Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh Hưng Yên - Pdf 10



LUẬN VĂN:

Một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển tỉnh Hưng Yên

Lời mở đầu

Trong bối cảnh hiện nay, nền kinh tế thế giới đang phải đối mặt với những khó
khăn rất lớn. Đó là tình trạng tăng giá năng lượng, vật liệu xây dựng và các sản phẩm
nông nghiệp trên thị trường thế giới cùng với sự giảm giá của đồng Đôla Mỹ và
những khó khăn của nền kinh tế Mỹ – một nền kinh tế lớn của thế giới.
Những biến động thế giới này đã ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế mới nổi
như Việt Nam. Với tốc độ tăng trưởng GDP những năm qua trên 8% thì Việt Nam
được đánh giá là đất nước có mức tăng trưởng nóng. Đồng thời, những năm qua dòng
tiền từ nước ngoài chảy vào Việt Nam có sự tăng trưởng mạnh. Để giữ nền kinh tế phát
triển ổn định tiếp tục hội nhập kinh tế thì một vấn đề cấp bách đối với nước ta là thắt
Chương 1
Những vấn đề chung về ngân hàng thương mại và chất lượng tín dụng của ngân
hàng thương mại

1.1. Ngân hàng thương mại và nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng.
1.1.1. Ngân hàng thương mại và hoạt động ngân hàng thương mại.
1.1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại.
Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính không thể thiếu trong nền kinh
tế. Nó liên quan đến hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề và xuất hiện ở tất cả các quốc
gia, lãnh thổ. Cũng chính vì thế mà đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về NHTM.

hàng huy động được từ các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế. Trong việc tạo ra
khả năng tín dụng, các NHTM đã và đang thực hiện các chức năng xã hội của mình
làm cho sản phẩm xã hội tăng lên, vốn đầu tư được mở rộng và từ đó dẫn đến lợi
nhuận nhiều hơn, đời sống kinh tế của nhân dân được nâng cao. Rõ ràng tín dụng
ngân hàng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của nền kinh tế. Nó tạo ra khả
năng tài trợ cho hoạt động công - nông - thương nghiệp của đất nước.
c. Cung cấp các khoản giao dịch và thanh toán.
Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng thì các Ngân hàng không chỉ bảo quản
mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng. Thanh toán qua ngân hàng đã mở
đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền không cần phải đến
Ngân hàng để lấy tiền mà chỉ cần viết giấy chi trả cho khách hàng, khách hàng mang
giấy đó đến Ngân hàng sẽ nhận được tiền. Các tiện ích của thanh toán không dùng
tiền mặt (an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm) đã góp phần rút ngắn thời gian
kinh doanh và nâng cao thu nhập cho khách hàng. Khi Ngân hàng mở chi nhánh,
phạm vi thanh toán qua ngân hàng được mở rộng, càng tạo nhiều tiện ích hơn. Điều
này đã khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng để nhờ thanh toán hộ. Cùng
với sự phát triển của công nghệ thông tin, bên cạnh các thể thức thanh toán như: séc,
uỷ nhiệm chi, nhờ thu đã phát triển thì các hình thức thanh toán mới bằng thẻ cũng
dần phổ biến.
d. Mua bán ngoại tệ.
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi (mua,
bán) ngoại tệ. Tức là mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và qua đó ngân
hàng hưởng phí dịch vụ. Khi giao thương buôn bán giữa các quốc gia ngày càng phát
triển thì hoạt động này như một nhu cầu tất yếu không thể thiếu.
e. Bảo quản tài sản hộ và bảo lãnh.
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng, các giấy tờ có giá và các tài sản
khác cho khách hàng trong két. Ngân hàng nắm giữ những tài sản tài chính này dựa

kinh tế, đã mở rộng mối quan hệ cá nhân – cá nhân thành các mối quan hệ: cá nhân –
tổ chức, tổ chức – tổ chức, cao nhất là quan hệ tín dụng quốc tế, tạo ra nguồn tài trợ
cho các hoạt động công nghiệp, thương nghiệp và nông nghiệp của đất nước. Đồng
thời nó cũng thể hiện rõ ưu thế của mình so với các hình thức tín dụng khác, đó là:
- Nguồn vốn cho vay rất lớn, vì đó là toàn bộ nguồn vốn trong nền kinh tế mà
ngân hàng có thể tập trung và huy động được.
- Đây là hình thức tín dụng linh hoạt vì đối tượng vay mượn là tiền tệ.
Chính vì vậy mà tín dụng ngân hàng đã trở thành hình thức tín dụng chủ yếu
trong nền kinh tế thị trường và nó luôn đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế một
cách linh hoạt và kịp thời.
1.1.2.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng.
a. Đối với nền kinh tế.
Trong xã hội luôn tồn tại tình trạng thừa và thiếu vốn tạm thời. Những cá
nhân, tổ chức có tiền nhàn rỗi thì muốn bảo quản số tiền một cách an toàn và có hiệu
quả nhất. Trong khi đó những cá nhân, tổ chức có nhu cầu về vốn thì muốn vay được
những khoản vốn nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. Như vậy hoạt
động tín dụng là cầu nối giữa cung và cầu vốn, nhờ có hoạt động tín dụng mà các
doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu
quả kinh tế. Từ đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
b. Đối với doanh nghiệp.
Tín dụng là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường. Những cá nhân, tổ chức
đã giảm được các khoản chi phí trong việc tìm kiếm các nguồn vốn để đầu tư cho sản
xuất, kinh doanh. Vay vốn từ ngân hàng của các doanh nghiệp đã thúc đẩy các doanh
nghiệp phải có phương án sản xuất tối ưu, có hiệu quả kinh tế thì mới có thể trả lãi và
vốn cho ngân hàng. Việc lập phương án sản xuất tối ưu cho doanh nghiệp phải qua sự
kiểm tra, thẩm định kỹ lưỡng của ngân hàng nhằm hạn chế mức thấp nhất những rủi
ro có thể xảy ra làm phương hại đến cả doanh nghiệp và ngân hàng.

- Tín dụng thuê mua(Leasing): Đây là một kiểu thuê tài sản để sử dụng chuyên
môn theo hợp đồng.
d. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm.
- Tín dụng có bảo đảm: Việc cấp tín dụng phải có tài sản bảo đảm, có thể là tài
sản hình thành từ vốn vay, từ tài sản của người vay hoặc tài sản của bên thứ 3 đứng
ra bảo lãnh.
- Tín dụng không có bảo đảm: Việc cấp tín dụng dựa vào uy tín của người
vay, vào tình hình tài chính hoặc chỉ định, uy tín của bên thứ 3.
1.2. Chất lượng tín dụng của ngân hàng.
1.2.1. Khái niệm.
Chất lượng tín dụng được hiểu là vốn vay ngân hàng đáp ứng kịp thời, đầy đủ
cho doanh nghiệp và được doanh nghiệp đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh một
cách có hiệu quả nhất, nhằm tạo một lượng tiền lớn hơn để trang trải đủ chi phí, có
lợi nhuận và hoàn trả nợ cho ngân hàng đầy đủ cả gốc và lãi.
Chất lượng tín dụng được thể hiện:
- Đối với NHTM: Chất lượng tín dụng được thể hiện ở hiệu quả của việc cho
vay phù hợp với năng lực của ngân hàng và đảm bảo tính cạnh tranh, ở khả năng thu
hồi gốc và lãi cho vay đầy đủ và đúng hạn. Hiệu quả và khả năng thu nợ càng cao thì
chất lượng cho vay càng cao và ngược lại.
- Đối với khách hàng: Chất lượng tín dụng là thể hiện các khoản vay được đáp
ứng kịp thời, đầy đủ với lãi suất hợp lý và có sức cạnh tranh.
- Đối với nền kinh tế: Nếu chất lượng tín dụng tốt thì tốc độ phát triển của nền
kinh tế sẽ tăng vì hoạt động của ngân hàng nhằm mục đích thúc đẩy sản xuất và lưu
thông hàng hoá phát triển. Nếu chất lượng tín dụng kém có nghĩa là doanh nghiệp sử
dụng vốn vay ngân hàng không có hiệu quả, hàng hoá sản xuất không tiêu thụ được
gây ứ đọng, tín dụng không có khả năng hoàn trả đúng kỳ hạn hoặc mất khả năng
hoàn trả.

Nếu hệ số sử dụng vốn gần bằng 1 thì ngân hàng phải chú ý tăng trưởng nguồn vốn
để đề phòng mất khả năng thanh toán. Nếu hệ số sử dụng vốn thấp cần phải tăng
trưởng dư nợ hoặc giảm nguồn vốn huy động bằng cách hạ lãi suất huy động hạn chế
rủi ro nguồn vốn tác động đến chất lượng tín dụng.

1.2.2.3. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng.
Đây là chỉ tiêu được tính toán hàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lý
vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Doanh số thu nợ
Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ tín dụng bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh số vòng quay vốn tín dụng trong một thời gian nhất
định. Vòng quay vốn tín dụng càng cao chứng tỏ nguồn vốn vay ngân hàng đã luân
chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản suất và lưu thông hàng hoá. Với một số
vốn nhất định, nhưng do vòng quay vốn tín dụng nhanh, nên các ngân hàng đã đáp
ứng được nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, mặt khác, ngân hàng có vốn để tiếp tục
đầu tư vào các lĩnh vực khác. Vòng quay tín dụng tăng, phản ánh chất lượng tín dụng
ngân hàng tốt, khách hàng sử dụng vốn vay có hiệu quả thường trả nợ đúng hạn và
trước hạn.
1.2.2.4. Chỉ tiêu nợ quá hạn.
Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo
khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ của mình cho ngân hàng đúng hạn.
Chỉ tiêu này có thể nói là quan trọng nhất khi xem xét chất lượng tín dụng của ngân
hàng.
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100
Tổng dư nợ

nhận định được chất lượng tín dụng ngân hàng cao hay thấp. Tuy nhiên ta cần xem
xét trong cả một thời kỳ dài để thấy khuynh hướng biến động của nó có phù hợp với
thực tiễn không nhằm giúp các đánh giá được chính xác hơn.

1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng.
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng nhưng chủ yếu tập trung
vào những nhân tố sau đây:
1.2.3.1. Từ phía môi trường kinh doanh.
* Môi trường kinh tế:
Ngân hàng là chủ thể trung gian của nền kinh tế, hoạt động của ngân hàng có
thể được coi là chiếc cầu nối giữa các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Vì vậy, sự
ổn định hay mất ổn định của nền kinh tế sẽ tác động mạnh mẽ đến hoạt động của
ngân hàng, đặc biệt là hoạt động tín dụng. Môi trường kinh tế phát triển mạnh, chủ
thể tham gia nền kinh tế hoạt động có hiệu quả sẽ thúc đẩy mở rộng quy mô tín dụng,
tăng chất lượng tín dụng. Nhưng môi trường kinh tế có những thay đổi bất ngờ, như
lạm phát cao, lãi suất thực tế sẽ giảm và nếu ngân hàng không cân đối giữa các khoản
mục bên nguồn vốn và tài sản nhạy cảm với lãi suất thì các khoản tín dụng đó không
mang lại hiệu quả. Do đó, chất lượng tín dụng của ngân hàng chịu ảnh hưởng của
môi trường kinh tế mà nó hoạt động, các ngân hàng cần làm tốt công tác dự báo và
khả năng thích ứng nhanh khi có biến động nhằm đảm bảo chất lượng tín dụng.
* Môi trường pháp lý:
Một ngân hàng hoạt động phải tuân thủ đầy đủ các quy định về luật pháp của
Nhà nước và của NHNN. Một hệ thống pháp lý đầy đủ, đồng bộ và ổn định giúp
ngân hàng dễ dàng hơn trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh, góp phần nâng cao
chất lượng tín dụng. Một mặt, nó giúp người vay vốn cũng như ngân hàng dễ dàng
trong giao dịch và tránh sự lợi dụng khe hở pháp luật của những đối tượng làm ăn
không chân chính. Mặt khác, nó giúp ngân hàng và người vay vốn đưa ra các chính

- Sự trung thực của người đi vay:
Tính trung thực của khách hàng quyết định rất lớn đến chất lượng tín dụng
ngân hàng. Nếu khách hàng có tính lừa gạt ngân hàng và đưa ra những phương án
kinh doanh giả hòng chiếm dụng vốn của ngân hàng điều đó đồng nghĩa với việc
ngân hàng có thể gặp rủi ro tín dụng bất cứ lúc nào. Ngược lại, nếu khách hàng trung
thực, sử dụng vốn vay đúng mục đích thì sẽ làm tăng chất lượng tín dụng.
- Rủi ro trong việc kinh doanh của khách hàng:
Khách hàng gặp phải những bất trắc trong kinh doanh, những thiệt hại trên thị
trường tiêu thụ hay do cơ chế chính sách thay đổi đột ngột làm cho hàng hoá của
doanh nghiệp lâm vào tình trạng khê đọng từ đó ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng
của ngân hàng.
1.2.3.3. Từ phía Ngân hàng.
* Chính sách tín dụng:
Chính sách tín dụng là định hướng cơ bản cho hoạt động tín dụng của ngân
hàng. Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ kích thích được việc tiết kiệm và đầu tư
thu hút được nhiều khách hàng đảm bảo khả năng sinh lời của ngân hàng, đồng thời
tuân thủ theo pháp luật và đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra. Bất cứ
một ngân hàng nào muốn có chất lượng tín dụng tốt đều cần có một chính sách tín
dụng rõ ràng, đúng đắn và phù hợp với ngân hàng của mình.
* Quy trình tín dụng:
Quy trình tín dụng bao gồm những bước phải thực hiện trong quá trình cho
vay, thu nợ nhằm bảo đảm an toàn vốn tín dụng. Nó bao gồm các bước bắt đầu từ
khâu chuẩn bị cho vay, phát tiền vay, kiểm tra trong quá trình cho vay đến khi thu hồi
được nợ. Chất lượng tín dụng có được đảm bảo an toàn hay không phụ thuộc một
phần vào thực hiện tốt hay không các quy định, các bước của quy trình tín dụng.
* Tiêu chuẩn tín dụng:
Tiêu chuẩn tín dụng là yêu cầu mà doanh nghiệp phải đạt được để thiết lập

Nâng cao chất lượng tín dụng đang là nhiệm vụ quan trọng đối với các NHTM
hiện nay. Một mặt nó giúp ngân hàng có khả năng thu hồi nợ đầy đủ và đúng hạn, tạo
điều kiện cho ngân hàng có khả năng cân đối, lên kế hoạch huy động và sử dụng vốn,
góp phần nâng cao lợi nhuận. Mặt khác nó là biện pháp hữu hiệu được Nhà nước sử
dụng để kiềm chế lạm phát, giảm sự cung ứng tiền mặt trong lưu thông. Nhưng để
đạt được điều này không phải đơn giản. Chính vì vậy, mà việc nghiên cứu chất lượng
hoạt động tín dụng là việc làm cần thiết vì nó giúp cho các nhà hoạt động ngân hàng
cũng như các tổ chức và cá nhân có liên quan đến lĩnh vực ngân hàng hiểu được
những vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng và chất lượng hoạt động tín dụng, trên cơ
sở đó sẽ giúp họ điều chỉnh các hành vi của mình để hoạt động tín dụng có chất
lượng cao hơn.
Tóm lại, chất lượng tín dụng là khái niệm vừa cụ thể vừa trừu tượng, là một
chỉ tiêu kinh tế tổng hợp. Hiểu đúng bản chất và phân tích, đánh giá đúng chất lượng
tín dụng, cũng như xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng sẽ
giúp ngân hàng tìm được những giải pháp quản lý thích hợp để có thể đứng vững
trong nền kinh tế hiện nay.
Ngân hàng ĐT&PT tỉnh Hưng Yên có Ban giám đốc và 7 phòng chức năng.
Điều hành chi nhánh là Ban giám đốc gồm 1 Giám Đốc và 2 Phó Giám Đốc. Đứng
đầu các phòng là trưởng phòng. Trưởng phòng có nhiệm vụ lãnh đạo, tổ chức chỉ đạo
điều hành và thực hiện chức năng nhiệm vụ của phòng và chịu trách nhiệm trước Ban
Giám Đốc về nhiệm vụ chuyên môn của phòng.

2.1.3. Khái quát hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ĐT&PT tỉnh Hưng Yên
trong những năm gần đây.
2.1.3.1. Công tác huy động vốn.
Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì
phải có vốn, bởi vì vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh
doanh. Riêng đối với ngân hàng, vốn là cơ sở để tổ chức mọi hoạt động kinh doanh
của mình. Nói cách khác ngân hàng không có vốn thì không thể thực hiện được các
nghiệp vụ kinh doanh của mình. Bởi vì với đặc trưng hoạt động của ngân hàng, vốn
không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà lại là đối tượng kinh doanh chủ yếu
của ngân hàng. Do đó ngoài vốn ban đầu cần thiết, tức là vốn điều lệ theo quy định
thì ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá
trình hoạt động của mình.

Phòn
g
kiểm
tra
huy động vốn của ngân hàng đạt 553 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ năm trước là 108
tỷ đồng với tỷ lệ tăng 24%.
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn những năm 2005 – 2007.
Đơn vị: Tỷ đồng

Chỉ tiêu
Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
Số tiền

Tỷ trọng
(%)
Số tiền

Tỷ trọng
(%)
Số
tiền
Tỷ trọng
(%)
Tổng nguồn vốn 348 100 445 100 553 100
I. Cơ cấu nguồn vốn theo tính chất.
TG của TCKT 129 37 174 39 218 40
TG của dân cư 219 63 271 61 335 60

động vốn, với nhiều hình thức phong phú, chế độ lãi suất linh hoạt , đa dạng các hình
thức huy động theo thời gian, bố trí cán bộ có tác phong giao dịch ân cần tận tụy đã
tác động lớn đến tâm lý khách hàng.
Cùng với việc thu hút nguồn vốn từ các tầng lớp dân cư Ngân hàng đã duy trì
và củng cố mối quan hệ với các tổ chức kinh tế để thu hút vốn nhàn rỗi vào Ngân
hàng. Do vậy nguồn huy động này đã tăng lên đáng kể.
- Tiền gửi của các tổ chức kinh tế: Nhìn chung nguồn tiền gửi này có xu
hướng tăng nhưng không đều. Năm 2006 là 174 tỷ đồng đã tăng 45 tỷ đồng so với
năm 2005 với mức tăng trưởng 34,88%. Tốc độ tăng trưởng lớn là do các tổ chức
kinh tế làm ăn có hiệu quả, lợi nhuận tạo ra nhiều. Năm 2007, tiền gửi của tổ chức
kinh tế là 218 tỷ đồng tăng 44 tỷ đồng so với năm 2006 với mức tăng trưởng 25,3%.
Mặc dù tỷ trọng nguồn tiền gửi có tăng song mức tăng trưởng lại giảm, do trong năm
2007 các tổ chức kinh tế phải đối đầu với những biến động lớn của thị trường như:
giá cả các hàng hoá đầu vào tăng, dịch cúm gia cầm tái phát, thời tiết thay đổi thất
thường Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng lưu chuyển vốn của họ
khiến lượng tiền gửi tại ngân hàng vì thế cũng giảm.
- Tiền gửi của dân cư: Năm 2006 là 271 tỷ đồng tăng 52 tỷ đồng so với năm
2005 đạt mức tăng trưởng 23,7%. Năm 2007 là 335 tỷ đồng tăng 64 tỷ đồng và tăng
trưởng 23,6% so với năm 2006. Nguồn tiền này có xu hướng tăng lên vì thu nhập của
dân cư ngày càng cao, họ muốn đảm bảo an toàn cho tài sản và hưởng lãi. Nắm bắt
được tâm lý này của khách hàng nên trong năm qua ngân hàng đã luôn đưa ra các
mức lãi suất hấp dẫn, liên tục khuyến mãi đối với khách hàng có lượng tiền gửi từ 30
triệu đồng trở nên cho các kỳ hạn từ 4 đến 12 tháng. Nhất là vào dịp tết vừa qua ngân
hàng huy động hình thức tiết kiệm dự thưởng khiến các chỉ tiêu đề ra đều vượt kế hoạch.
NHĐT&PT tỉnh Hưng Yên đã tích cực triển khai huy động ngoại tệ nhưng
nguồn vốn này vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn. Năm 2007 là 155 tỷ
đồng chiếm 28% tổng nguồn huy động. Các khách hàng của ngân hàng là những


Biểu 2.2: Biểu đồ thể hiện sự tăng trưởng của dư nợ cho vay.
Đơn vị: Tỷ đồng
870
1085
1290
0
200
400
600
800
1000
1200
1400
2005 2006 2007

Qua bảng và biểu trên ta thấy tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng chậm
hơn so với tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn mặc dù dư nợ tín dụng có tăng. Năm
2005 tổng dư nợ của ngân hàng đạt 870 tỷ đồng, đến năm 2006 con số này là 1085 tỷ
đồng và năm 2007 đạt 1290 tỷ đồng. Điều này thể hiện nỗ lực của ngân hàng trong
việc mở rộng quan hệ với khách hàng, tìm nguồn đầu tư vào những dự án có hiệu quả
kinh tế cao. Tỷ trọng cho vay trung và dài hạn có xu hướng giảm trong tổng dư nợ
mà thay vào đó là tỷ trọng cho vay ngắn hạn lại tăng. Cho vay doanh nghiệp ngoài
quốc doanh ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ, thể hiện chủ trương của
ngân hàng là tập trung vào các doanh nghiệp ngoài quốc doanh làm ăn có hiệu quả,
tình hình tài chính lành mạnh. Nó cũng phù hợp với định hướng phát triển chung của
ngành, cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng và nhu cầu phát triển của địa phương. Tuy
nhiên, ngân hàng cũng cần phải chú ý theo dõi những diễn biến của thị trường tác
động đến những khoản cho vay này để thu nợ kịp thời, tránh tình trạng dẫn tới nợ quá
hạn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status