dân cư, các thành phần kinh tế, các tổ chức, cá nhân trên địa bàn.
Do đó, nếu kỷ cương pháp luật không được giữ vững, tình trạng trốn nợ, chối nợ trong
quan hệ tín dụng xảy ra tràn lan thì hiện tượng xấu của dây chuyền tâm lý rất dễ bùng phát,
khi đó tác hại của nó đối với KT-XH rất khó lường.
Để giữ vững kỷ cương pháp luật trên địa bàn huyện nhất thiết phải có bộ máy hành
pháp đủ mạnh để đẩy mạnh các hoạt động giám sát và thực thi pháp luật, tăng cường công
tác giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành luật pháp của người dân.
Do đó, cần phải nâng cao năng lực công tác của các cơ quan bảo vệ pháp luật như viện
kiểm sát, toà án, an ninh, hải quan đồng thời đẩy mạnh hoạt động giám sát của các tổ
chức mặt trận, đoàn thể.
Ba là, nhu cầu phát triển kinh tế và trình độ văn hoá kinh doanh trên địa bàn
huyện.
Nhu cầu phát triển kinh tế của từng hộ, từng cơ sở kinh doanh là điều kiện cần để
mở rộng phạm vi và tăng qui mô khối lượng tín dụng của NHNo&PTNT trên địa bàn
huyện. Nhu cầu phát triển kinh tế càng cao thì đòi hỏi tín dụng của NHNo&PTNT phải
phát triển tương ứng cả về quy mô và chất lượng thì mới có thể đáp ứng được yêu cầu. Khi
đó, sự “phát triển tương ứng” trở thành sự đảm bảo cho tín dụng của NHNo&PTNT phát
huy tốt vai trò của mình đối với KT-XH địa phương.
Trình độ văn hoá kinh doanh của các chủ thể kinh tế thể hiện khả năng dự báo, nắm
bắt tình hình giá cả thị trường để tính toán được các yếu tố chi phí đầu vào, xác định hiệu
quả kinh doanh cho từng mặt hàng. Từ đó, quyết định mở rộng quy mô SXKD hoặc
chuyển sang kinh doanh mặt hàng khác. Ngoài ra, văn hoá kinh doanh còn thể hiện ở trình
độ hiểu biết và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh, năng lực xây dựng
và điều hành kế hoạch, dự án SXKD, hạch toán kinh tế, trình độ am hiểu pháp luật, am
hiểu về ngân hàng và đặc biệt là ý thức giữ gìn chữ tín trong quan hệ tín dụng với
NHNo&PTNT.
Trình độ văn hoá kinh doanh của các chủ thể kinh tế có quan hệ tín dụng với
NHNo&PTNT sẽ tác động một cách trực tiếp vào quá trình thực hiện các hợp đồng tín
dụng đã ký kết. Chỉ khi các hợp đồng tín dụng được thực hiện nghiêm túc thì vai trò tích
ra” cho tín dụng. Theo quy chế an toàn bắt buộc, nguồn vốn huy động là tiêu chí quy định
cho tổng mức tín dụng của chi nhánh NHNo&PTNT. Do vậy, nguồn vốn và khả năng huy
động nguồn vốn của NHNo&PTNT càng mạnh, thì khả năng cấp tín dụng của chi nhánh
NHNo&PTNT trên địa bàn, phục vụ cho các yêu cầu phát triển KT-XH trên địa bàn càng
cao.
- Các loại hình dịch vụ của ngân hàng là những sản phẩm tiện ích đi kèm với hoạt
động tín dụng, bổ trợ cho các quan hệ tín dụng của ngân hàng với khách hàng.
Trong xu thế hội nhập, các loại hình dịch vụ ngân hàng luôn có xu hướng phát triển
mạnh mẽ và trở thành thước đo cho “đẳng cấp” của hoạt động ngân hàng. Ngân hàng càng
văn minh hiện đại thì các loại hình sản phẩm dịch vụ càng phong phú, đa dạng và doanh
thu của nó cũng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của ngân hàng.
- Hệ thống cơ cấu tổ chức mạng lưới hoạt động của NHNo&PTNT Việt Nam trên
địa bàn huyện hiện nay vừa là điểm mạnh, phẩn bổ đều khắp trên tất cả các địa bàn nông
nghiệp, nông thôn, nhưng cũng vừa bộc lộ những hạn chế về năng lực, chất lượng phục vụ.
Do vậy, củng cố, phát huy tính tích cực của tổ chức mạng lưới, nâng cao năng lực và chất
lượng phục vụ của hệ thống hiện có, mở rộng chân rết tại các khu vực vùng sâu vùng xa,
từng bước xoá xã trắng trong quan hệ tín dụng NHNo&PTNT … là những giải pháp hữu
hiệu tăng cường sức mạnh của NHNo&PTNT, đảm bảo vai trò của tín dụng NHNo&PTNT
đối với sự phát triển toàn diện của KT-XH trên địa bàn huyện hiện nay.
- Năng lực của đội ngũ cán bộ viên chức NHNo&PTNT – yếu tố thuộc về nguồn
nhân lực – quyết định năng lực nội sinh của NHNo&PTNT. Là ngành kinh tế tổng hợp,
NHNo&PTNT có quan hệ với hầu hết các ngành kinh tế, các tầng lớp dân cư, các tổ chức
chính trị xã hội có mặt trên địa bàn, đòi hỏi cán bộ viên chức NHNo&PTNT phải đảm bảo
điều kiện về trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức và khả năng nghiên cứu tiếp cận với
các tri thức hiện đại thì mới có thể đáp ứng được yêu cầu hoạt động và xu hướng phát triển
của KT-XH trên địa bàn.
Năng lực của cán bộ NHNo&PTNT, bao gồm năng lực của bộ máy cán bộ lãnh đạo
và cán bộ tác nghiệp. Năng lực lãnh đạo thể hiện ở khả năng nắm bắt, tổng kết tình hình,
đề ra và tổ chức chỉ đạo thực hiện sách lược, chiến lược phát triển phù hợp với quy luật.
nông thôn với phát triển kinh tế - xã hội ở một số huyện
1.3.1.1. ở một số huyện ngoài Quảng Nam
- Tại huyện Mường La, tỉnh Sơn La:
Đây là huyện có điều kiện tự nhiên, xã hội tương đối điển hình thuộc khu vực miền
núi vùng Tây Bắc, là nơi có công trình thủy điện Sơn La đang xây dựng, với tổng vốn đầu
tư khoảng 37 tỷ đồng, công suất thiết kế khoảng 2.000 MW.
Từ khi có quyết định đầu tư công trình thuỷ điện Sơn La, chi nhánh NHNo&PTNT
huyện đã chủ động khảo sát các nhu cầu tín dụng đối với khoảng hơn 5.000 công nhân
thường xuyên có mặt tại công trình và đã mở rộng các loại hình dịch vụ, thu hút tiền gửi,
phục vụ cho vay tiêu dùng Nhờ thế, chỉ trong năm 2004, lượng tiền gửi khách hàng đã
tăng lên gấp 2,3 lần, đạt 15 tỷ đồng, vốn đầu tư cho hộ sản xuất tăng 1,6 lần, lên đến 19 tỷ
đồng. Chi nhánh NHNo&PTNT huyện không chỉ là bạn đồng hành của nông dân địa
phương mà còn là đối tác của hàng ngàn công nhân thuỷ điện trong việc phục vụ các dịch
vụ tiện ích, huy động vốn [10, tr.50-51-52]
- Tại huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình:
Quảng Trạch là một trong những huyện lớn của tỉnh Quảng Bình, có điều kiện tự
nhiên, đất đai, dân số gần như tương đương với huyện Đại Lộc. Trong tổng số 33 xã có 8
xã miền núi (Đại Lộc có tổng số 17 xã, trong đó 5 xã miền núi), tổng số hộ 45.000 tương
ứng với 193.000 nhân khẩu (Đại Lộc là 37.000 hộ và 160.000 nhân khẩu).
Năm 1999, chi nhánh NHNo&PTNT huyện có tổng nguồn vốn huy động 33,9 tỷ đồng;
tổng dư nợ 32,2 tỷ đồng, nợ xấu 9,5% tổng dư nợ [11, tr.12].
Trong 5 năm (1999-2004), chi nhánh NHNo&PTNT đã vận dụng sáng tạo, bám sát
các chính sách chủ trương của Nhà nước để tháo gở khó khăn trong hoạt động tín dụng và
phát huy mạnh mẽ vai trò của tín dụng NHNo&PTNT đối với phát triển KT-XH huyện.
Đó là Quyết định số 67/CP, của Thủ tướng Chính phủ về ban hành các chính sách tín dụng
phụv vụ nông nghiệp, nông thôn, Nghị quyết liên tịch 2308/NQ giữa Trung ương Hội nông
dân với NHNo&PTNT Việt Nam và Nghị quyết Liên tịch 02/NQ giữa Trung ương Hội
Liên hiệp Phụ nữ với NHNo&PTNT Việt Nam về các biện pháp đưa vốn NHNo&PTNT
đầu tư qua các hội đoàn thể, biến các chủ trương chính sách trở thành hiện thực.