LUẬN VĂN:
Một số biện pháp nhằm nâng cao chất
lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP á
Châu Hà Nội
Hoà nhập chung với sự phát triển kinh tế đất nước, hoạt động của ngành ngân hàng
đã có những bước chuyển biến tích cực. Hệ thống ngân hàng một cấp đã được chuyển
thành hệ thống ngân hàng hai cấp, có sự phân biệt rõ chức năng quản lý Nhà nước đối với
hoạt động kinh doanh tín dụng, tiền tệ, cung ứng và điều hoà lưu thông tiền tệ, ổn định giá
trị đồng tiền của Ngân hàng Nhà nước với chức năng kinh doanh tín dụng, tiền tệ, hoạt
động theo nguyên tắc tự chủ của Ngân hàng thương mại.
Trong vài năm gần đây, các Ngân hàng thương mại đã cung cấp tín dụng, góp phần
đáng kể vào tiến trình phát triển nền kinh tế đất nước. Hoạt động tín dụng là hoạt động
sinh lời chủ yếu của ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, nhưng cũng là nơi chứa nhiều
rủi ro nhất, ngay cả đối với những khoản cho vay có tài sản cầm cố, thế chấp, hệ số rủi ro
cũng được xác định là 50% (theo Uỷ ban Bale quốc tế). Vì vậy, vấn đề chất lượng tín dụng
không phải là điều mới mẻ, nhưng là vấn đề được quan tâm hàng đầu của các Ngân hàng
hiện nay. Đây là vấn đề đang được tranh luận, trao đổi và tìm biện pháp hữu hiệu để thực
hiện.
Ngân hàng TMCP á Châu Hà Nội (ACB Hà Nội) cũng không nằm ngoài tình hình
này. Ngân hàng hoạt động trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, nơi nhiều doanh nghiệp lớn đặt
trụ sở, mặc dù mới được thành lập nhưng ngân hàng á Châu Hà Nội đã đạt được nhiều
thành tựu đáng kể trong công tác tín dụng, song bên cạnh đó ngân hàng cũng có nhiều
khoản nợ quá hạn có nguy cơ không thu hồi được đầy đủ.
Trong quá trình làm việc tại Phòng Tín dụng Ngân hàng á Châu Hà Nội, Tôi đã nhận
thức được vấn đề chất lượng tín dụng có ý nghĩa thiết thực cho sự tồn tại và phát triển của
Ngân hàng. Do đó, Tôi đã quyết định đi sâu tìm hiểu nghiên cứu chất lượng công tác tín
dụng. Trên cơ sở đó và các vấn đề bức xúc đang đặt ra đối với ngân hàng, Tôi xin trình
bày trong “Luận văn tốt nghiệp” của mình vấn đề: “Một số biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP á Châu Hà Nội”.
Đề tài gồm ngoài Lời nói đầu và Kết luận gồm 3 phần chính:
Chương 1: Ngân hàng thương mại và hoạt động tín dụng đối với sự phát triển kinh tế.
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng TMCP á Châu Hà Nội
- Sử dụng các khoản tiền gửi đó để cho vay các cá nhân, tổ chức, chiết khấu, cho thuê tài
chính, bảo lãnh ngân hàng và cung ứng các dịch vụ thanh toán
Từ năm 1989 trở về trước, khi Hệ thống ngân hàng tại Việt Nam là hệ thống ngân
hàng một cấp, lúc đó trên toàn lãnh thổ Việt Nam chỉ có Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam
(NHNN) và các chi nhánh của nó hoạt động. Khi đó NHNNVN vừa đóng vai trò của Ngân
hàng Trung ương vừa đóng vai trò của Ngân hàng thương mại. NHNN vừa là cơ quan
quản lý nhà nước về các hoạt động ngân hàng, quản lý tiền tệ ; vừa trực tiếp kinh doanh
tiền tệ như ngân hàng thương mại: hoạt động tín dụng, thanh toán
Tháng 5/1990 Hội đồng Nhà nước đã thông qua và công bố hai Pháp lệnh: Pháp
lệnh Ngân hàng nhà nước và Pháp lệnh ngân hàng, HTX tín dụng và công ty tài chính,
hiệu lực thi hành bắt đầu từ tháng 10 năm 1990. Định hướng cơ bản của các Pháp lệnh
ngân hàng là tách bạch hai chức năng: Chức năng quản lý nhà nước và chức năng kinh
doanh trong ngành ngân hàng. NHNN là ngân hàng trung ương, có chức năng quản lý nhà
nước đối với hệ thống ngân hàng; còn chức năng kinh doanh tiền tệ - tín dụng thuộc về các
ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng. Từ đó:
- Tạo lập một hệ thống NHTM và Tổ chức tín dụng được phép kinh doanh tiền tệ - tín
dụng và dịch vụ ngân hàng trong khuôn khổ của pháp luật Nhà nước.
- Đa dạng hoá các loại hình: Ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và phát triển, công
ty tài chính, hợp tác xã tín dụng.
- Đa dạng hoá về sở hữu: NHTM quốc doanh, NHTM cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
- Tăng cường tính độc lập tự chủ trong kinh doanh tiền tệ - tín dụng.
- Từng bước tạo lập môi trường, điều kiện nhằm bảo vệ người gửi tiền, người cho vay,
người vay tiền để sản xuất kinh doanh , từ đó làm cho hoạt động của hệ thống ngân
hàng được an toàn, tránh rủi ro.
Với định hướng trên, trong những năm qua, hệ thống ngân hàng cấp II - cấp kinh
doanh: ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác, đã được thành lập và phát
mua hàng hoá, dịch vụ và thực hiện các khoản chi khác. Đây không phải là tiền để dành
mà là bộ phận tiền đang chờ thanh toán, vì vậy khách hàng có thể rút tiền ra hoặc sử dụng
thanh toán bất cứ lúc nào theo yêu cầu. Tiền gửi thanh toán thường được bảo quản tại ngân
hàng trên hai loại tài khoản:
+ Tài khoản séc: Tài khoản này có số dư có, khách hàng chỉ được sử dụng trong phạm
vi tiền gửi của mình.
+ Tài khoản vãng lai: Tài khoản này lúc có số dư nợ, lúc có số dư có. Số dư có thể hiện
tiền gửi của khách hàng và số dư nợ thể hiện khoản tín dụng mà
ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng.
- Tiền gửi có kỳ hạn
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi được uỷ thác vào ngân hàng trên cơ sở có sự thoả
thuận thời gian rút tiền giữa ngân hàng và khách hàng. Như vậy, theo nguyên tắc, khách
hàng chỉ được rút tiền ra khi đã đến hạn thoả thuận, tuy nhiên, trong quá trình cạnh tranh
ngân hàng vẫn cho phép khách hàng rút tiền trước thời hạn nhưng không được hưởng lãi
suất hoặc hưởng lãi suất thấp.
Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn tín dụng mang tính chất ổn định, vì vậy các ngân
hàng thường chú trọng các biện pháp kích thích để huy động loại tiền gửi này. Có các loại
tiền gửi: ngắn hạn (dưới 12 tháng), trung hạn (1 - 5 năm), dài hạn (trên 5 năm). Mỗi kỳ
hạn có một lãi suất tương ứng, với nguyên tắc thời hạn gửi càng dài thì lãi suất càng cao.
- Tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền nhàn rỗi, để dành của cá nhân, tổ chức được gửi
vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi theo định kỳ. Có hai loại tiền gửi là tiền gửi tiết
kiệm có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
- Các hình thức huy động khác
Ngoài huy động dưới hình thức tiền gửi, NHTM còn phát hành chứng chỉ tiền gửi
và trái phiếu. Chứng chỉ tiền gửi là loại phiếu nợ ngắn hạn (dưới 12 tháng), trái phiếu là
loại phiếu nợ trung và dài hạn.
Song nó cũng chính là nghiệp vụ mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Tài sản có của ngân hàng bao gồm 4 khoản mục chính:
- Các khoản mục về ngân quỹ.
- Tín dụng.
- Đầu tư (chứng khoán).
- Tài sản có khác.
Nghiệp vụ tài sản có của ngân hàng nhằm quản lý tốt tài sản có để đem lại lợi
nhuận cao nhất, đồng thời rủi ro thấp nhất về phía ngân hàng.
2.1. Các khoản mục ngân quỹ, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHNN, tiền gửi
tại ngân hàng khác, các khoản ngân quỹ trong quá trình thu nhận.
2.2. Tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của ngân hàng. Trong các khoản mục
thuộc tài sản có, nghiệp vụ tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất, có thể lên đến 70 - 80% tổng
tài sản có của ngân hàng.
2.3. Đầu tư, bao gồm: mua trái phiếu, tín phiếu của Chính Phủ hoặc của các doanh
nghiệp khác. Đầu tư trực tiếp bằng cách mua cổ phiếu của các công ty
2.4 Tài sản có khác, bao gồm: tài sản cố định của ngân hàng, các trang thiết bị khác.
Tín dụng đóng vai trò quan trọng nhất đồng thời cũng rủi ro nhất của ngân hàng.
Trong phần sau Tôi xin trình bày rõ hơn về nghiệp vụ này.
3. Nghiệp vụ trung gian (thanh toán)
Có hai hình thức thanh toán: dùng tiền mặt và không dùng tiền mặt (chi trả qua tài
khoản ở ngân hàng, nghĩa là ngân hàng căn cứ vào các chứng từ để chuyển tiền từ tài
khoản của doanh nghiệp này sang tài khoản của doanh nghiệp khác). Trong đó bao gồm
các hình thức thanh toán sau:
3.1. Thanh toán bằng séc
Séc nghĩa là lệnh chi tiền. Có nhiều cách phân loại séc, thông thường, người ta phân
chia theo tiêu thức người phát hành, có hai loại:
- Séc của ngân hàng đối với ngân hàng.
4. Mối quan hệ giữa các nghiệp vụ ngân hàng
Các nghiệp vụ của ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó nghiệp
vụ tài sản nợ (huy động vốn) quyết định quy mô và phạm vi hoạt động của ngân hàng.
Nghiệp vụ tài sản có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng
và nó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở nghiệp vụ tài sản nợ. Nghiệp vụ trung gian sẽ
tạo điều kiện cho việc mở rộng và phát triển các nghiệp vụ tài sản nợ và có. Nói cách khác,
nghiệp vụ trung gian là nghiệp vụ tiền đề, là điều kiện để duy trì và phát triển các nghiệp
vụ khác.
Tuy nhiên, trong các nghiệp vụ của ngân hàng, đặc biệt là đối với các ngân hàng
Việt Nam thì nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của ngân hàng. Vì thế nó
đóng vai trò quyết định đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, là hoạt động
mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Ngoài ra, ngân hàng còn tiến hành cung cấp các dịch vụ khác để tăng lợi nhuận cho
ngân hàng như: dịch vụ bảo quản các giấy tờ có giá, dịch vụ uỷ thác đầu tư, dịch vụ tư
vấn, mối giới cho khách hàng
II. vai trò của tín dụng đối với sự phát triển kinh tế
1. Khái niệm tín dụng
Tín dụng là hoạt động quan trọng nhất của NHTM. Nhìn chung, trong các khoản
mục thuộc tài sản có, nghiệp vụ tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất (có thể lên tới 70% - 80%
tài sản có), đây cũng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu của ngân hàng.
Tín dụng là một khái niệm chỉ những quan hệ kinh tế giữa ngân hàng, các tổ
chức tài chính với các nhà doanh nghiệp và tư nhân. Nói cách khác, nó thể hiện quan
hệ vay mượn có hoàn trả giữa người vay và người cho vay cả vốn và lãi sau một thời
gian nhất định, kèm theo các điều kiện đảm bảo, theo thoả thuận giữa hai bên.
2. Vai trò của tín dụng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp
Trong quá trình vận động, phát triển của nền kinh tế thị trường, xuất hiện rất nhiều
phải chứng tỏ được ưu thế vượt trội về khả năng chiếm lĩnh thị trường và khách hàng nên
các doanh nghiệp càng cần vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của thị
trường.
2.3. Tín dụng ngân hàng là một công cụ để Nhà nước điều tiết kinh tế vĩ mô, góp
phần chống lạm phát, ổn định tiền tệ và giá cả, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho
các doanh nghiệp.
Muốn khai thác tốt nhất lao động tài nguyên, ngành nghề trên phạm vi cả nước
cũng như từng địa phương, từng cơ sở thì phải tiến hành phân công lại lao động, phân bố
lại dân cư, tổ chức lại sản xuất, đổi mới quản lý. Tất cả những việc đó chỉ có thể thực hiện
được với điều kiện là phải có nguồn vốn tương ứng.
Giải quyết vốn cho yêu cầu phát triển kinh tế xã hội ở nước ta hiện nay, có nhiều
nguồn, nhiều kênh. Nhưng do bản chất của tín dụng ngân hàng là vay bảo đảm hoàn trả cả
gốc và lãi cho người cho vay, nên nó có thể huy động được một khối lượng vốn nhàn rỗi
rất lớn.
Ưu thế nổi bật của hoạt động tín dụng ngân hàng là không làm tăng khối lượng tiền
mặt trong lưu thông. Với chức năng đi vay, tín dụng ngân hàng “hút” lượng tiền nhàn rỗi
trong lưu thông. Với chức năng cho vay, tín dụng ngân hàng “đẩy” tiền ra lưu thông khi
tiền trong lưu thông thiếu.
Như vậy, tín dụng ngân hàng góp phần điều hoà lưu thông tiền tệ, làm cho quan hệ
tiền - hàng cân đối. Vì thế, tín dụng cũng là một công cụ để chống lạm phát, ổn định tiền
tệ, giá cả, góp phần tạo điều kiện ổn định, thuận lợi trong kinh doanh đối với các doanh
nghiệp, đồng thời còn có lợi cho người tiêu dùng.
2.4. Chính sách lãi suất tín dụng áp dụng thống nhất cho các thành phần kinh tế đã
tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, thực hiện nhất quán
chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước, triệt để khai thác
mọi nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
khác nhau trong lĩnh vực khác có ý nghĩa nhiều mặt. Một mặt, đó là việc tín dụng ngân
hàng với chức năng phân phối thực hiện sự phân phối lại vốn giữa các ngành phù hợp với
yêu cầu sử dụng vốn trong nền kinh tế quốc dân một cách có hiệu quả, góp phần thúc đẩy
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Mặt khác, đó là
việc tín dụng ngân hàng góp phần vào việc bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận giữa các doanh
nghiệp thuộc các ngành trong nền kinh tế một cách hợp lý.
III. các loại hình tín dụng của NHTM
Tuỳ theo các tiêu thức khác nhau thì việc phân loại nghiệp vụ tín dụng cũng khác
nhau. Sau đây Tôi xin liệt kê các tiêu thức , căn cứ vào đó người ta phân loại các loại hình
tín dụng mà các NHTM cung cấp cho các khách hàng của mình.
1. Căn cứ theo hình thức cấp tín dụng:
1.1. Căn cứ thời gian cấp tín dụng:
- Tín dụng có kỳ hạn: là khoản tín dụng có thời hạn xác định về ngày trả nợ:
+ Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng, chủ yếu nhằm bổ sung
vốn lưu động cho các doanh nghiệp và cá nhân.
+ Tín dụng trung và dài hạn: là khoản tín dụng có thời hạn trên 12 tháng, mục đích chính
nhằm bổ sung vốn cố định cho các doanh nghiệp và cá nhân.
- Tín dụng không kỳ hạn: là loại tín dụng được ứng dụng đối với các khoản vay
không xác định rõ thời hạn trả nợ.
1.2. Căn cứ thành phần kinh tế:
- Tín dụng đối với thành phần kinh tế quốc doanh.
- Tín dụng đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh.
1.3. Căn cứ mục đích sử dụng vốn:
- Tín dụng công nghiệp.
- Tín dụng thương mại.
- Tín dụng nông nghiệp.
- Tín dụng tiêu dùng.
mại.
Chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó khách hàng
chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận một số
tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi lãi suất chiết khấu và hoa hồng.
Chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ ít gặp rủi ro và không làm “đóng băng”
tín dụng của ngân hàng. Trên thế giới, luật lưu thông thương phiếu đều qui định thống nhất
và ghi trên thương phiếu thanh toán: “Tất cả những ai ký tên trên chứng từ này đều có
nghĩa vụ thanh toán” và các thông tin về doanh nghiệp phát hành thương phiếu đều được
lưu trữ tại Trung tâm phòng ngừa rủi ro. Do đó, ngân hàng có nhiều khả năng để thu hồi
nợ. Đồng thời chiết khấu còn tạo điều kiện cho NHTM xin tái cấp vốn ở NHTW (theo
hình thức tái chiết khấu thương phiếu) để củng cố năng lực thanh toán, cũng như mở rộng
qui mô tín dụng trong những trường hợp cần thiết.
Thông thường, chứng từ mà các ngân hàng sử dụng để chiết khấu là các thương
phiếu. Đối với hối phiếu, ngân hàng chỉ chấp nhận khi người mua ký chấp nhận trả tiền.
2.2. Tín dụng thấu chi (vượt chi, ứng chi)
Mỗi khách hàng đều có một tài khoản tiền gửi tại ngân hàng. Về nguyên tắc, khách
hàng chỉ được sử dụng số tiền đã gửi trên tài khoản. Do nhu cầu kinh doanh, khách hàng
thường có nhu cầu chi quá số tiền gửi trên tài khoản.
Thấu chi là hình thức cấp tín dụng ứng trước được thực hiện trên cơ sở hợp đồng
tín dụng, trong đó khách hàng được sử dụng một số tiền lớn hơn số tiền gửi mà khách hàng
hiện có.
Những khách hàng có nhu cầu đối với hình thức tín dụng thấu chi là những doanh
nghiệp có nhu cầu chi tiêu thường xuyên và thường xuyên có thu nhập bằng tiền nộp vào
tài khoản của ngân hàng, thường là các đơn vị thương mại mới thường xuyên có nguồn
tiền ra, vào.
Thấu chi là một hình thức tín dụng giúp cho khách hàng sử dụng vốn chủ động và
tiện lợi, tuy nhiên cũng gặp nhiều rủi ro, vì vậy chỉ áp dụng cho những khách hàng có khả
của người vay mà còn kích thích được tiêu thụ hàng hoá, mở rộng sản xuất và tiêu dùng.
Mặt khác, người vay phải trả một khoản tiền cố định bao gồm cả gốc và lãi vào những thời
điểm xác định nên họ dễ dàng tính được số tiền phải trả, từ đó lập được kế hoạch trả nợ.
2.5. Tín dụng bảo lãnh
Tín dụng bảo lãnh là loại tín dụng phát sinh do ngân hàng nhận thanh toán cho
người bán hàng trong trường hợp người mua không có khả năng thanh toán số nợ này.
Ngân hàng thu dịch vụ phí bảo lãnh, mức thu phụ thuộc vào loại nhu cầu bảo lãnh và thời
hạn cho vay. Thời hạn cho vay có thể là ngắn, trung hoặc dài hạn. Hình thức bảo lãnh của
ngân hàng cũng rất phong phú và đa dạng: bảo lãnh tín dụng, bảo lãnh cung cấp hàng
hoá Tín dụng bảo lãnh phát triển đã đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán, chi tiêu của các
nhà sản xuất kinh doanh trong các hoạt động kinh tế tiêu dùng và xã hội.
2.6. Tín dụng vãng lai
Tín dụng vãng lai là hoạt động vay mượn thường xuyên giữa khách hàng và ngân
hàng với nội dung đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Đặc điểm của hình thức tín dụng
này là ngân hàng mở cho khách hàng một tài khoản vừa dư nợ, vừa dư có (tài khoản vãng
lai). Toàn bộ thu nhập của người vay đều ghi vào bên có tài khoản, toàn bộ chi tiêu ghi
bên nợ tài khoản. Khi không còn số dư có, khách hàng được sử dụng một khoản tín dụng
như đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng với một mức dư nợ tối đa nào đó. Ngân hàng
khống chế số dư nợ mà không khống chế số dư có. Khách hàng được sử dụng vốn vay rất
linh hoạt dưới dạng tiền mặt, chuyển khoản, tín phiếu
Điều kiện để được vay vốn đối với loại tài khoản vãng lai là người vay có tài sản
thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh. Ngoài ra trong một số trường hợp, người vay có uy tín cao
thì có thể vay tín chấp.
Thời hạn vay thường từ 3 - 6 hoặc 12 tháng. Trên lý thuyết, tín dụng vãng lai được
xem là tín dụng ngắn hạn. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều ngân hàng cho vay với thời hạn 2
- 3 năm nên tín dụng vãng lai trở thành hình thức tín dụng trung và dài hạn.
2.7. Tín dụng cầm đồ
hồi được gốc và lãi, còn khách hàng sử dụng vốn có hiệu quả sẽ mang lại lợi ích cho bản
thân, đồng thời quá trình sử dụng vốn ấy cũng đem lại hiệu quả cho nền kinh tế. Không
phải ngân hàng cho khách hàng vay mà không xem xét cân nhắc, để cuối cùng phải thu nợ
bằng phát mại tài sản thế chấp của khách hàng. Khi cho vay ngân hàng phải xem xét tính
khả thi của dự án. Khi thấy dự án có khả năng đem lại lợi nhuận cho khách hàng, từ đó
khách hàng có thể trả được nợ cả gốc và lãi, đồng thời đem lại lợi ích chung cho nền kinh
tế thì mới được xét duyệt cho vay.
Chất lượng tín dụng càng cao phản ánh trình độ tổ chức quản lý của ngân hàng
càng cao và ngược lại chất lượng tín dụng thấp phản ánh trình độ tổ chức quản lý của ngân
hàng không hiệu quả. Chất lượng tín dụng phản ánh ở kết quả kinh doanh tín dụng của
ngân hàng cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh của khách hàng khi sử dụng vốn vay và
hiệu quả mà khách hàng đem lại cho nền kinh tế.
2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
Các ngân hàng thường đưa ra một số chỉ tiêu để đánh giá chất lượng tín dụng như
sau:
2.1. Các chỉ tiêu định tính
* Bảo đảm nguyên tắc cho vay: Các nguyên tắc cho vay bao gồm 3 nguyên tắc sau đây
- Nguyên tắc 1: Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi theo đúng hạn đã cam
kết.
Nguyên tắc này nhằm nâng cao trách nhiệm của người đi vay, đòi hỏi họ phải cân
nhắc, tính toán kĩ khi vay vốn cũng như quá trình sử dụng vốn vay. Họ phải tìm mọi biện
pháp tiết kiệm, để làm vốn vay hỗ trợ một cách tốt nhất cho sản xuất kinh doanh, thu lợi
nhuận cao. Về phía ngân hàng nguyên tắc này nhằm bảo toàn vốn cho ngân hàng.
- Nguyên tắc 2: Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích như đã cam kết, có hiệu quả
kinh tế.
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo rằng doanh nghiệp sử dụng vốn vào những hoạt
tránh được rủi ro có thể xảy ra, bảo đảm an toàn vốn cho ngân hàng. Việc thẩm định gồm
các bước chính sau:
- Đánh giá chung về khách hàng, bao gồm:
+ Lĩnh vực hoạt động SX - KD, thị trường của sản phẩm, thị phần, uy tín, chất
lượng sản phẩm, khả năng cạnh tranh, phát triển của khách hàng,
+ Đánh giá tổng quát về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng.
+ Bộ máy điều hành, lý lịch của từng người điều hành. Cơ cấu tổ chức, chất lượng
của lao động
+ Cơ chế quản lý điều hành SX - KD.
+ Các đối tác của khách hàng: bạn hàng, đối thủ cạnh tranh
+ Khả năng phát triển, nguy cơ tiềm ẩn, các thuận lợi và khó khăn khác
- Đánh giá tình hình tài chính, tình hình công nợ của khách hàng, bao gồm:
+ Các cơ chế quản lý, điều hành tài chính.
+ Tập hợp, đánh giá các chỉ tiêu tài chính thông qua các báo cáo tài chính 03 năm
gần nhất; Xác định trên cơ sở các số liệu trên về khả năng tài chính của khách
hàng, xác định nhu cầu vốn của khách hàng (vốn cố định và vốn lưu động cho
quá trình SX - KD)
+ Các quan hệ kinh doanh và vay vốn, trả nợ của khách hàng.
+ Tình hình công nợ: tình hình vay vốn, bảo lãnh, công nợ khác, các khoản phải trả
(lưu ý nợ quá hạn)
+ Khả năng trả nợ của khách hàng đối với các nghĩa vụ tài chính đã cam kết.
- Thẩm định tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư của khách hàng.
Bao gồm thẩm định về:
+ Hiệu quả kinh tế của dự án: điểm hoà vốn, thời gian hoàn vốn, tỷ suất sinh lời
+ Cơ cấu vốn đầu tư (vốn tự có, vốn vay )
+ Xác định khả năng hoàn trả vốn vay của dự án.
+ Rủi ro của dự án.
Hiệu suất sử dụng vốn của ngân hàng được tính theo công thức:
T
v
T
hđ
x 100%
H =