LUẬN VĂN: Tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn với phát triển nông
nghiệp, nông thôn ở huyện Núi Thành,
tỉnh Quảng Nam
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp, hiện có 73% dân số và 56% lao động sinh
sống và làm việc ở nông thôn. Do đó, nông nghiệp, nông thôn và nông dân là những
nguồn lực quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong những
năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông
thôn. Do đó, bộ mặt nông thôn có khởi sắc, kinh tế nông nghiệp, nông thôn được đổi mới,
đời sống nông dân được cải thiện, tình trạng đói nghèo được giảm dần.
phát triển nông nghiệp, nông thôn ở huyện Núi Thành, tỉnh
Quảng Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích: Trên cơ sở hệ thống hoá và phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn
về tín dụng của NHNo&PTNT với phát triển nông nghiệp, nông thôn, từ đó đề xuất các
giải pháp đổi mới hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT nhằm phục vụ phát triển nông
nghiệp, nông thôn ở huyện Núi Thành.
Nhiệm vụ: - Phân tích làm rõ tác động của ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân
hàng trong việc thực hiện huy động vốn, đặc biệt huy động từ nguồn nội lực trong dân cư
để phục vụ công cuộc phát triển nông nghiệp, nông thôn.
- Phân tích tình hình tín dụng, thu hồi nợ vay, rủi ro tín dụng trong hoạt động của
ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn ở huyện Núi Thành trong những năm
qua, tìm ra những hạn chế và nguyên nhân của nó.
- Từ cơ sở phân tích trên, kiến nghị một số giải pháp nhằm đổi mới hoạt động tín
dụng của NHNo&PTNT ở huyện Núi Thành phục vụ việc phát triển nông nghiệp, nông
thôn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Tín dụng của NHNo&PTNT với phát triển nông nghiệp, nông thôn ở huyện Núi
Thành.
Phạm vi nghiên cứu: Về tín dụng của NHNo&PTNT với phát triển nông nghiệp,
nông thôn ở huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam trong khoảng thời gian từ 2001 - 2005.
5. Phương pháp nghiên cứu
ứng dụng các phương pháp cơ bản như: phương pháp luận duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử, phương pháp khái quát hoá, phương pháp so sánh, thống kê và kết hợp
với việc nghiên cứu lý luận, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước, các quy định,
các qui chế của ngân hàng Nhà nước, NHNo&PTNT.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Phân tích "Tín dụng của NHNo&PTNT với phát triển nông nghiệp, nông
để trả về quyền sử dụng tư bản [15, tr.613].
Xét trong quan hệ tài chính nhất định, tuỳ theo từng bối cảnh cụ thể, thuật ngữ tín
dụng cũng hàm chứa và phản ánh những nội dung khác nhau:
- Xét trên góc độ chuyển dịch số tiền cho vay từ chủ thể thặng dư tiết kiệm sang
chủ thể thiếu hụt tiết kiệm thì tín dụng được coi là phương pháp chuyển dịch quỹ từ
người cho vay sang người đi vay.
- Trong mối quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ
sở có hoàn trả giữa hai chủ thể. Chẳng hạn, một công ty thương nghiệp bán hàng trả
chậm cho một công ty khác, trong trường hợp này người bán chuyển giao hàng hoá cho
bên mua và sau một thời gian nhất định theo thỏa thuận bên mua trả tiền cho bên bán.
Phổ biến hơn là hình thức Ngân hàng cấp tiền vay cho bên đi vay và sau một thời gian
nhất định, người đi vay phải thanh toán cả gốc và lãi cho Ngân hàng.
- Tín dụng còn có nghĩa là một số tiền vay mà các định chế tài chính cung cấp cho
khách hàng.
Trong một ngữ cảnh cụ thể, thuật ngữ tín dụng đồng nghĩa với thuật ngữ cho vay.
Ví dụ: Tín dụng ngắn hạn (Short - term credit) đồng nghĩa với cho vay ngắn hạn (Short -
term loans); tín dụng dài hạn (long - term credit) đồng nghĩa với cho vay dài hạn (Long -
term loans).
Tín dụng xét theo nội dung hoạt động của các tổ chức tín dụng có nghĩa khá rộng.
Đó là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín
dụng. Trong đó, cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng
một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả (gồm cả gốc và lãi) bằng các nghiệp vụ cho
vay, chiết khấu cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.
Quá trình phát triển tín dụng thương nghiệp đã mở rộng và ăn sâu sang lĩnh vực
sản xuất làm xuất hiện hình thức tín dụng ngân hàng, nhờ sự phát triển của hệ thống ngân
hàng tín dụng được đẩy nhanh hơn bao giờ hết.
Tín dụng được xem là một trong những chức năng hoạt động cơ bản của ngân
hàng. Với cách tiếp cận này, tín dụng ngân hàng được hiểu như sau:
Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (Ngân
như hợp đồng tín dụng, khuế ước v v thực chất là lệnh phiếu (Promissory note), trong
đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
1.1.2. Chức năng của tín dụng
Trong nền kinh tế hàng hoá, tín dụng thực hiện hai chức năng cơ bản sau:
Thứ nhất, tín dụng có chức năng tập trung và phân phối lại tiền tệ trên cơ sở có
hoàn trả. Đây là hai quá trình thống nhất trong sự vận hành của hệ thống tín dụng. ở đây,
sự có mặt của tín dụng được xem như chiếc cầu nối giữa các nguồn cung - cầu về vốn
tiền tệ trong nền kinh tế.
Thông qua chức năng này, tín dụng tham gia trực tiếp vào việc điều tiết các nguồn
vốn tạm thời thừa đến nơi thiếu. Nói cách khác, ở khâu tập trung, tín dụng là nơi tập hợp
những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội, còn ở khâu phân phối, tín dụng là nơi
đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp, các cá nhân và cho cả ngân sách.
Thứ hai, kiểm soát các hoạt động kinh tế. Chức năng này được phát huy tác dụng
phụ thuộc vào sự phát triển của chức năng nói trên. Cụ thể là, thông qua quá trình tập
trung và phân phối lại vốn, tín dụng góp phần phản ánh mức độ phát triển nền kinh tế về
các mặt như: khối lượng tiền tệ nhàn rỗi trong xã hội, nhu cầu vốn trong từng thời kỳ. Từ
đó giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát về những quan hệ cân đối vốn trong nền kinh tế,
đặc biệt là quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng.
Ngoài ra, trong hoạt động cho vay của ngân hàng, để góp phần đảm bảo an toàn
vốn, đảm bảo cho khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả, ngân hàng
luôn thực hiện quá trình kiểm tra hoạt động kinh doanh của khách hàng, đặc biệt là
kiểm tra tình hình tài chính, qua đó sẽ phát hiện kịp thời những hạn chế, yếu kém
trong hoạt động của khách hàng hoặc những trường hợp vi phạm chế độ quản lý kinh
tế của nhà nước để cảnh báo, nghiêm cấm hoặc có biện pháp xử lý kịp thời. Bên cạnh
đó, trên cơ sở thực hiện nguyên tắc cho vay có hoàn trả, tín dụng ngân hàng còn phản
ánh kịp thời tình hình quản lý và sử dụng vốn của các đơn vị có hiệu quả hay không.
Như vậy, với chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế, tín dụng sẽ
góp phần giải quyết tình trạng mất cân đối cục bộ của nền kinh tế với những giải pháp
khắc phục kịp thời, từ đó phát huy vai trò quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Điều
nghiệp vụ này ngân hàng sẽ đứng ra trả tiền trước cho các hối phiếu hoặc chứng từ có giá
khác chưa đến hạn thanh toán theo yêu cầu của người thụ hưởng (người sở hữu chứng từ)
bằng cách khấu trừ ngay một số tiền nhất định gọi là tiền chiết khấu, tính theo giá trị
chứng từ, thời hạn chiết khấu, lãi suất và các tỉ lệ chiết khấu khác, số còn lại thanh toán
cho người thụ hưởng. Người thụ hưởng muốn nhận được số tiền này thì bắt buộc phải
làm thủ tục chuyển nhượng quyền hưởng lợi cho ngân hàng chiết khấu đối với các chứng
từ xin chiết khấu.
Hình thức chiết khấu chứng từ sẽ giúp cho người sở hữu chứng từ có tiền để đáp
ứng các nhu cầu thanh toán, nhất là khôi phục năng lực thanh toán, duy trì được mối quan
hệ tài chính, nhờ đó mà họ tiến hành sản xuất kinh doanh bình thường. Với nghiệp vụ
chiết khấu qua NHTM làm cho các chứng từ có giá chưa đến hạn thanh toán có thể lưu
thông từ tay người này sang tay người khác, biến các công cụ này từ chỗ các giấy nợ
thương mại trở thành các phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán.
Đối với các NHTM: Chiết khấu là nghiệp vụ tín dụng có đảm bảo bằng các tài sản
có tính thanh khoản cao, vì vậy vừa tạo ra tài sản có sinh lời cho ngân hàng, vừa tạo ra
một lực lượng dự trữ để sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu thanh toán. Khả năng thanh toán
của ngân hàng luôn được đảm bảo vì vậy các ngân hàng thường có xu hướng mở rộng
nghiệp vụ chiết khấu.
- Hình thức cho thuê tài chính:
Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung, dài hạn thông qua việc cho
thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác. Bên cho thuê máy móc, thiết bị và động sản
theo yêu cầu của bên thuê và nắm quyền sở hữu tài sản thuê. Bên đi thuê được sử dụng
tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận và
không được huỷ bỏ hợp đồng trước hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được
chuyển quyền sở hữu mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản theo các điều kiện đã thoả thuận
trong hợp đồng thuê.
Các nguyên tắc cho thuê tài chính:
+ Tài sản cho thuê thuộc sở hữu hợp pháp của công ty cho thuê tài chính, bên thuê
chỉ có quyền sử dụng.
đầu tư phát triển nông nghiệp.
Đó là các khoản tín dụng mà ngân hàng cấp cho nông dân và các doanh nghiệp sản
xuất ngành nông nghiệp nhằm chi phí về nguyên, nhiên liệu, giống cây trồng, vật nuôi,
thức ăn gia súc, phân bón, thuốc trừ sâu, phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, chi phí
ngày công lao động v.v
Tín dụng vào nông nghiệp, nông thôn còn bao gồm các khoản vay trung, dài hạn
để cải tạo đồng ruộng, xây dựng chuồng trại chăn nuôi, trồng cây ăn trái lâu năm, cây
công nghiệp dài ngày, xây dựng kho tàng, cơ sở chế biến, các ngành sản xuất công
nghiệp và dịch vụ, mua sắm máy móc, thiết bị phục vụ phát triển nông nghiệp, nông
thôn. Vì vậy tín dụng giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển nông nghiệp,
nông thôn. Cụ thể:
- Tín dụng góp phần hình thành thị trường tiền tệ ở nông thôn và giữ vai trò
trung gian thu hút vốn, tài trợ vốn cho sản xuất nông nghiệp:
Vấn đề tăng trưởng và phát triển kinh tế là yêu cầu cần thiết, nó đòi hỏi vốn đầu tư
làm động lực, thúc đẩy thị trường vốn ra đời và phát triển. Trong nông nghiệp, khi nghiên
cứu địa tô tư bản chủ nghĩa, Các Mác đã chỉ rõ vai trò của tư bản (vốn) như sau: " do
những quy luật tự nhiên chi phối trong nông nghiệp, nên khi việc canh tác đã đạt đến trình độ
nhất định và khi đất đã bị kiệt màu đi một cách tương ứng, thì tư bản sẽ trở thành một yếu
tố quyết định" [15, tr.333].
Như vậy, theo C.Mác, cùng với đất đai và lao động, vốn trở thành một yếu tố
quyết định đối với mọi nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá.
ở nước ta nông thôn đang là thị trường rộng lớn, với dân số chiếm khoảng 73%,
gồm hơn 12 triệu hộ nông dân. Trong khi đó, chủ trương của Đảng và Nhà nước là công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Từ đó mà nảy sinh nhu cầu vốn để
nâng cao năng lực sản xuất. Nhu cầu đó trở thành cầu nối giữa tiết kiệm - tích luỹ - đầu tư
cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nông dân và các doanh nghiệp do nhu cầu
sản xuất, kinh doanh đòi hỏi phải có vốn đầu tư. Điều đó đặt ra cho ngân hàng phải thực
hiện đầu tư tài chính thông qua thị trường vốn nhằm huy động các khoản tiền nhàn rỗi để
cho nông dân vay.
các vùng kinh tế nông nghiệp trọng điểm, chuyên môn hoá và tập trung hoá sản xuất với
trình độ công nghệ cao, với khoa học kỹ thuật hiện đại và hiệu quả nhất. Qua đó hình
thành các vùng chuyên canh như: vùng cây lương thực, vùng cây nguyên liệu, vùng trái
cây chất lượng cao, vùng rau an toàn; hình thành các trung tâm đánh bắt và chế biến thủy
sản, các vùng chăn nuôi tập trung tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm hàng hoá có giá trị.
Ngoài ra đầu tư vào phát triển nông nghiệp, nông thôn như trên nó sẽ làm thay đổi
cơ cấu lao động giữa nông nghiệp và công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, một bộ phận
nông dân từ chỗ không biết hoặc chưa biết sản xuất hàng hoá từng bước thích nghi với cơ
chế thị trường để đạt được việc sử dụng vật tư - lao động - tiền vốn một cách có hiệu quả
hơn nhằm thoát được đói, giảm được nghèo trở nên trung bình, từ trung bình thành giàu
có. Từ đó thể hiện được vị trí tín dụng NHNo&PTNT góp phần vào việc thúc đẩy quá
trình tích tụ, tập trung vốn, tập trung sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp.
Tín dụng cũng sẽ thúc đẩy sản xuất theo mô hình trang trại - một hình thức tổ chức
kinh doanh phù hợp với kinh tế hàng hoá trong nông nghiệp. Tín dụng còn theo các
chương trình dự án phát triển cây, con, các vùng chuyên canh, phục hồi các làng nghề
truyền thống từ đó tạo ra lượng hàng hoá tiêu dùng và xuất khẩu đa dạng, có hiệu quả
hơn.
- Tín dụng giữ vai trò trung gian điều tiết giữa sản xuất nông nghiệp với các
ngành sản xuất khác.
Tất cả các ngành sản xuất đều được tiến hành theo những cung đoạn nhất định,
những thời gian và chu kỳ cụ thể. Trong chu kỳ sản xuất đó, có lúc nhu cầu vốn tăng lên
rất cao, có lúc lại giảm xuống. Điều này đòi hỏi có một sự điều tiết kịp thời giúp các nhà
sản xuất giải toả phần vốn thừa và cung cấp phần vốn thiếu. Giữa sản xuất nông nghiệp
với các ngành sản xuất khác cũng có nhu cầu điều tiết vốn, chính điều này đã nối kết sản
xuất nông nghiệp với các ngành sản xuất khác một chặt chẽ hơn.
Công nghiệp và dịch vụ là những ngành sản xuất tiêu thụ sản phẩm của nông
nghiệp dưới dạng nguyên liệu sản xuất. Nếu sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn thì sản
xuất công nghiệp và dịch vụ cũng khó khăn theo.
Do tính mùa vụ của sản xuất nông nghiệp, nên tín dụng nông nghiệp cũng có
Trong những năm qua, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đã cho
vay phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn như: Khai thác, đánh bắt, chế biến hải sản,
cho vay xây dựng ao hồ và cho vay phục vụ nuôi tôm nước lợ tại địa bàn với hơn ngàn
tàu và cả ngàn ha mặt nước nuôi, cho vay sản xuất đậu, mì, lúa và phát triển gia súc,
gia cầm đối với các hộ sản xuất. Ngoài ra còn cho vay trồng rừng, phát triển mô hình
trang trại, mở rộng qui mô sản xuất theo hướng chuyên canh, cho vay các nhà doanh
nghiệp ở nông thôn, thu hút nhiều lao động nông nghiệp có kỹ năng sản xuất công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tạo sự chuyển biến trong cơ cấu giữa nông nghiệp với
công nghiệp.
ở những mức độ khách nhau, tín dụng cũng tham gia vào việc huy động vốn, gia
tăng vốn đầu tư cho khoa học để vừa có đủ vốn nhập khẩu, những công nghệ cao từ nước
ngoài khi trong nước chưa nghiên cứu được, vừa có vốn để nghiên cứu, triển khai những
công nghệ mới do các nhà khoa học trong nước tạo ra nhằm thúc đẩy tiến bộ khoa học
công nghệ mới vào sản xuất, đặc biệt về giống cây trồng, vật nuôi, bảo vệ thực vật, bảo
quản và chế biến, góp phần đẩy mạnh quá trình CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn.
- Tín dụng góp phần xây dựng sơ cở hạ tầng nông thôn:
Cơ sở hạ tầng ở nông thôn nước ta còn rất hạn chế về điện, đường, trường, trạm
v.v Những năm gần đây đã được Nhà nước và nhân dân tích cực chú trọng đầu tư nhiều
hơn. Cơ sở hạ tầng là một trong những thành tố quan trọng tác động rất lớn vào quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Vì nó làm thay đổi bộ mặt nông
thôn, đưa nhanh các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, tiếp cận với thị trường trong
và ngoài nước, làm giảm sự chênh lệch về phát triển giữa thành thị và nông thôn, gắn
nông thôn với thành thị.
Trong điều kiện ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp, kế hoạch đầu tư vào cơ sở hạ
tầng ở nông thôn còn ít, thì nguồn vốn đầu tư tín dụng, trên góc độ trực tiếp và gián tiếp
đã tham gia một cách tích cực vào đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn,
tạo điều kiện phối kết hợp với vốn tự lực trong dân, với vốn ngân sách theo phương châm
nhà nước và nhân dân cùng làm, đã làm cho hệ thống giao thông, thuỷ lợi, điện, nước
sinh hoạt được xây dựng và phát triển ngày càng tốt hơn.
kinh doanh, dịch vụ, đời sống đối với nông nghiệp, nông thôn.
- Mở rộng và nâng cao chất lượng trong hoạt động tín dụng:
Từ sau khi Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 53 ( tháng 3 năm 1998) và
tiếp theo là pháp lệnh ngân hàng, luật ngân hàng và luật các tổ chức tín dụng.
NHNo&PTNT và PTNT Việt Nam đã đóng góp đáng kễ vào sự ổn định tiền tệ và phát
triển kinh tế thông qua việc mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng.
Tuy nhiên hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT trong nền kinh tế thị trường
không thoát khỏi những thiếu sót như đầu tư chưa tập trung mạnh vào các ngành
kinh tế trọng điểm; còn chạy theo xu thế số lượng dự án đã hình thành, chưa chủ
động tư vấn cho những dự án mới, tỉ trọng tín dụng trung và dài hạn còn thấp, tỉ lệ
nợ quá hạn thể hiện qua số liệu còn thấp nhưng thực chất nợ xấu, nợ có khả năng
đầu tư kém hiệu quả chưa bộc lộ hết.
Vì vậy muốn nâng cao chất lượng tín dụng chúng ta cần phải:
+ Từng bước nâng cao năng lực, trình độ, kiến thức về quản trị điều hành của cán
bộ trên cơ sở cơ cấu lại bộ máy hoạt động:
Đây là một đòi hỏi xuất phát từ thực tiễn, mang tính cấp bách đối với
NHNo&PTNT trước nền kinh tế phát triển và hội nhập, nếu muốn tồn tại và phát triển
trong quan hệ cạnh tranh gay gắt với các NHTM khác.
Sự phân bố cán bộ giữa các bộ phận nghiệp vụ, các phòng ban cũng phải cân đối,
nắm bắt và khai thác tối đa về năng lực, sở trường, bố trí lao động hợp lý.
Ngoài ra yêu cầu chung đặt ra đối với NHNo&PTNT và PTNT ở đây là:
* Đối với cán bộ lãnh đạo phải biết đề ra chiến lược phát triển và tổ chức chỉ đạo
hoạt động theo chiến lược, mục tiêu đề ra, hướng phấn đấu là tăng tài sản có và lợi nhuận
cao, phải có biện pháp mở rộng địa bàn hoạt động, đi sâu vào kễ cả các địa bàn xa thị
trấn, thị tứ.
Môi trường kinh doanh ngày càng tự do hoá thì cán bộ lãnh đạo phải luôn đối
phó với các tình hình cạnh tranhvề lãi suất trong huy động, trong cho vay, cạnh tranh
cả về khách hàng và thị phần tín dụng. Phải đổi mới công nghệ thông tin, công nghệ
quản lý,chú trọng đầu tư và thu hút nguồn nhân lực.
thôn:
Từ khi ra đời và hoạt động NHNo&PTNT đã được Đảng và Nhà nước chiếu cố cả
về vốn điều lệ ( gấp đôi các NHTM khác). Ngân hàng phải thực hiện chính sách cho vay
như: xoá đói, giảm nghèo, làm nhà trên cọc, cho vay khắc phục bão, lụt Tuy đến nay
ngân hàng chính sách, ngân hàng nhà đã ra đời, gánh vác chức năng xã hội lớn cho Nhà
nước, nhưng trong nội tại của ngành NHNo&PTNT, cũng như dưới góc độ thiên về xã hội, thì
ngân hàng nông nghiệp cũng chứa đựng một chính sách xã hội không thể không có. Đối tượng
cho vay của ngân hàng hầu hết hộ nông dân, với thiên tai, dịch bệnh, những rủi ro khác bất khả
kháng, mà thực tế đã xảy ra như: Cơn bão số 2 năm 1999, bão Chan chu năm 2006, bão số 6 năm
2006, dịch cúm ga cầm v.v dẫn đến mất mát con người, tài sản, kéo theo
hàng tỉ đồng vốn tín dụng mà kết quả là NHNo&PTNT phải xử lý rủi ro dưới sự chỉ đạo
của NHNN.
Ngoài ra, NHNo&PTNT còn cho các hộ trên vay vốn để khắc phục, phục hồi tái
sản xuất; giãn nợ, gia hạn nợ, khoanh nợ v.v để khôi phục lại sản xuất, ổn định cuộc
sống từng hộ nói riêng, từ đó góp phần ổn định kinh tế - xã hội. Thông qua đó cũng là
nhằm hổ trợ đắc lực cho chính sách xã hội ở nông thôn.
+ Đổi mới công tác đầu tư, chuyển mạnh sang phương thức cho vay theo chương
trình dự án:
Để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá, nông nghiệp, nông thôn cần
hướng chủ trương đầu tư vốn tín dụng NHNo&PTNT vào cho vay theo chương trình, dự
án đối với các ngành, nghề chủ chốt như: cho vay tàu công suất lớn phục vụ đánh bắt dài
ngày, xa bờ; cho vay qui hoạch vùng nuôi tôm nước lợ theo hướng công nghiệp; cho vay
mở những trang trại chuyên canh, trang trại sản xuất nông nghiệp, kết hợp chăn nuôi tổng
hợp v.v
Dùng một tỉ lệ vốn thích đáng để mở rộng đối tượng đầu tư trung và dài hạn nhằm
đầu tư cho các ngành công nghiệp, dịch vụ, phục vụ trực tiếp cho nông nghiệp, nông
thôn, phát triển làng nghề truyền thống, thuỷ lợi nhỏ, kênh mương nội đồng, giao thông
nông thôn
Tín dụng NHNo&PTNT đầu tư theo chương trình, dự án còn phải đạt được yêu
nhưng mức quản lý dư nợ ngày càng tăng (Bình quân tại cơ sở hơn 10tỷ đồng / cán
bộ) điều này đòi hỏi NHNo&PTNT không ngừng đổi mớiquản lý tín dụng theo yêu
cầu phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả và chất lượng tín dụng, cụ thể qua các công
cụ chủ yếu sau:
* Thực hiện tốt công tác kế hoạch hoá tín dụng:
Các ngân hàng cơ sở phải xây dựng các phương án, đề án thể hiện được nguồn
vốn tăng trưởng, nhu cầu vốn tín dụng và khả năng thu hồi vốn trên cơ sở mang lại hiệu
quả cho công tác tài chính, đảm bảo hài hoà ba lợi ích giữa cán bộ tín dụng trực tiếp làm
công tác chuyên môn, ngành. Đồng thời thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước trên cơ sở
đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, cũng như cho NHN
0
&PTNT Việt Nam phát
triển ổn định và bền vững theo tiến trình chung của quốc gia trong thời kỳ hội nhập.
* áp dụng linh hoạt lãi suất thực dương:
NHNo&PTNT hiện đang thực hiện 2 loại lãi suất (lãi suất điều hành theo thị
trường trên cơ sở lãi suất cơ bản của NHNN và lãi suất làm dịch vụ uỷ thác các chương
trình chỉ định của Chính phủ).
Lãi suất có tác dụng trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng trong việc huy
động vốn để cho vay nhằm mang lại lợi nhuận tối ưu. Nếu lãi suất không được sử dụng
một cách linh hoạt trên từng địa bàn, từng loại khách hàng (Truyền thống, doanh nghiệp
loại A, khách hàng không quan hệ thường xuyên) đặc biệt trong điều kiện hiện nay thì
NHNo&PTNT lại càng đứng trước những khó khăn và thách thức so với NHTM khác để
có thể hạ lãi suất nhằm kích cầu vì mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Thực tế thu nhập NHTM bị cắt giảm rỏ rệt nhất là khi áp dụng luật ngân hàng như
trích lập quỹ dự phòng rủi ro, thuế giá trị gia tăng, giảm 30% lãi suất vùng núi cao, hải
đảo, xử lý nợ quá hạn đòi hỏi NHNo&PTNT phải uyển chuyển, linh hoạt lãi suất cho
vay theo quan hệ cung - cầu đặc biệt là phải hạ lãi suất đầu vào thông qua tiết kiệm tối đa
các chi phí nhằm tạo được khoản cách chênh lệch giữa đầu vào và đầu ra ngày một hạ
để có thể cạnh tranh và tồn tại trước các NHTM khác như NHCT, NHNT, NHĐTPT
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với phát triển nông nghiệp, nông thôn ở
huyện Núi Thành
Trong lịch sử của mình, tín dụng ngân hàng đã trải qua một quá trình phát triển lâu
dài, từ phạm vi nhỏ đến phạm vi lớn. Nhìn chung, tín dụng ngân hàng tồn tại và phát triển
phụ thuộc vào các điều kiện sau:
1) Trình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân.
2) Cơ chế quản lý và mô hình quản lý kinh tế.
3) Môi trường pháp lý.
4) Môi trường kinh tế - xã hội.
5) Chính sách và công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
6) Trình độ khoa học và công nghệ.
7) Trình độ đội ngũ viên chức ngân hàng
ở huyện Núi Thành, tác động của tín dụng NHNo&PTNT đối với nông nghiệp,
nông thôn chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố chủ yếu sau:
1.2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Núi Thành
Núi Thành là huyện ven biển nằm về phía nam của tỉnh Quảng Nam. Đựơc thành
lập năm 1983, tách từ huyện lỵ Tam Kỳ thành hai địa giới hành chính huyện. Toạ độ địa
lý 15
0
33 - 15
0
36 B, 108
0
34 - 108
0
37 Đ. Diện tích tự nhiên 523,94km
2
, dân số hiện nay
khoảng 145.000 khẩu, với hơn 33.800 hộ, và gần 70.000 lao động. Địa hình chia làm 3
vùng tương đối rõ rệt.
tướng Chính phủ đã có 3 nhà máy chế biến thuỷ, hải sản được xây dựng và đi vào sản
xuất.
Với hơn 2.000ha đất bằng và 6.600ha đất đồi nuí chưa được khai thác sử dụng ở
vùng ven biển và trung du tạo nên một tìêm năng phát triển lâm nghiệp phong phú và đa
dạng. Đồng thời, các vùng này còn có nguồn nguyên liệu phi kim loại như: đá, cát thuỷ
tinh với trữ lượng lớn là điều kiện để phát triển công nghiệp và vật liệu xây dựng.
Cùng với lâm nghiệp, nông nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu, thu hút hơn 70% lao
động, đóng góp hơn 60% GDP. Quĩ đất nông nghiệp của huyện khoảng 13.000ha, trong
đó hơn 2/3 là đất sản xuất lúa.
Chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện không phát triển mạnh nhưng khá
ổn định, với tổng đàn gia súc (trong đó chủ yếu là trâu, bò) khoảng 70.000 con, đàn gia
cầm khoảng 350.000 con, kể từ sau bệnh cúm gia cầm, sự phát triển chậm lại, ở mức ổn
định là chính.
Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn, trước khi có chủ
trương thành lập khu kinh tế mở Chu Lai, gồm chủ yếu: các ngành mây tre, chế biến
thuỷ, hải sản và sản xuất khai thác cát, đá, sỏi giá trị sản xuất khoảng 300 tỷ đồng mỗi
năm
Từ khi có quyết định của Thủ tướng về thành lập Khu kinh tế mở Chu Lai tháng
6/2003 đến nay đã mở ra một số cơ sở như: Nhà máy ô tô Trường Hải, Nhà máy chế biến
thức ăn gia súc, chế biến thuỷ, hải sản, các đơn vị kinh doanh dịch vụ và du lịch v.v tác
động vào nhiều mặt đối với sản xuất nông nghiệp và nông thôn trên địa bàn, tuy vậy việc
phát triển công nghiệp, dịch vụ ở Khu kinh tế mở Chu Lai, với địa bàn trọng tâm là
huyện Núi Thành còn ở mức thấp.
Tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của nông nghiệp, nông thôn
Núi Thành đến hoạt động tín dụng NHNo&PTNT:
Từ những điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội nêu trên, bước đầu thành lập huyện
Núi Thành đã xác định cho mình mô hình kinh tế Nông - Ngư - Lâm, công nghiệp sau đó
là Nông - Ngư - Lâm - công thương nghiệp, thời gian gần đây đặc biệt từ sau năm 2003,
ưu tiên hàng đầu cho cơ cấu công nghiệp - dịch vụ rồi mới đến nông, ngư nghiệp.