LUẬN VĂN:
Giải pháp quản lý nhằm nâng cao khả năng
huy động vốn tại ngân hàng đầu tư và phát
triển tỉnh Hải Dương
PHẦN MỞ ĐẦU
Sau hơn hai mươi năm năm đổi mới, nền kinh tế nước ta đã gặt hái được khá nhiều
CHƯƠNG I : CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN
I. Nguồn vốn của NHTM
1. Khái niệm
Vốn thu từ việc phát hành thêm cổ phiếu và trái phiếu :
Các NHTM sẽ thực hiện việc này khi vốn chủ sở hữu và quy mô hoạt động chưa đảm
bảo, tích tụ lợi nhuận thu được chưa đủ lớn. Nguồn thu nhập này lại phụ thuộc vào quy
định chặt chẽ và sự quản lý của nhà nước về việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu, do vậy
nguồn vốn này không thu nhập thường xuyên.
Các quỹ : Quỹ dự phòng tổn thất, quỹ phúc lợi, quỹ thặng dư,…
2.2 Vốn tiền gửi
Là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các cá nhân trong và các tổ
chức kinh tế trong xã hội thông qua các quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh
toán và các nghiệp vụ kinh doanh khác được dùng làm vốn kinh doanh.
Vốn tiên gửi này đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với các ngân hàng. Vì qui
mô của nó lớn hơn rất nhiều so với các nguồn vốn khác, thông thường nó chiếm khoảng
50% tổng nguồn vốn.
Đặc điểm của nguồn vốn này là chúng được thanh toán khi khách yêu cầu ngay kể
cả khi chưa đến hạn. Sự thay đổi, đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn làm thay đổi cầu thanh
khoản của ngân hàng. Do sự biến động của nó nên các ngân hàng sẽ không sử dụng hết
nguồn vốn này vào kinh doanh mà phải dự trữ bắt buộc một tỉ lệ hợp lý để đảm bảo cho
việc thanh toán.
Lãi suất, tỷ giá, thu nhập cá nhân, chu kỳ tiêu dùng có ảnh hưởng lớn đến loại
nguồn vốn này. Lãi suất cao là một nhân tố kích thích các doanh nghiệp, dân cư gửi và
cho vay. Địa điểm ngân hàng, mạng lưới chi nhánh và quầy tiết kiệm, các loại hình huy
động đa dạng đều ảnh hưởng đến tới qui mô và cấu trúc của nguồn tiền. Chu kỳ chi tiêu
ảnh hưởng tới qui mô và tính ổn định của nguồn tiền. Cuối năm lễ tết dân chúng và các doanh nghiệp cần rất nhiều tiền mặt để chi tiêu, vì thế nguồn tiền này co xu hướng giảm.
Ở những nơi có thu nhập cao như các thành phố dân cư đông hình thành nguồn tiền gửi
của ngân hàng.
Nguồn trong thanh toán
Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành nguồn thanh toán
( séc trong quá trình chi trả, tiền ký quĩ để mở L/C ) Những ngân hàng là ngân hàng đầu
mối trong đồng tài trợ có kết số dư từ tiền gửi của ngân hàng các thành viên chuyển về để
thực hiện.
II. Huy động vốn của ngân hàng thương mại
1. Khái niệm
Huy động vốn là một nghiệp vụ cơ bản của NHTM nhằm thu hút vốn từ bên ngoài để
phục vụ cho kinh doanh của mình.
2. Các hình thức huy động vốn
Các hình thức huy động vốn có thể được phân loại theo tiêu thức phổ biến : theo thời
gian huy động, theo đối tượng huy động, theo loại động tiền huy động và theo công cụ
huy động.
Phân loại theo thời gian huy động
Cách huy động này gồm ba hình thức :
Huy động ngắn hạn
Là hình thức huy động vốn với thời gian từ 12 thánh trở xuống. Vốn ngắn hạn luôn
chiêm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn huy động của các NHTM và được hình thành
chủ yếu từ tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiệm của dân cư, tiền
thu được từ việc phát hành kỳ phiếu ngân hàng.
Do thời gian huy động ngắn nên độ rủi ro trong hình thức huy động này thấp hơn các
hình thức huy động vốn dài hạn. Vì vậy lãi suất huy động ngắn hạn bao giờ cũng thấp
hơn lãi suất trung và dài hạn. Huy động trung hạn
Là hình thức huy động vốn trong thời gian từ 1-5 năm. Vốn trung hạn được hình thành
khoản này, ngược lại các khoản thanh toán hoặc rút tiền mặt sẽ làm giảm số dư này. Tuy
nhiên, xét trên tổng thể các tài khoản này đã đem lại cho ngân hàng một lượng vốn khá
ổn định, đặc biệt là đối với các NHTM có số lượng khách hàng là các tổ chức kinh tế.
Phát triển và quản lý tốt tài khoản này cho phép ngân hàng có được một nguồn vốn đáng
kể với chi phí thấp.
Các NHTM và các tổ chức tín dụng khác.
Đây là đối tượng huy động vốn khá thường xuyên của các NHTM. NHTM huy động
vốn từ các đối tượng này dưới hình thức vay ngắn trên thị trường liên ngân hàng nhằm
mục đích đảm bảo khả năng thanh toán, bù đắp thiếu hụt tạm thời. Các NHTM và tổ chức
tín dụng khi có dự trữ vượt quá yêu cầu ( do có sự gia tăng bất ngờ về các khoản huy
động hoặc giảm cho vay ) họ sẵn sàng cho vay ngắn hạn các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi
này để thu lợi nhuận.
Ngoài ra, việc một NHTM này mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại một NHTM
khác cho phép NHTM giữ tài khoản một lượng vốn nhất định, mặc dù nguồn vốn này có
tính ổn định rất thấp.
Ngân hàng Trung ương
NHTM vay vốn của NHTW khi không còn huy động được nguồn nào khác, và chỉ
vay bù đắp thiếu hụt tạm thời hoặc đảm bảo khả năng thanh toán.NHTW cho NHTM vay
chủ yếu dưới hình thức tái chiết khấu hoặc cầm cố các thương phiếu mà NHTM nắm giữ.
NHTW thực hiện những khoản cho vay trên chủ yếu nhằm mục đích thực thi chính
sách tiền tệ của mình,giữ cho hệ thống thanh toán vận hành được trôi chảy hoặc để đảm
bảo an toàn hê thống ngân hàng. NHTW do vậy có qui định rất chặt chẽ trong việc cho
vay này nhằm buộc các NHTM phải quản lý nguồn vốn của mình một cáhc có hiệu quả,
đảm bảo cho các nhu cầu sử dụng và khả năng thanh toán của mình, đồng thời cũng buộc
các NHTM phải năng động và nỗ lực tìm kiếm các nguồn khác trên thị trường tài chính
trước khi nghĩ đến việc vay từ NHTW.
2.3 Phân loại theo loại đồng tiền huy động
không ổn định, ngân hàng có nghĩa vụ thanh toán nó tại bất kỳ thời điểm nào theo yêu
cầu của chủ tài khoản. Nhưng nếu xét trên tổng thể các khoản tiền gửi với qui mô khá ổn
định. Quản lý và dự báo tốt tình hình biện động tiền gửi thanh toán sẽ giúp ngân hàng có
một nguồn vốn không nhỏ với chi phí thấp phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình,
đặc biệt các hoạt động vay ngắn hạn, các hoạt động nắm giữ các tài sản sinh lời có tính
lỏng cao như tín phiếu kho bạc.
Bên cạnh đó, ngân hàng còn có thu nhập từ thu phí dịch vụ thanh toán. Tiền gửi thanh
toán là một nguồn vốn quan trọng đem lại nhiều lợi ích cho ngân hàng. Vì vậy, các ngân
hàng luôn cố gắng huy động ngày càng nhiều loại tiền này.
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền mà cá nhân, tổ chức gửi vào ngân hàng với mục
đích hưởng lãi là chính, bên cạnh mục đích an toàn hoặc để thực hiện các chương trình
tiết kiệm cho tương lai. Khách hàng không thể trực tiếp sử dụng tiền trong tài khoản tiết
kiệm để thanh toán qua ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm có thể có kỳ hạn hoặc không có kỳ
hạn. Sử dụng hình thức gửi tiết kiệm không kỳ hạn, khách hàng có quyền rút tiền ra bất
cứ lúc nào họ muốn. Tuy nhiên, lãi suất cho hình thức này thấp hơn lãi suất cho hình thức
gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Sử dụng hình thức gửi tiết kiệm có kỳ hạn, khách hàng cũng có
thể rút tiền trước kỳ hạn khi họ muốn. Trong trường hợp này thì khách hàng sẽ chỉ được
nhận với lãi suất bằng lãi suất gửi tiết kiệm không kỳ hạn.
Tiền gửi tiết kiệm, đặc biệt là loại có kỳ hạn được đánh giá là nguồn vốn quan trọng
đối với các NHTM bởi tính ổn định và khả naeng cung ứng cực lớn của thị trường mặc
dù chi phí huy động tương đối cao. Nắm giữ nguồn vốn này trong tay, các NHTM vó thể
tiến hành cjo vay trung và dài hạn nhiều hơn với độ rủi ro thanh khoản thấp.
Các NHTM ở nước ta hiện nay đang thiếu vốn để cho vay trung và dài hạn. Trong tình
hình nhu cầu của nền kinh tế về loại vốn này không ngừng gia tăng, tăng cường huy động
tiền gửi tiết kiệm của dân cư đang là nhiệm vụ trọng tâm của nhiều ngân hàng.
Phát hành kỳ phiếu và trái phiếu Để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của mình, đặc biệt là việc cho vay trung và
dài hạn, NHTM chủ động huy động vốn bằng việc phát hành kỳ phiếu và trái phiếu trên
Sự ảnh hưởng của nền kinh tế đến hoạt động huy động vốn của hệ thồng NHTM dưới
2 giác độ :
Khi nền kinh tế đang trong tăng thời kỳ tăng trưởng sẽ tạo ra hàng loạt các điều kiện
thuận lợi cho công tác huy động vốn như sự tích luỹ của nền kinh tế cao, các doanh
nghiệp muốn mở rộng quy mô sản xuất, nhu cầu đầu tư cao. Các dịch vụ của ngân hàng
được sử dụng nhiều hơn tạo ra các nguồn vốn cho ngân hàng.
Ngược lại khi nền kinh tế đang trong thời kỳ suy thoái thì sản xuất kinh doanh của mọi
thành phần kinh tế đình đốn, vật tư hàng hoá ứ đọng, công nhân thất nghiệp… dẫn đến
thu nhập của các doanh nghiệp và dân chúng bị ảnh hưởng nghiêm trọng, điều đó đồng
nghĩa tích luỹ trong nền kinh tế giảm mạnh. Các nhà đầu tư không muốn đầu tư vào kinh
doanh sản xuất. Và sự lạm phát luôn đi kèm với nền kinh tế suy thoái, làm giá trị đồng
tiền giảm. Tâm lý của dân chúng không muốn gửi tiền vào ngân hàng để tránh bị trượt
giá của đồng tiền, họ chuyển sang cất trữ bằng ngoại tệ hay vàng để đảm bảo an toàn hơn.
Như vậy hoạt động huy động vốn của ngân hàng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
1.2 Môi trường kinh tế
Sự phát triển của hệ thống ngân hàng và thị trường chứng khoán có ảnh hưởng trực
tiếp đến hoạt động huy động vốn của các NHTM.
Khi hệ thống ngân hàng phát triển mạnh mẽ dẫn đến sự cạnh tranh giữa các ngân hàng
với nhau và với các tổ chức tài chính phi ngân hàng có ảnh hưởng mạnh mẽ trực tiếp đến
hoạt động huy động vốn của các NHTM. Nói chung sự cạnh tranh mà càng gay gắt thì
càng bất lợi cho các ngân hàng, ít nhất là việc gia tăng chi phí đầu vào và thu hẹp giá cả
đầu ra. Tuy nhiên trong cuộc cạnh tranh này thì lại mang cho các ngân hàng những cơ hội
và thách thức, nếu ngân hàng nào biết quản lý và có những chiến lược tốt thì sẽ chiến
thắng. Khi đó ngân hàng sẽ mở rộng được thị phần cả đầu vào và đầu ra của mình; ngược
lại sẽ bị thu hẹp qui mô hoạt động có thể dẫn tới phá sản. Sự phát triển của thị trường chứng khoán cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng
huy động vốn của NHTM. Khi thị trường chứng khoán phát triển nó sẽ dễ thu hút được
tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Tất cả những động thái này sẽ dẫn đến sự giảm mức cung tiền trong
nền kinh tế, lãi suất gia tăng…NHTM vì thế rất khó khăn trong hoạt động huy động vốn
nói riêng và các hoạt động kinh doanh khác nói chung. Ngược lại một chính sách tiền tệ
nới lỏng sẽ tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho hoạt động huy động vốn của NHTM.
Tập quán tiêu dùng, cất trữ và yếu tố tâm lý của khách hàng
Những thói quen thanh toán hoặc cất trữ bằng tiền mặt của một bộ phận dân cư ở
nước ta vẫn rất lớn, thậm chí có cả một số bộ phận tổ chức kinh tế xã hội ( vì nhiều lí do
khác nhau như tính bí mật, hoạt động ngầm….) đã làm hạn chế khả năng huy động vốn
của các NHTM. Dân cư nắm trong tay một vốn lớn, và nếu tập lập cho họ được thói quen
sử dụng các dịch vụ ngân hàng thì ngân hàng sẽ huy động được một nguồn vốn vô cùng
tiềm năng này.
Tâm lý của khách hàng cũng ảnh hưởng nhiều đến huy động vốn của ngân hàng. Khi
muốn gửi tiền vào ngân hàng thì tâm lý chung của khách hàng muốn gửi vào ngân hàng
nào có bề thế, uy tín cao, có lãi suất huy động vốn hấp dẫn, thủ tục gửi vào rút ra thuận
tiện, đặc biệt là phải giữ được bí mật về việc gửi tiền của họ. Ngân hàng nào thoả mãn
được các yếu tố trên của khách hàng thì ngân hàng đó sẽ được khách hàng lựa chọn.
2. Những yếu tố bên trong
Trong tình hình cạnh tranh rất gay gắt như hiện nay thì khả năng và hiệu quả huy
động vốn phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của các NHTM. Năng lực cạnh tranh đó chủ
yếu được thể hiện qua chính sách lãi suất, chính sách sản phẩm, chính sách ưu đãi và
chăm sóc khách hàng.
2.1 Chính sách lãi suất
Chính sách lãi suất ( lãi suất đầu vào và lãi suất đầu ra ) có tác động mạnh mẽ đến
khả năng huy động vốn của ngân hàng. Lãi suất đầu ra cao sẽ cho phép lãi suất đầu vào nhích lên mà vẫn đảm bảo lợi ích của ngân hàng. Lãi suất đầu vào phải có tính cạnh tranh CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ
PHÁT TRIỂN TỈNH HẢI DƯƠNG
I. Khái quát tình hình hoạt động của ngân hàng
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam được thành lập theo quyết định số 177/
TTg ngày 26/04/1957 của Thủ tướng chính phủ với tên gọi Ngân hàng Kiến thiết Việt
Nam trực thuộc bộ tài chính, có nhiệm vụ quản lý cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
Là một thành viên của Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, chi nhánh Hải Dương
cũng được thành lập từ rất sớm ngay từ những ngày đầu của sự nghiệp khôi phục và phát
triển kinh tế. Với số lượng cán bộ có 9 đồng chí: - Đ/c Đặng Huy Sách giữ chức vụ
trưởng chi nhánh , có 2 bộ phận cấp phát và kế toán. Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh
Hải Dương đã trưởng thành gắn liền với sự nghiệp cách mạng, sự chuyển mình của đất
nước, của ngành và của địa phương với các tên gọi :
Ngân hàng kiến thiết Hải Dương ( 26/4/1957)
Ngân hàng Đầu tư và xây dựng Hải Hưng (1981) trực thuộc Ngân hàng nhà nước
Việt Nam
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Hải Hưng (1991)
Ngân hàng Đầu tư và phát triển Hải Dương (12/1996)
Đến nay Ngân hàng Đầu tư và phát triên tỉnh Hải Dương đã trở thành một ngân
hàng lớn có tổng tài sản hàng ngàn tỷ đồng, còn có 2 phòng giao dịch tại 2 khu vực công
nghiệp quan trọng của tỉnh là Hoàng Thạch ( Kinh Môn) và Tiền Trung (Nam Sách), 2
điểm giao dịch, 12 phòng nghiệp vụ, tổng số 120 cán bộ công nhân viên. Cùng với quá trình xây dựng, trưởng thành và phát triển cảu toàn hệ thống. Bằng sự
lương, quản lý hồ sơ… Do vậy việc hoạch toán, thanh toán, chuyển tiền kịp thời, chính
xác, phục vụ khách hàng thuận tiện, nhanh chóng.
Trong quá trình hội nhập và phát triển, để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của
khách hàng, Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Hải Dương đã phát triển và mở rộng các
dịch vụ thanh toán trong nước, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh, đại lý
uỷ thác đầu tư… nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh trên địa bàn như xuất khẩu các sản
phẩm nông sản, các sản phẩm công nghiệp nhẹ của ngành giầy, may và các sản phẩm thủ
công mỹ nghệ khác ra thị trường thế giới, tạo nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp trong
thanh toán…
Ngân hàng đã nhiều năm liền đạt danh hiệu đơn vị xuất sắc trong toàn bộ hệ thống
ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, lá cờ đầu ngành ngân hàng trên địa bàn tỉnh.
Được chủ tịch nước tặng huân chương lao động hạng ba, huân chương lao động hạng nhì.
Thủ tướng chính phủ, Thống đốc ngân hàng nhà nước, chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương,
tổng giám đốc ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam và các cấp ngành tặng nhiều
bằng khen, giấy khen cho tập thể và cá nhân cán bộ công nhân viên chức. Đản bộ đạt
danh hiệu đảng bộ trong sạch vững mạnh. Các tổ chức đoàn thể vững mạnh xứng đáng là
thành viên “Đơn vị anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới”
Sơ đồ bộ máy quản lý của Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Hải Dương
Stt
Chỉ tiêu TH
2006
KH
2006
TH năm 2007
31/12/07
%TT
so 2006
% HT
KH
I Chỉ tiêu chính
1
Chênh lệch thu-chi 18,7 60,0 70,6 299% 118%
2
Thu nợ HTNB( gốc
và lãi)
- 33 42,9 130%
3
Thu dịch vụ ròng 3,5 5,0 5,602 59,6% 112%
4
Tỷ lệ nợ xấu 16,77% 7% 4,6%
5
Giới hạn dư nợ tín
dụng cuối kỳ
801 1.300 1.286 60,5% 98,9%
6 Dư nợ cao nhất trong
16 HĐV bình quân 1.010 1.457 45,7%
17 Dư nợ tín dụng bình
quân
636 850 33,6%
18 tỷ lệ nợ quá hạn 0,52% 0,24%
19 Lợi nhuận trước thuế 3,6 33 817% Trước những khó khăn và thử thách, nhận thức rõ yêu cầu nhiệm vụ năm 2007, ngay từ
đầu năm ngân hàng đã ổn định tổ chức , quyết tâm, nỗ lực triển khai thực hiện đồng bộ
nhiều giải pháp, nội bộ đoàn kết, thống nhất, năng động trong chỉ đạo điều hành và triển
khai thực hiện. Do vậy đã hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh và thực
hiện tốt các nhiệm vụ đề ra. Tuy nhiên có nhiều tổ chức tín dụng ngoài quốc doanh hoạt
động mới trên địa bàn nên thị phần hoạt động bị giảm so với trước.
- Tổng tài sản :
Tổng tài sản 31/12/2007 đạt 1.671 tỷ đồng, tăng trưởng 34% so năm trước. Cơ cấu tài
sản có : Dư nợ cho vay chiếm 80%, dự trữ chiếm 0,8%, tổng tài sản khác chiếm 19,2%.
- Huy động vốn:
Ngân hàng đã đẩy mạnh thực hiện chính sách khách hàng, chăm sóc, củng cố và phát
triển mối quan hệ hợp tác với bạn hàng. Tích cực triển khai các sản phẩm huy động vốn,
đa dạng hoá loại hình huy động : Huy động vốn tặng quà, khuyến mại, thể bảo hiểm BIC-
Bảo an, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm ổ trứng vàng, Đổi mới phaong cách giao dịch,
trang bị cơ sở vật chất hiện đại đảm bảo phục vụ tốt nhất cho khách hàng.
Tổng nguồn vốn huy động tại chỗ đạt 1.599 tỷ đồng, tăng 44,4% so năm trước. Tiền
gửi tổ chức kinh tế đạt 805 tỷ đồng, tăng 153% so năm trước. tiền gửi dân cư đạt794 tỷ
đồng, tăng 0,63% so năm trước, tốc độ tăng dân cư thấp, chủ yếu tăng trong quý I và
giảm dần vào cuối năm.
Thu dịch vụ ròng đạt 5,6 tỷ đồng, tăng 59,5 % so năm trước, đạt 112% kế hoạch và
chiếm 20% tổng chênh lệch thu chi thực trong năm. Thị phần thu dịch vụ của ngân hàng
chiếm 20,6% trên địa bàn.
Thu dịch vụ bảo lãnh 1.349 triệu đồng, thu KDNT đạt 453 triệu đồng, thu dịch vụ
thanh toán quốc 3.979 triệu đồng, phí phát hành thẻ đạt 225triệu đồng, thu dịch vụ ngân
quỹ đạt 78triệu đồng, thu dịch vụ khác 204 triệu đồng.
Số lượng thẻ ATM phát hành trong năm đạt: 10.717 thẻ, tăng 297% so năm trước,
đạt 153% kế hoạch năm, luỹ kế số thẻ phát hành là 16.049 thẻ.
Dư bảo lãnh đạt 124 tỷ đồng.
Doanh số mua ngoại tệ đạt 52,338 triệu USD, bán 52,432 triệu USD , tăng 94% so
với năm trước.
Doanh số xuất nhập khẩu đạt 66,706 triệu USD, tăng 50,3% so đầu năm, đạt 103%
kế hoạch.
Chi trả kiều hối đạt 2.305 món, số tiền: 3,459 triệu USD. Trong đó số món chuyển
tiền kiều hối WU 508 món, đạt 101,6% kế hoạch.
Số đơn vị chấp nhận thẻ thanh toán: 11.
- Công tác khai thác phí bảo hiểm:
Doanh thu khai thác phí bảo hiểm đạt1,798 tỷ đồng, đạt 142,6% kế hoạch năm.
II. Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng đầu tư và phát triển tỉnh Hải Dương.
1. Sơ lược qua về huy động vốn của ngân hàng.
Với phương châm phát huy nội lực, lấy hiệu quả sản xuất kinh doanh của bạn
hàng làm mục tiêu hoạt động. Ngân hàng đã đẩy mạnh nhiều hình thức, giải pháp huy
động vốn và chính sách khuyến khích công tác huy động vốn của mình phải phù hợp với
các quy định của luật ngân hàng; nhằm khơi tăng các nguồn vốn ngắn hạn, trung và dài
hạn trong mọi tầng lớp dân cư, tổ chức kinh tế xã hội… để mở rộng kinh doanh và hoàn
thành các chỉ tiêu kế hoạch mà ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam giao cho.
Các hình thức huy động vốn mà ngân hàng đang thực hiện là: