LUẬN VĂN: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở công ty cổ phần đầu tư và phát triển công nghệ Phương Nam - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý
tài chính ở công ty cổ phần đầu tư và phát
triển công nghệ Phương Nam

LỜI MỞ ĐẦU

Quản lý tài chính là một bộ phận quan trọng của quản lý kinh doanh doanh nghiệp
và cũng là kiểu quản lý mang tính tổng hợp đối với hoạt động sản xuất kinh doanh sử dụng


CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1. Tài chính doanh nghiệp
1.1. Khái niệm
Khi nhắc đến tài chính trong doanh nghiệp, người ta thường liên hệ nó với công
việc kế toán, tức là ghi sổ sách, tính toán sổ sách và lập các biểu bảng báo cáo tài chính.
Đó là nhận thức sai lầm về khái niệm tài chính.
Khái niệm tài chính, hiểu theo nghĩa thông thường thì đó là những hoạt động huy
động vốn, sử dụng, phát triển và quản lý tiền vốn. Có nghĩa là doanh nghiệp cần tích luỹ
vốn, sau đó đầu tư vào hoạt động sản xuất và kinh doanh làm số tiền đó tăng lên - tức là
tiền sinh tiền. Từ đó, doanh nghiệp có được lợi nhuận thông qua hoạt động sản xuất kinh
doanh. Tuy nhiên, nhà doanh nghiệp không được hưởng toàn bộ lợi nhuận này mà phải
phân phối một phần cho ngân sách nhà nước, nhân viên và cả nội bộ doanh nghiệp. Những
hoạt động nói trên đã hình thành nên tài chính doanh nghiệp.
Dưới góc độ quản lý thì tài chính là hoạt động huy động, sử dụng, sắp xếp, phân
phối vốn và là các mối quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế.
1.2. Bản chất của tài chính doanh nghiệp.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải đảm bảo sự phối hợp
đồng bộ, ăn khớp về những hoạt động liên quan đến thị trường hàng hoá dịch vụ, thị
trường vốn, thị trường lao động và tổ chức nội bộ trong doanh nghiệp, nhằm tạo ra sự tăng
trưởng, đạt được tỷ suất lợi nhuận tối đa. Chính trong quá trình đó đã làm nảy sinh hàng
loạt những quan hệ kinh tế với các chủ thể khác thông qua sự vận động của vốn tiền tệ.
 Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với nhà nước:
Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ nhà nước cấp phát, hỗ trợ vốn và góp vốn cổ phần
theo những nguyên tắc và phương thức nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh và phân
chia lợi nhuận. Đồng thời, các mối quan hệ tài chính này còn phản ánh những quan hệ kinh
tế dưới hình thức giá trị phát sinh khi thực hiện quá trình phân phối và phân phối lại tổng
sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa ngân sách nhà nước với các doanh nghiệp.


phối ra quyết định, hoạt động của doanh nghiệp đó thông qua các cơ quan quản lý doanh
nghiệp.
 Quan hệ của những doanh nghiệp với quản lý doanh nghiệp.
 Quan hệ của những doanh nghiệp với người lao động.
Các mối quan hệ này được biểu hiện thông qua chính sách tài chính của doanh
nghiệp như sau:
- Chính sách phân phối thu nhập cho người lao động.
- Chính sách chia lãi cho các Cổ Đông.
- Chính sách cơ cấu nguồn vốn.
- Chính sách đầu tư và cơ cấu đầu tư.
Nhìn chung, các quan hệ kinh tế nêu trên đã khái quát hoá toàn bộ những khía cạnh
về sự vận động của vốn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc trưng của sự
vận động của vốn luôn luôn gắn liền chặt chẽ với quá trình phân phối các nguồn tài chính
của doanh nghiệp và xã hội nhằm tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của doanh
nghiệp phục vụ cho quá trình kinh doanh.
Trên cơ sở đó, có thể định nghĩa bản chất của tài chính doanh nghiệp là hệ thống
các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn lực tài chính, được thực
hiện thông qua các quá trình huy động và sử dụng các loại vốn, quỹ tiền tệ nhằm phục vụ
cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
2. Chức năng của tài chính doanh nghiệp
2.1. Tổ chức huy động chu chuyển vốn, đảm bảo cho sản xuất kinh doanh được tiến
hành liên tục.
Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế cơ sở có nhiệm vụ sản xuất kinh doanh nên có nhu
cầu về vốn, tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp mà vốn được duy động từ những nguồn
sau:
- Ngân sách Nhà nước cấp.
- Vốn cổ phần.
- Vốn liên doanh.
- Vốn tự bổ sung.


- Trích vào các quỹ doanh nghiệp.
2.3. Chức năng giám đốc (kiểm soát) đối với hoạt động sản xuất kinh doanh.
Giám đốc tài chính là việc thực hiện kiểm soát quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ
tiền tệ của doanh nghiệp.
Cơ sở của giám đốc tài chính:
- Xuất phát từ tính quy luật phân phối sản phẩm quyết định (ở đâu có phân phốí
tài chính thì ở đó có giám đốc tài chính).
- Xuất phát từ tính mục đích của việc sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh.
Muốn cho đồng vốn có hiệu quả cao, sinh lời nhiều thì tất yếu phải giám đốc tình
hình tạo lập sử dụng quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp.
Nội dung
- Thông qua chỉ tiêu vay trả, tình hình nộp thuế cho Nhà nước mà Nhà nước,
Ngân hàng biết được tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp tốt hay chưa tốt.
- Thông qua chỉ tiêu giá thành, chi phí mà biết được doanh nghiệp sử dụng vật tư,
tài sản, tiền vốn tiết kiệm hay lãng phí.
- Thông qua chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận (tỷ suất lợi nhuận doanh thu, giá thành,
vốn) mà biết được doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không?
3. Vai trò của tài chính doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan trong nền kinh tế
hàng hoá - tiền tệ. Sự vận động của nó một mặt phải tuân theo những quy luật kinh tế
khách quan, mặt khác do tài chính doanh nghiệp là các quan hệ nằm trong hệ thống những
quan hệ kinh tế gắn liền với hoạt động kinh doanh nên tài chính doanh nghiệp còn phải
chịu sự chi phối bởi các mục tiêu và phương hướng kinh doanh của các chủ thể doanh
nghiệp. Nhưng đến lượt mình, tài chính doanh nghiệp lại có tác động theo hướng thúc đẩy
hay kìm hãm hoạt động kinh doanh. Trên góc độ này, tài chính doanh nghiệp được xem là
một trong những công cụ có vai trò quan trọng trong quản lý kinh doanh.
Vai trò của tài chính doanh nghiệp được biểu hiện qua các mặt sau:

 Tổ chức huy động và phân phối sử dụng các nguồn lực tài chính có hiệu quả.

quả, thì chính tài chính doanh nghiệp lại trở thành “vật cản” gây kìm hãm hoạt động kinh
doanh.
 Kiểm tra đánh giá hiệu quả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Xuất phát từ vấn đề có tính nguyên lý là : khi đầu tư vốn kinh doanh bất kỳ nhà
doanh nghiệp nào cũng đều mong muốn đồng vốn của mình mang lại hiệu quả kinh tế cao
nhất, do vậy với tư cách là một công cụ quản lý hoạt động kinh doanh tài chính nhất thiết
phải có vai trò kiểm tra để nâng cao tính tiết kiệm và hiệu quả cảu đồng vốn.
Tài chính doanh nghiệp thực hiện kiểm tra bằng đồng tiền và tiến hành thường
xuyên liên tục thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính. Cụ thể các chỉ tiêu đó là chỉ tiêu
tài chính, chỉ tiêu về các khả năng thanh toán, chỉ tiêu đặc trưng về hoạt động, sử dụng các
nguốn lực tài chính; chỉ tiêu đặc trưng về khả năng sinh lời,… Bằng việc phân tích các chỉ
tiêu tài chính cho phép doanh nghiệp có căn cứ quan trọng để đề ra kịp thời các giải pháp
tối ưu làm lành mạnh hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cụ thể:
 Đảm bảo cung ứng đủ vốn cho quá trình kinh doanh.
 Sử dụng vốn có hiệu quả.
 Giảm thấp chi phí kinh doanh và giá thành sản phấm.
 Nâng cao tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp.
II. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.Khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp
Quản lý tài chính dựa trên quy luật vận động vốn, đồng thời cần tuân thủ theo quy

định pháp luật. Thực hiện dự đoán, lên kế hoạch, giám sát, hạch toán và phân tích sự hình
thành vốn, sử dụng và phân phối vốn. Nâng cao hiệu quả vận động vốn, thực hiện công tác
quản lý bảo đảm vốn được gia tăng.
Thực chất của quản lý tài chính là quản lý mang tính tổng hợp những hoạt động
kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp bằng cách vận dụng hình thức giá trị.
2. Mục tiêu của quản lý tài chính doanh nghiệp
Một doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như: tối đa hoá
lợi nhuận, tối đa hoá doanh thu trong ràng buộc tối đa hóa lợi nhuân, tối đa hoá hoạt động
hữư ích của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp…Song tất cả các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm

nhà kinh doanh phải tính toán và đánh giá tầm quan trọng của hai loại lợi nhuận này, từ đó
lựa chọn phương án có lợi hơn cho việc gia tăng giá trị doanh nghiệp. Đặc biệt là đối với
sự phân chia lợi nhuận. Mục tiêu tối đa hoá tài sản doanh nghiệp sẽ làm cho nhà đầu tư, cổ
đông và nhà kinh doanh thận trọng khi lựa chọn những chính sách phân chia có thể giúp
công ty duy trì được thực lực phát triển lâu dài, đồng thời tránh được những chính sách
ngắn hạn “ăn hết chia sạch”.
Tóm lại, mục tiêu tối đa hoá tài sản có thể chỉ đạo nhà quản lý tài chính cân nhắc
lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, quan tâm đến quyền lợi của nhà đầu tư và của chủ
doanh nghiệp. Phân tích chi tiết, cụ thể quan hệ giữa các mức độ rủi ro và thù lao làm cho
kết cấu doanh nghiệp được tổ hợp tốt nhất, giá trị doanh nghiệp đạt mức độ cao nhất.
3.Vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp.
Tình hình tài chính doanh nghiệp lành mạnh là một trong những điều kiện tiên
quyết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách nhịp nhàng, đồng bộ,
đạt hiệu quả cao. Sự lành mạnh đó có được hay không phụ thuộc phần lớn vào khả năng
quản lý tài chính của doanh nghiệp.
Trong các hoạt động quản lý của doanh nghiệp thì quản lý tài chính luôn giữ một vị
trí quan trọng. Nó quyết định tính độc lập, sự thành công của một doanh nghiệp trong quá
trình kinh doanh. Đặc biệt trong môi trường kinh doanh quốc tế hiện nay, trong điều kiện
cạnh tranh ngày càng diễn ra khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, thì quản lý tài chính lại
càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

Bằng các chỉ tiêu và sự nhạy bén mà các nhà quản lý tài chính có thể chỉ ra những
mặt mạnh cũng như những thiếu sót của doanh nghiệp trong kỳ. Ngoài ra, các nhà quản lý
tài chính còn giúp giám đốc hoạch định chiến lược tài chính ngắn và dài hạn của doanh
nghiệp dựa trên sự đánh giá tổng quát cũng như từng khía cạnh cụ thể các nhân tố tài chính
có ảnh hưởng quan trọng tới sự tồn tại của doanh nghiệp , bao gồm: chiến lược tham gia
vào thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thịu trường chứng khoán, xác định chiến lược tài
chính cho các chương trình, các dự án của doanh nghiệp là mở rộng hay thu hẹp sản
xuất…Thông qua đó, đánh giá, dự đoán có hiệu quả các dự án đầu tư, các hoạt động liên
doanh liên kết, phát hiện âm mưu thôn tính doanh nghiệp của các đối tác cạnh tranh, đề

cụ quản lý vĩ mô như: luật pháp, các chính sách tài chính, tiền tệ và giá cả Từ đó, nhà
nước tạo ra môi trường kinh doanh để kích thích các doanh nghiệp mở rộng đầu tư. Hiểu
luật để làm đúng pháp luật đồng thời hiểu luật để doanh nghiệp có thể định hướng kinh
doanh và đầu tư vào những nơi được nhà nước khuyến khích như: giảm thuế, tài trợ tín
dụng.
 Hai là, tôn trọng nguyên tắc hạch toán kinh doanh.
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào nguyên tắc hạch toán kinh doanh cũng là nguyên
tắc quan trọng nhất quyết định tới sự tồn tại của doanh nghiệp.
Để thực hiện được yêu cầu của nguyên tắc này thì việc tổ chức công tác tài chính
phải hướng vào một số các biện pháp như: chủ động tận dụng khai thác các nguồn vốn,
bảo toàn và phát huy hiệu quả của đồng vốn, đầu tư vốn phải tuân theo những yêu cầu của
thị trường…Tất cả các biện pháp này đều nhằm một mục đích là kinh doanh phải có hiệu
quả, đó cũng là mục tiêu bao trùm và chi phối toàn bộ hoạt động tài chính của mọi doanh
nghiệp trong nền kinh tế.
 Ba là, nguyên tắc giữ chữ tín trong hoạt động tài chính.
Trong quá trình quản lý tài chính để giữ gìn chữ tín với các đối tác, bạn hàng, nhà
nước, nhà cung ứng, khách hàng… thì các doanh nghiệp cần tôn trọng kỷ luật thanh toán
các điều khoản, các cam kết… được quy định trong hợp đồng kinh tế. Đồng thời các nhà
quản lý tài chính cần tỉnh táo đề phòng sự bội tín của đối phương nhằm đảm bảo an toàn
về vốn kinh doanh. Giữ chữ “ tín” trong quản lý tài chính là đạo đức, văn minh, cơ sở cho

sự trường tồn của mỗi doanh nghiệp.
 Bốn là, nguyên tắc an toàn và hiệu quả.
Trong quá trình quản lý tài chính, nhà quản lý thường xuyên phải đưa ra nhiều
phương án lựa chọn, mỗi một phương án đem lại hiệu quả khác nhau với mức rủi ro khác
nhau. Chính vì vậy, để đưa ra một quyết định tài chính có hiệu quả, nhà quản lý phải phân
tích, nghiên cứu kỹ lưỡng. Có thể chấp nhận một phương án đầu tư đem lại mức lợi nhuận
vừa phải nhưng an toàn còn hơn là một phương án có lợi nhuận rất cao nhưng đầy phiêu
lưu và mạo hiểm. Để tăng thêm đọ an toàn, doanh nghiệp còn có thể thiết lập các quỹ dự
phòng, mua bảo hiểm, hoặc phát triển cổ phiếu…cũng là những biện pháp vừa để tập trung

nguồn lực của tổ chức vào vị trí nào.
Tất cả các doanh nghiệp và tổ chức phi lợi nhuận đều phải lập kế hoạch để giúp các
nhà quản trị ra quyết định tốt hơn. Chẳng hạn, ngân sách ngân quỹ cho biết khả năng thiết
hụt tiền mặt trong tương lai. Nếu công ty nhìn thấy trước khả năng thiếu hụt tiền mặt thì họ
có thể cải thiện hoạt động thu nợ từ khách hàng, hoặc trì hoãn kế hoạch mua tài sản mới.
Việc hoạch định lập ra các tiêu chuẩn mà nhờ đó có thể kiểm soát việc sử dụng các
nguồn lực của công ty cũng như kiểm soát, thúc đẩy nhân viên, nó đảm bảo các hoạt động
được thực hiện để đạt mục tiêu mà tổ chức đã vạch ra trong kế hoạch tổng quát.Đồng thời
cũng phục vụ cho việc truyền thông các kế hoạch của tổ chức đến từng nhân viên và kết
hợp các nỗ lực của họ lại với nhau. Theo đó, tất cả các nhân viên có thể hiểu được vai trò
của họ trong việc đạt được các mục tiêu chung.
5.1.3. Phương pháp lập kế hoạch tài chính
 Căn cứ lập kế hoạch tài chính:
Kế hoạch tài chính như trên đề cập, vừa đặt ra mục tiêu, vừa là các kế hoạch biện
pháp và đồng thời vừa có tính tổng hợp. Do đó, kế hoạch tài chính được xây dựng phải dựa
trên các yếu tố sau đây:
 Kế hoạch mục tiêu trong năm của công ty, nhằm bảo đảm cho việc lập dự toán
xác định được mục đích và nhiệm vụ cần động viên khai thác nguồn thu , phân phối và sử
dụng có trọng tâm của ngân sách.
 Các thông tin dự đoán từ các bộ phận Marketing và mua sắm,…

 Hệ thống các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức thu – chi. Nhằm xác định
khả năng, mức độ, lĩnh vực cần phải khai thác, động viên nguồn thu, và cũng xác định
được nhu cầu, lĩnh vực cần phải phân phối và đầu tư.
 Đặc điểm về dòng dịch chuyển tiền tệ của doanh nghiệp.
 Phương pháp lập kế hoạch tài chính
Phương pháp quy nạp: với giả thiết cho rằng kế hoạch tài chính là sự tổng hợp rất
cả các chương trình hoạt động của từng bộ phận, từng cấp của công ty, việc lập kế hoạch
tài chính sẽ thể hiện từ dưới lên, trên cơ sở hệ thống các ngân sách bộ phận.
Phương pháp diễn giải: phương pháp này cho rằng kế hoạch tài chính là sự chuẩn bị

 Nguyên tắc hiệu lực và hiệu quả trong tổ chức kiểm tra tài chính.
5.2.3.Nội dung và phương pháp kiểm tra tài chính.
 Nội dung của kiểm tra tài chính bao gồm:
 Kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch tài chính.
 Kiểm tra thường xuyên quá trình thực hiện kế hoạch.
 Kiểm tra sau khi thực hiện kế hoạch tài chính.
 Phương pháp kiểm tra:
 Kiểm tra toàn diện: là cách kiểm tra nhằm vào toàn bộ tổ chức tài vụ và toàn bộ
các nghiệp vụ tài chính trong việc thực hiện nghiệp vụ kế hoạch tài chính với mục đích
xem xét đầy đủ tình hình tài chính có phản ánh trung thực tình hình hoạt động của doanh
nghiệp không.
 Kiểm tra trọng điểm: là cách kiểm tra chỉ tập trung vào một hay một vài nghiệp vụ
tài chính nhất định cần quan tâm trong chấn chỉnh kỷ luật tài chính, hoặc kiểm tra vấn để
nào đó có nhiều ưu điểm hay nhiều tồn tại, mâu thuẫn “nổi cộm”.
 Kiểm tra tổng hợp: là tiến hành kiểm tra toàn bộ công tác của khách thể kiểm tra
một cách có hệ thống từ trên xuống dưới.
 Kiểm tra qua chứng từ: là phương pháp kiểm tra bằng cách dựa vào các bảng biểu,
báo cáo, sổ sách, số liệu hạch toán thống kê - kế toán…
5.3. Quản lý vốn.
5.3.1. Quản lý vốn lưu động.

Vốn lưu động theo nghĩa rộng là giá trị của toàn bộ tài sản lưu động là những tài
sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của công ty. Trong mỗi chu kỳ kinh doanh chúng
chuyển hoá qua tất cả các dạng tồn tại từ tiền mặt đến tồn kho, khoản phải thu và trở về
hình thái cơ bản đầu tiên là tiền mặt. Với sự chuyển hoá nhanh như vậy, các hoạt động
quản lý vốn lưu động chiếm gần như phần lớn thời gian và tâm trí của các nhà quản lý tài
chính. Quản lý vốn lưu động duy trì quan hệ giữa từng bộ phận cấu thành cũng như tổng
thể của vốn lưu động một cách hợp lý và tìm ra các nguồn vốn phù hợp để tài trợ cho vốn
lưu động. Như vậy quản lý vốn lưu động tác động trực tiếp lên trạng thái sinh lợi và rủi ro
của doanh nghiệp.

Trong đó, quyết sách đầu tư tài sản cố định là nội dung quan trọng nhất.
5.3.3. Quản lý vốn đầu tư tài chính.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp không chỉ đầu tư trong phạm vi nội
bộ mà còn có thể đầu tư một số vốn kinh doanh của mình ra bên ngoài. Phần vốn của
doanh nghiệp được đầu tư dài hạn ra bên ngoài nhằm mục tiêu sinh lời và đảm bảo an toàn
về vốn, được gọi là đầu tư tài chính.
Có rất nhiều hình thức đầu tư tài chính ra bên ngoài, nhưng biện pháp thường được
sử dụng là: mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc liên doanh liên kết. Đây cũng là những biện pháp
để có thể kéo dài chu kỳ sống của tổ chức, phân tán ruỉ ro, bảo toàn và phát triển vốn.
5.4. Phân tích tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tài chính là quá trình tìm hiểu các kết quả của sự quản lý và điều hành tài
chính ở doanh nghiệp được phản ánh trên báo cáo tài chính , đồng thời đánh giá những gì
đã làm được, dự kiến những gì sẽ xảy ra trên cơ sở đó kiến nghị những biện pháp để tận
dụng triệt để những điểm mạnh, khắc phục các điểm yếu.
Hay nói cách khác, Phân tích tài chính doanh nghiệp là làm sao cho các con số trên
báo cáo tài chính “ biết nói” để người sử dụng chúng có thể hiểu rõ tình hình tài chính của
doanh nghiệp và các mục tiêu, các phương pháp hành động của những nhà quản lý doanh
nghiệp đó.
5.4.1. Ý nghĩa của phân tích tài chính
Hoạt động tài chính có mối quan hệ trực tiếp với hoạt động sản xuất kinh doanh của

một doanh nghiệp, và có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành, tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Do đó tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh đều có ảnh hưởng đến tình
hình tài chính doanh nghiệp. Ngược lại, tình hình tài chính tốt hay xấu đều có tác động
thúc đẩy hoặc kìm hãm đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Vì thế cần phải thường
xuyên, kịp thời đánh giá, kiểm tra tình hình tài chính của doanh nghiệp, trong đó công tác
phân tích tài chính giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa sau:
 Qua phân tích tình hình tài chính mới đánh giá đầy đủ, chính xác tình hình phân
phối, sử dụng và quản lý các loại vốn, nguồn vốn, vạch rõ khả năng tiềm tàng về vốn của
doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đề ra biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giúp doanh

cho việc nhận xét đánh giá tình hình tài chính của công ty. Dựa trên cơ sở so sánh các
thông số tài chính của doanh nghiệp.
 Nội dung phân tích tình hình tài chính:
Nhằm phát huy vai trò, tác dụng của phân tích tình hình tài chính và đạt được
những mục tiêu do phân tích đề ra, nội dung cơ bản của phân tích tình hình tài chính doanh
nghiệp bao gồm các nội dung sau:
 Phân tích khái quát về:
 Phân tích tình hình biến động tài sản và kết cấu tài sản của doanh nghiệp
 Phân tích kết cấu nguồn vốn - diễn biến nguồn vốn và tình hình sử dụng vốn.
 Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
 Phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước.
 Phân tích các thông số tài chính.
Để quá trình phân tích tài chính đạt hiệu quả thì cần phải sử dụng các tài liệu sau:
 Bảng cân đối kế toán.
 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
5.4.4. Các thông số tài chính.
Để đánh giá điều kiện và hiệu quả tài chính của một doanh nghiệp, nhà phân tích tài
chính cần kiển tra nhiều phương diện khác nhau trong sức khoẻ tài chính của chúng. Công
cụ được sử dụng phổ biến là các thông số tài chính. Thông số tài chính là sự kết nối hai dữ

liệu tài chính bằng cách chia một số này cho một số khác.
Về cơ bản có bốn nhóm thông số tài chính như sau:
 Thông số khả năng thanh toán:
Thông số khả năng thanh toán đo lường khả năng của doanh nghiệp trong việc sử
dụng các tài sản nhanh chuyển hoá thành tiền để đối phó với các nghĩa vụ tài chính ngắn
hạn. Có hai thông số cơ bản để đánh giá khả năng thanh toán là:
 Tỷ số thanh toán hiện hành.
Thông số này cho biết khả năng của công ty trong việc đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ
ngắn hạn. Thông số này nhấn mạnh đến khả năng chuyển hoá thành tiền mặt của các tài

lớp đệm an toàn bảo vệ các chủ nợ trong trường hợp giá trị tài sản giảm hay bị thua lỗ càng
cao.
 Tỷ số nợ trên tài sản.
Tổng nợ
Tỷ số nợ trên tài sản =
Tổng tài sản
Đơn vị tính: lần
Tỷ số này cao có thể dẫn đến mất an toàn về tài chính, nên tỷ số này càng nhỏ càng
tốt. Nhưng nếu doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thì tỷ số nợ trên tài sản cao sẽ giúp
tăng vốn chủ sở hữu. Tỷ số này nên dao động trong khoảng từ 30% - 70%. Nếu tỷ số này
cao hơn 70%, thì doanh nghiệp sẽ có nguy cơ gặp khó khăn lớn về tài chính khi môi
trường kinh doanh bất lợi. Tỷ số này có thể thay đổi tuỳ chính sách tài chính của công ty.
 Tỷ số cơ cấu tài sản.
TSCĐ hoặc TSLĐ
Tỷ số cơ cấu tài sản = x 100%
Tổng tài sản
Đơn vị tính: %
Tỷ số này tốt hay xấu còn phụ thuộc vào loại hình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
 Tỷ số cơ cấu nguồn vốn.

Tổng vốn chủ sở hữu
Tỷ số cơ cấu nguồn vốn = x 100%
Tổng tài sản
Đơn vị tính: %
Chỉ tiêu này càng cao giúp doanh nghiệp an toàn về tài chính và chứng tỏ khả năng
độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng lớn. Tỷ số này có thể thay đổi tuỳ theo chính
sách tài chính của doanh nghiệp.
 Thông số về khả năng hoạt động.
Các chỉ tiêu này đo lường tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Từ số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status