MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CẦU GIẤY.
I.Khái quát về tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn Quận
Cầu Giấy- TP Hà Nội .
Là một quận mới thành lập nằm ở phía tây của TP Hà Nội với đặc thù
kinh tế chưa phát triển chủ yếu là các trường ĐH, khối hành chính,
nông nghiệp,nhưng đặc biệt trên địa bàn lại có rất nhiều công ty xây dựng mà
NHĐT&PT lại rất phù hợp cho việc phục vụ loại hình khách hàng này.
1 .Khái quát về hoạt động kinh doanh tại NHĐT&PTCầu Giấy.
1.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy của NHĐT&PT Cầu Giấy.
Bộ máy tổ chức: kể từ tháng 10/2003 NHĐT&PT Cầu Giấy đã tiến
hành thực hiên dự án hiện đại hoá và mô hình bộ máy tổ chức cũng
theo mô hình của hiện đại hoá bao gồm: Ban lãnh đạo (Gerneral), Phòng Kế
toán Tổng hợp(G/L) – Ngân quỹ ( Vol ) , Phòng Tín dụng ( Ln ) , Phòng dịch
vụ khách hàng (DD&FD ) , Phòng điện toán ( IT ) , các phòng giao dịch và
cuối cùng phòng hậu cần.
Lãnh đạo của NHĐT&PT Cầu Giấy gồm : 1 Giám đốc , 3 phó giám
đốc lãnh đạo theo từng khối nghiệp vụ. Có 6 phòng ban nghiệp vụ và 2 phòng
giao dịch . Mỗi phòng đều có trưởng phòng ,phó phòng , kiểm soát viên , và
các thanh toán viên được bố chí theo từng nghiệp vụ . Sơ đồ mô hình tổ chức
của NHĐT&PT Cầu Giấy thể hiện như sau :
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC BỘ MÁY :
1
1
NHĐT&PT Cầu GiấyBan giám đốc
Phòng DV khách hàng Phòng hậu cần Phòng Điện toán( IT )Phòng tổ chức cán bộPhòng tiền tệ ngân quỹPhòng tín dụng( Ln )
Ghi chú :
Chỉ mối quan hệ chỉ đạo
Ngân hàng đầu tư và phát triển Hà Nội chi nhánh Cầu Giấy thì các giải pháp
phải được tiến hành trên cả hai mặt đó là phòng ngừa và xử lý rủi ro.
Sau một thời gian nghiên cứu vấn đề này tại Ngân hàng đầu tư và phát
triển Hà Nội chi nhánh Cầu Giấy, em xin đề xuất một số giải pháp nhằm hạn
chế rủi ro tín dụng. Các giải pháp chia làm hai nhóm: nhóm giải pháp có tính
chất phòng ngừa rủi ro và nhóm giải pháp xử lý những rủi ro đã xảy ra.
1. Nhóm giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng dù xuất phát từ nguyên nhân khách quan hay chủ quan
cũng được thể hiện trên hai mặt đó là những rủi ro có thể xảy ra và những rủi
ro đã xảy ra. Những rủi ro có thể xảy ra tuy là những rủi ro tiềm ẩn nhưng
trong nhiều trường hợp do có tính lặp lại nên người ta có thể tìm ra được quy
luật của nó và từ đó đưa ra những biện pháp phòng ngừa hợp lý. Tại Ngân
hàng đầu tư và phát triển Hà Nội chi nhánh Cầu Giấy, để phòng ngừa rủi ro
cần thực hiện một số giải pháp như sau:
1.1Thực hiện tốt công tác sàng lọc khách hàng trước khi cho vay:
Sàng lọc khách hàng là việc ngân hàng tìm hiểu và đánh giá khách hàng
để lựa chọn ra những khách hàng có đủ điều kiện cho vay. Sàng lọc khách
hàng là công việc quan trọng không thể thiếu để ngăn ngừa những rủi ro trong
hoạt động tín dụng. Trong điều kiện môi trường kinh doanh ngân hàng đầy rủi
ro như hiện nay thì sàng lọc khách hàng càng phải được chú trọng. Sàng lọc
khách hàng được thực hiện qua hai hoạt động: Phân tích đánh giá khách hàng
và Thẩm định tính khả thi của dự án.
Phân tích đánh giá khách hàng:
Khách hàng là người sử dụng và quyết định hiệu quả của việc sử dụng
khoản tiền vay, cũng là người chịu trách nhiệm hoàn trả vốn vay. Vì vậy, việc
phân tích đánh giá khách hàng là một biện pháp hết sức quan trọng và cần
3
3
thiết để ngăn ngừa những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng từ phía khách
doanh thu qua một số thời kỳ. Vì trong một số trường hợp, doanh thu tăng lên
chưa chắc do tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị tốt.
c)Tình hình tài chính của khách hàng
Cán bộ tín dụng phải yêu cầu khách hàng cung cấp các báo cáo tài chính
đã được kiểm toán trong những thời điểm gần nhất để tiến hành phân tích,
đánh giá. Khi phân tích báo cáo tài chính của đơn vị khách hàng, cán bộ tín
dụng cần chú ý các chỉ tiêu sau:
- Tài sản cố định và đầu tư dài hạn so với nguồn hình thành có tỷ lệ 1 là
cân đối. Nếu các tỷ lệ này lớn hơn 1 thì có khả năng khách hàng sử dụng vốn
chưa phù hợp.
- Tài sản ngắn hạn so với nguồn vốn ngắn hạn nếu thấp hơn 1 thì khả
năng thanh toán của khách hàng có vấn đề.
- Khoản vay ngắn hạn ngân hàng so với vốn chủ sở hữu thường không
được lớn hơn 5
- Các khoản phải trả so với doanh thu và so với tổng tài sản có tỷ lệ là 1
và 1/3 là lớn nhất. Nếu tỷ lệ này cao hơn, thể hiện khách hàng đang chiếm
dụng vốn trong quan hệ thương mại, nhưng cũng có thể là do tình hình tài
chính không lành mạnh.
- Các khoản phải thu so với doanh thu và so với tổng tài sản có tỷ lệ 1 đến
1/3 là lớn nhất. Nếu lớn hơn tỷ lệ trên thì có thể là khách hàng đang bị chiếm
dụng vốn.
- Doanh thu so với hàng tồn kho: hàng hoá trong kho phải có vòng quay ít
nhất là 2 vòng một năm. Nếu ít hơn mức đó thì có nghĩa là việc tiêu thụ hàng
hóa có vấn đề.
5
5
Hiện nay, các báo cáo tài chính mà khách hàng nộp cho ngân hàng thường
không phản ánh đúng tình trạng thực tế, vì vậy, khi đánh giá cán bộ tín dụng
cần chú ý một số điểm như sau:
năng trả nợ của khách hàng. Khả năng trả nợ của khách hàng phụ thuộc lớn
vào những nguồn thu trong tương lai trong đó nguồn thu từ dự án thực hiện
bằng vốn vay ngân hàng là nguồn trả nợ chính. Vì vậy, khả năng sinh lợi từ
dự án thực hiện bằng vốn vay ngân hàng quyết định lớn đến khả năng trả nợ
đủ và đúng theo thời hạn trong hợp đồng. Khi thẩm định tính khả thi của dự
án, cán bộ tín dụng cần chú ý một số điểm như sau:
a. Về phương pháp thẩm định:
- Khi thẩm định dự án cần phải chú trọng hơn nữa tới giá trị thời gian của
tiền, áp dụng các chỉ tiêu hiện đại như NPV, IRR, phân tích độ nhạy... coi là
những chỉ tiêu bắt buộc khi phân tích dự án.
- Để có tính toán đúng khi xác định dòng tiền để tính những chỉ tiêu trên
cần phải xác định đủ và đúng các giá trị như: giá trị thanh lý tài sản cố định,
thu hồi vốn lưu động ròng...
- Xác định tỷ lệ lãi suất chiết khấu hợp lý dựa trên tính toán về chi phí
vốn bình quân.
- Xây dựng các bảng dự trù tài chính của dự án để thực hiện phân tích tài
chính dự án hàng năm, việc xác định doanh thu và chi phí của dự án hàng
năm phải kết hợp tính toán cả công suất dự kiến và khả năng tiêu thụ sản
phẩm hàng năm.
b. Về tổ chức điều hành thẩm định dự án:
Thực hiện tốt hơn công tác tổ chức điều hành, xây dựng và chuẩn hoá quy
trình hoạt động thẩm định, áp dụng chặt chẽ cho toàn hệ thống. Bên cạnh đó
xây dựng hệ thống thông tin nội bộ toàn hệ thống để thu thập phân tích và lưu
trữ thông tin về các khách hàng, thông tin về tình hình kinh tế...
7
7
1.2 Tăng cường công tác thu thập thông tin:
Thông tin là yếu tố không thể thiếu được cho việc thẩm định dự án, thẩm
định khách hàng. Thông tin thu thập càng nhanh, đầy đủ, chính xác thì càng
và được tiến hành định kỳ mỗi quý một lần. Việc kiểm tra này không mang lại
hiệu quả cao, bởi lẽ chẳng có gì đảm bảo rằng những tài liệu do doanh nghiệp
cung cấp hoàn toàn đúng sự thật. Kiểm tra định kỳ và không thường xuyên
như vậy thì nếu doanh nghiệp không có thiện chí họ sẽ có những thủ thuật để
che mắt cán bộ kiểm tra. Để khắc phục điều này trong thời gian tới công tác
kiểm tra, giám sát sau khi cho vay phải được tiến hành chặt chẽ hơn nữa, việc
kiểm tra trực tiếp tại cơ sở không nên tiến hành định kỳ như hiện nay mà nên
tiến hành ngẫu nhiên, không báo trước có vậy mới đảm bảo những gì mắt thấy
tai nghe là trung thực. Trong quá trình kiểm tra nếu phát hiện thấy doanh
nghiệp gặp khó khăn không thể trả nợ theo đúng hợp đồng thì cán bộ tín dụng
nên báo cáo về ngân hàng để có biện pháp xử lý kịp thời.
1.4 Trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng:
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng là
khó tránh khỏi, trong nhiều trường hợp, khách hàng không thể trả nợ cho
ngân hàng khiến cho ngân hàng có khả năng lâm vào tình trạng mất vốn kinh
doanh. Để khắc phục tình trạng đó, việc ngân hàng trích lập quỹ dự phòng rủi
ro là rất cần thiết nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân
hàng, có nguồn bù đắp lại những rủi ro trong hoạt động kinh doanh mà ngân
hàng phải gánh chịu.
Mục tiêu của việc trích lập quỹ dự phòng rủi ro là còn để đảm bảo kết quả
kinh doanh của ngân hàng, phản ánh đúng vị thế tài chính của ngân hàng và
nó được đảm bảo bằng nguồn tiền có thực để trang trải rủi ro khi xảy ra.
Trong những trường hợp ngân hàng gặp rủi ro không thu hồi vốn được thì
việc xoá những khoản nợ không thể thu hồi này và công bố những khoản mất
vốn sẽ là những bât lợi đến kết quả kinh doanh và đến vốn kinh doanh của
ngân hàng nếu như không có quỹ dự phòng rủi ro được trích lập từ trước.
9
9