LUẬN VĂN:
Thực trạng và xu hướng biến động của các
nhân tố tác động tới thị trường xuất khẩu
hàng dệt may thời gian qua
Lời mở đầu
Ngày nay, khi nền kinh tế thị trường đã phát triển, hàng hoá đã được lưu thông
rộng rãi trong các khu vực, các nước khác nhau trên thế giới. Chính sách mở cửa của
Đảng và Nhà nước đã làm thay đổi cơ bản bộ mặt của nền kinh tế. Các doanh nghiệp
trong nước cũng như các doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam luôn tìm
kiếm cho mình những cơ hội kinh doanh mới nhằm thu được lợi nhuận tối đa, đồng thời
bảo đảm được các mục tiêu an toàn và thế lực cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để thực hiện tất cả các mục tiêu đó không phải là điều đơn giản, đôi khi
phải trả những cái giá rất đắt, thậm chí có thể thất bại dẫn đến phá sản. Nghiên cứu vấn
đề này, nhiều nhà kinh tế cho thầy rằng sự thành công hay thất bại của một ngành trên
thế giới trong thời gian qua đã tác động mạnh mẽ đến thị trường dệt may nói chung và
ngành dệt, may Việt Nam nói riêng càng làm cho việc nghiên cứu về thị trường hàng dệt
may trở nên cấp thiết. Nhằm phân tích, đánh giá những thuận lợi và khó khăn của hàng
dệt may Việt Nam, trên cơ sở đó xác lập những căn cứ khoa học để dự báo khả năng cạnh
tranh của hàng dệt may Việt Nam cũng như đề xuất một số chính sách, giải pháp hỗ trợ
cho việc nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt may trong nước thời gian tới.
Trong đề tài này, vì thời gian không cho phép và khối lượng tài liệu tham khảo hạn
chế . Bên cạnh đó, việc phân tích các nhân tố tác động tới thị trường xuất khẩu là một
khía cạnh rất rộng. Có rất nhiều các nhân tố tác động tới thị trường hàng hoá nói chung
và hàng dệt may nói riêng, nhưng trong phạm vi một đề án môn học tôi chỉ xin phép đi
sâu vào những nhân tố chủ yếu sau: Những nhân tố ảnh hưởng tới giá; Những nhân tố
ảnh hưởng tới chất lượng; Những nhân tố ảnh hưởng tới thị trường tiêu thụ.
Hy vọng qua đề án này chúng ta sẽ có một cách phân tích khái quát nhất tình hình
thị trường xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam hiện nay.
I. Cơ sở lý luận
1. Khái niệm, bản chất và vai trò của các nhân tố tác động tới thị trường xuất khẩu
hàng dệt may
1.1.Về giá cả
Theo C.Mác, giá trị hàng hoá bao gồm lao động sống và lao động quá khứ kết tinh
trong sản phẩm hay hàng hoá (C+V+m). Nó được tạo ra thông qua sản xuất và được hoàn
thành thông qua tiêu dùng. Trong nền kinh tế thị trường, giá cả là một hình thức biến
tướng của giá trị. Dưới tác động của các quy luật kinh tế, giá cả của một sản phẩm - hàng
hoá có thể biến động lên, xuống xoay quanh giá trị. Giá cả chịu tác động bởi rất nhiều
nhân tố, tuy nhiên có thể nói những nhân tố quan trọng nhất tác động đến giá cả đó là:
Chi phí đầu vào (C + V), bao gồm tư bản bất biến (máy móc, tài sản cố định) và tư bản
khả biến (tiền lương nhân công, nguồn nguyên, vật liệu ). Bên cạnh đó, giá cả hàng hoá
chịu sự tác động rất lớn của các quy luật kinh tế, đặc biệt là quy luật cung- cầu.
Giá cả là một trong những yếu tố quyết định sức cạnh tranh của sản phẩm. Một doanh
nghiệp có sản phẩm có chất lượng tốt, giá cả hợp lý thì luôn chiếm ưu thế trên thị trường.
cầu này, cần quan tâm tới ảnh hưởng của cách mạng khoa học, nhất là hoá học và ảnh
hưởng của tốc độ tăng dân số đang chi phối giá dệt may.
- Giá nhân công và nguyên vật liệu đầu vào: Giá nhân công và nguyên vật liệu
đầu vào có ý nghĩa quan trọng tới lợi thế cạch tranh của hàng hoá. Nếu giá nhân công và
nguyên vật liệu cao sẽ làm cho giá đầu vào cao lên, điều đó dẫn tới giá của hàng hoá đó
trên thị trường sẽ cao lên và sẽ ảnh hưởng tới thị trường hàng hoá đó.
- Nhu cầu khách hàng: Hàng dệt may có yêu cầu phong phú và đa dạng tuỳ thuộc
vào đối tượng tiêu dùng, người tiêu dùng khác nhau về văn hoá, phong tục tập quán, tôn
giáo, khác nhau về khu vực địa lý, khí hậu, giới tính, tuổi tác… sẽ có nhu cầu rất khác
nhau về trang phục. Nghiên cứu thị trường để nắm vững nhu cầu tiêu dùng của từng
nhóm người trong các bộ phận thị trường khác nhau có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
việc định giá của sản phẩm tiêu thụ.
- Sự canh tranh của các đối thủ khác: Xu thế toàn cầu hoá đang diến ra mạnh
mẽ, sự thâm nhập cũng như sự bành trướng của rất nhiều các đối thủ khác đã là cho sức
ép cạnh tranh được nâng cao. Điều này đã làm ảnh hưởng rất nhiều tới giá cả tiêu thụ. Để
đảm bảo tính cạnh tranh đó thì các ngành phải hạ thấp giá cả của mình dựa trên cơ sở hạ
thấp gía thành sản phẩm.
2.2. Các yếu tố tác động tới mẫu mã chất lượng
- Công nghệ: Ngày nay công nghệ thường được coi là sự kết hợp giữa “phần
cứng” và “phần mềm”. Phần cứng đó là trang thiết bị, khí cụ, nhà xưởng. Phần mềm bao
gồm: Thành phần con người có kỹ năng, tay nghề, kinh nghiệm của người lao động; thứ
hai là thành phần thông tin, bao gồm các bí quyết, quy trình, phương pháp, các dữ liệu và
các bản thiết kế; thứ ba là thành phần tổ chức, thể hiện trong việc bố trí, sắp xếp, điều
phối, quản lý. Bất kỳ quá trình nào cũng cần 4 thành phần nói trên. Sự kết hợp 4 thành
phần trên đây là điều kiện cơ bản đảm bảo cho hoạt động sản xuất đạt hiệu quả cao. Khoa
học công nghệ ngày càng phát triển, ngày càng được áp dụng nhiều và hoạt động sản
xuất. Với việc vận hành các loại máy móc kỹ thuật cao, đội ngũ cán bộ quản lý hiệu quả,
đội ngũ công nhân lành nghề…đã làm cho sản xuất ngày càng nâng cao hơn, chất lượng
được tăng lên đáng kể, mẫu mã thêm đa dạng hơn phong phú hơn.
kinh doanh xuất nhập khẩu theo tinh thần Nghị định số 02/1998/NĐ-CP và Nghị định số
57/1998/NĐ-CP đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động
xuất nhập khẩu.
Luật khuyến khích đầu tư trong nước (sửa đổi) theo Nghị định số 07/1998/NĐ-CP
cũng như Luật đầu tư nước ngoại (sửa đổi ) theo nghị định 10/1998/ NĐ-CP đã quy định
các chế độ ưu đãi đầu tư, về giảm thuế, miễn thuế nhập khẩu nguyên vật liệu dùng để sản
xuất hàng xuất khẩu, về tín dụng ưu đãi…, với các dự án sản xuất nguyên phụ liệu may, các dự
án có tỷ lệ sản phẩm xuất khẩu cao đã thao gỡ phần nào những khó khăn về tài chính của
doanh nghiệp cũng như khuyến khích về đầu tư vào ngành dệt may.
Các thời hạn tăng thời hạn hoàn thuế, miễn thuế nhập khẩu nguyên vật liệu để sản
xuất hàng xuất khẩu; về đơn giản hoá thủ tục thanh lý hợp đồng gia công cũng như các
quy định về hàng xuất khẩu, thưởng hạn ngạch cho các doanh nghiệp có kim ngạch xuất
khẩu cao và xuất khẩu sang các thị trường không hạn ngạch đã giải quyết được những
khó khăn trong tổ chức kinh doanh xuất khẩu và khuyến khích các doanh nghiệp tìm
kiếm thị trường xuất khẩu.
- Xu hướng tự do hoá mậu dịch thế giới: Ngày nay trong tiến trình toàn cầu hoá
kinh tế đang diễn ra gay gắt và Việt Nam cũng không ngoài vòng xoáy đó. Tham gia hội
nhập khu vực và thế giới , ngành dệt may Việt Nam đứng trước những cơ hội lớn của một
thị trường thế giới rộng lớn với tiềm năng lớn về khoa học công nghệ cũng như về
vốn…và những thách thức đặt ra cũng rất lớn cần phải vượt qua.
Tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và thế giới như AFTA, APEC,
ASEM, WTO…ngoài các quy chế tối huệ quốc (MFN) và đãi ngộ quốc gia (NT), ta còn
có cơ hội được hưởng ưu đãi về thương mại, đầu tư và các lĩnh vực khác mà các nước
thành viên của tổ chức này dành cho nhau. Các tổ chức ASEAN/AFTA, APEC,
ASEM,WTO,… dành những ưu đãi riêng về miễn trừ, ân hạn trong việc thực hiện các
nghĩa vụ cho các nước đang phát triển, chậm phát triển và các nước trong thời kỳ chuyển
đổi (có mức thu nhập dưới 1000USD/người ) ở tất cả các lĩnh vực. Các nước đang phát
triển sẽ được hưởng đối xử ưu đãi về mức độ cam kết mở cửa và về thời hạn thực hiện
các nghĩa vụ để bán sản phẩm của mình. Gia nhập WTO, tham gia AFTA, APEC… sẽ
1.1.Thực trạng của những nhân tố tác động tới giá cả
- Về quan hệ cung-cầu: Đối với ngành dệt may Việt Nam, thực trạng của nó trong
những năm gần đây rất đáng báo động. Với những công nghệ lạc hậu, cũ kỹ, quy mô của
những nhà cung cấp bé nhỏ, chất lượng chưa đạt yêu cầu của ngành may mặc xuất khẩu.
Mặt khác có nhiều nhà máy dệt đã bị thua lỗ và có những thông tin không tốt của khách
hàng về ngành dệt may trong nước đã khiến cho các khách hàng chuyển sang tiêu thụ
hàng dệt may nước ngoài. Như vậy có thể nói, ngành dệt may trong nước đang trong tình
trạng đáng lo ngại, quyền lực đàm phán của nhà cung cấp trong nước hầu như không có.
Trong khi đó, ngành dệt may hiện nay phát triển hầu hết ở tất cả các nước với chất
lượng chủng loại rất đa dạng tất cả đều được sản xuất và phân phối trên phạm vi toàn cầu.
Cầu của sản phẩm dệt may Việt Nam tương đối lớn kể từ khi các chính sách kinh tế mở
cửa và hiệp định thương mại Việt Mỹ được ký kết tạo điều kiện cho người tiêu dùng trên
thế giới biết được sản phẩm may Việt Nam. Nhưng Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó
khăn do tỷ lệ nội địa hoá chưa cao, vẫn phải nhập khẩu nguyên liệu với tỷ lệ lớn và
nguyên liệu phải chịu thuế nhập khẩu. Điều này dẫn đến là tăng giá thành sản phẩm, là
giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới. Nhưng Việt Nam luôn có chính sách
giải quyết vấn đề này, nên giá trị xuất khẩu của ngành may Việt Nam vẫn có xu hướng
tăng tức là cầu của sản phẩm này có xu hướng tăng (Biểu)
H×nh 2.7 Kim ngach xuÊt khÈu ngµnh dÖt may
(1992-2001)
850
1450 1450
1892
2000
1747
1150
476
239
190
0
nghệ hiện đại. Hơn nữa giá nhân công lao động Việt Nam rẻ, rẻ hơn rất nhiều các nước
khác trên thế giới ( Giá nhân công của Việt Nam rẻ nhất khu vực Châu á, từ 0,16-0,35
USD/giờ so với 0,32 USD/giờ của Inđônêsia, 1,13 USD/giờ của Malaixia, 1,18 USD/giờ
của Thái Lan, 3,16 USD/giờ của Singapore). Như vậy với chi phí nhân công rẻ hơn rất
nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới cho thấy ngành dệt may có lợi thế
rất lớn trong việc giảm giá thành sản xuất, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành
dệt may của mình trên thị trường khu vực và quốc tế.
Tuy Việt Nam có được lợi thế như vậy nhưng sức cạnh tranh của ngành dệt may hiện
nay còn thấp khi tiến hành hội nhập khu vực và thế giới. Nguyên nhân là hầu hết các loại
chi phí cho một đơn vị sản phẩm đều cao hơn từ 15%-20% (trừ giá nhân công), nên giá
thành dệt may chưa cạnh tranh được với hàng các nước trong khu vực và trên thế giới.
Các chi phí về nguyên phụ liệu đều cao do chủ yếu được nhập khẩu từ nước ngoài, do
công nghệ lạc hậu, mức tiêu hao lớn, hệ thống cung cấp đầu vào chưa kiểm soát chặt chẽ,
chi phí trung gian cao và chủ yếu Việt Nam làm gia công xuất khẩu thông qua nước thứ 3
nên dễ bị ép giá gây nhiều thua thiệt cho các doanh nghiệp xuất khẩu nên giá thành cao
làm giảm đi khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam.
- Cạnh tranh của các đối thủ trên thế giới: Trên thị trường dệt may thế giới có
nhiều sản phẩm đa dạng về kiểu dáng, kích thước, màu sắc…tuy nhiên cũng chưa đáp
ứng được đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng. Đặc biệt đối với hàng dệt may xuất khẩu
của Việt Nam chỉ có sản xuất một ít kiểu hàng, mẫu mã lại không phong phú, không linh
hoạt đối với nhu cầu thị trường. Trong khu vực hàng dệt may Việt Nam phải cạnh tranh
rất mạnh với các đối thủ như Indonesia, Thái lan Hiện nay thị trường xuất khẩu chủ yếu
của dệt may Việt Nam là EU và Nhật Bản, nhưng thời gian qua ta bị hàng hoá của Trung
Quốc cạnh tranh rất gay gắt về giá do Trung Quốc đã gia nhập WTO nên có rất nhiều
thuận lợi trong việc xuất khẩu. Đối với thị trường Mỹ là thị trường nhập khẩu dệt may
lớn nhất thế giới trong những năm qua, nhưng do chuea có tối huệ quốc (MFN) nên hàng
dệt may việt Nam vẫn còn chịu thuế xuất nhập khẩu cao nên rất khó cạnh tranh với cacs
đối thủ của nước khác. Dệt may Việt Nam muốn có thị trường rộng phải có những kiều
hàng thích hợp cho tất cả các loại tuổi, tất cả các khổ người, từ những đàn ông, đàn bà,
Trong khi đó, trang thiết bị ngành may đã tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng,
nhất là về tính năng công dụng, từ máy đạp chân C22 của Liên Xô cũ, máy 8322 của
Đức đến JUKI của Nhật Bản và FFAP của CHLB Đức. Số máy chuyên dùng cũng tăng
lên đáng kể để đáp ứng với yêu cầu của sản xuất và của chủng loại mặt hàng như máy vắt
năm chỉ, máy thùa đính, trần dầy pasant, may cạp bốn kim, bàn là treo, bàn là hơi có đệm
hút chân không Trong từng công đoạn sản xuất may cũng được trong bị thêm máy mọc
mới với tính năng công dụng mới nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng
sản phẩm trên mỗi công đoạn của chu trình sản xuất.
Một số năm gần đây, ngành dệt may đã có một số dây chuyền kéo sợi mới, sử dụng
công nghệ hiện đại tự động cao, các máy ghép tự động khống chế chất lượng, ứng dụng
các kỹ thuật vi mạch điện tử vào hệ thống điều khiển tự động và kiểm tra chất lượng
sợi…Trong khâu dệt vải bông, nhờ sử dụng các thiết bị xe, hấp, giảm trọng lượng nhiều
sản phẩm giả tơ, giả len, sản phẩm từ microfiber đã bắt đầu được sản xuất và tạo uy tín
trên thị trường. Trong khâu dệt kim, do phần lớn máy móc được nhập chủ yếu từ Nhật
Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Đức thuộc thế hệ mới, có nhiều chủng loại đã được trang bị
Computer nên đạt năng suất chất lượng cao, tính năng sử dụng rộng. Trong lĩnh vực may,
công nghệ đã có những chuyển biến khá kịp thời. Các dây chuyền may được bố trí vừa và
nhỏ (25-26 máy), sử dụng 34-38 lao động cơ động nhanh và có nhân viên kiểm tra
thường xuyên, có khả năng chấn chỉnh sai sót ngay nên đảm bảo được sản phẩm sản xuất
chất lượng. Như vậy, nhìn chung thì công nghệ, thiết bị của ngành dệt may Việt Nam đã
được đổi mới khá nhiều nên đã có thể cạnh tranh được với các sản phẩm chất lượng khác.
- Về chất lượng nguyên vật liệu đầu vào: Trong sản xuất của ngành dệt may, nguyên
liệu đóng vai trò quan trọng và có ảnh hưởng quyết định tới chất lượng sản phẩm và hiệu
quả sản xuất. Ngành dệt may Việt Nam sử dụng các nguyên liệu chính là: Bông xơ, xơ
sợi tổng hợi, len đay, tơ tằm. các loại hoá chất khác và các thuốc nhuộm…Tuy nhiên Việt
Nam không chủ động được trong trong nguồn nguyên liệu này (90% nguyên liệu sử dụng
cho ngành dệt phải nhập khẩu từ nước ngoài, nguồn nguyên vật liệu trong nước không
sẵn có hay có thì chất lượng lại kém) nên ngành dệt Việt Nam thường xuyên phải chịu
sức ép nặng nề của nhà cung cấp nguyên vật liệu trên thế giới. Bên cạnh đó dệt may Việt
cho sức ép về cạnh tranh trở nên quyết liệt hơn. Thực tế đã cho thấy, sản phẩm dệt may
Việt Nam đang đứng trước những khó khăn trong việc chiếm lĩnh thị trường nội địa. Chất
lượng hàng dệt may Việt Nam nhìn chung đã có nhiều tiến bộ, nhưng chất lượng, mẫu
mã của hàng nhập khẩu luôn đạt tiêu chuẩn cao và phong phú về chủng loại hơn. Từ thực
tế đó, chúng ta đã tăng cường nâng cao chất lượng cải tiến mẫu mã, đa dạng về chủng
loại sản phẩm. Người tiêu dùng Việt Nam đã tin tưởng và có cách nhìn tích cực hơn đối
với hàng trong nước. Vì thế chúng ta đã cải thiện được vị trí của mình trong thị trường
nội địa.
- Chính sách của nhà nước: Với những thành tựu đã đạt được cũng cần lưu ý một
thực tế là từ đầu những năm 1990, Việt Nam đã phải chuyển quan hệ thương mại từ khối
các nước trong Hội đồng tương trợ kinh tế trước đây (COMECOM) sang hướng khác.
Đây là điều quan trọng cần tính đến trong ngành dệt may với quy định chặt chẽ trên thị
trường quốc tế hiện nay. Trong thời kỳ hậu COMECOM, vào tháng 12 năm 1992, Việt
Nam đã đàm phán Hiệp định về buôn bán hàng dệt đầu tiên và đã kỹ một khuôn khổ về
buôn bán hàng dệt với EU, cho phép lần đầu tiên Việt Nam được hưởng hạn ngạch MFA
( Hiệp định đa sợi ). Tuy nhiên, ngành dệt Việt Nam vẫn chưa tiếp cận được với thị
trường Mỹ rộng lớn, và là một nhà xuất khẩu non trẻ, nên ngành dệt Việt Nam buộc phải
tiến vào các thị trường phi hạn ngạch có tính cạnh tranh rất cao, chủ yếu là ở Đông á .
- Xu hướng tự do hoá: xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam chủ yếu là sang thị
trường Châu Âu và Nhật Bản, hai thị trường này chiếm 43% và 42% tổng xuất khẩu
trong năm 1996. Đây là mô hình không bình thường về xuất khẩu. Nét đặc trưng trong
giai đoạn đầu về xuất khẩu hàng may mặc của Đông á là phụ thuộc chủ yếu vào thị
trường Mỹ, trong khi đó thị trường Nhật Bản đóng vai trò không quan trọng. Mỹ là một
thị trường rộng lớn, có thể tiêu thụ hàng hoá của hầu hết các loại thị trường (về mặt giá
cả, chất lượng và mode) và khi được đảm bảo bằng hạn ngạch, đó là một thị trường tương
đối mở và không phức tạp. mặc dù không có hạn ngạch, Nhật Bản được xem như một thị
trường khó thâm nhập hơn về mặt tiêu chuẩn chất lượng và do các kênh tiếp thị phức tạp.
Những khác biệt giữa các thị trường đang được thu hẹp dần, nhưng trên thực tế mô hình
xuất khẩu của Việt Nam hoàn toàn khác so với các nước láng giềng. Các nhà xuất khẩu
Bỉ 18 25 32
Italia 27 30 22
Tây Ban Nha 14 24 20
Canada 18 22 18
Thuỵ Điển 11 11 10
Đan Mạch 6 19 7
Na Uy 6 6 4
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Hiện nay, thị trường xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam chủ yếu là EU và Nhật
Bản, nhưng thời gian qua ta đang bị cạnh tranh mạnh về giá của hàng Trung Quốc, hơn
thế nữa lại phải chịu sức ép của các nhà sản xuất ở Nhật Bản. Mặt khác, hàng dệt may
Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU chủ yếu theo phương thức gia công nên các
doanh nghiệp Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào đơn đặt hàng của nước ngoài hoặc xuất
khẩu sang nước thứ 3, hơn nữa do bị khống chế về hạn ngạch nên kim ngạch xuất khẩu
trong 3 năm gần đây chỉ dao động ở mức 500- 600 triệu USD/năm. Việc EU tiến tới bỏ
dần hạn ngạch nhập khẩu hàng dệt may từ các nước WTO vào cuối năm 2004 là một bất
lợi lớn đối với hàng xuất khẩu dệt may Việt Nam do nước ta vẫn còn chịu chế độ hạn
ngạch do chưa gia nhập WTO. Đối với thị trường phi hạn ngạch như Nhật, Châu úc, Nam
Mỹ, đông âu…hàng dệt may Việt Nam khó cạnh tranh được với hàng Trung Quốc. Còn
đối với thị trường Mỹ, thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới trong những
năm qua, do chưa có tối huệ quốc (MFN) nên hàng dệt may Việt Nam vẫn còn chịu thuế
xuất nhập khẩu cao nên khó cạnh tranh với các nước khác.
- Về tỷ giá hối đoái: Trong hơn 10 năm qua, Ngân hàng nhà nước (NHNN) đã thực
hiện đổi mới mạnh mẽ cơ chế điều hành tỷ giá. Từ năm 1994, cùng với sự ra đời của thị
trường ngoại tệ liên ngân hàng, Nhân hàng nhà nước đã bắt đầu thực hiện điều hành tỷ
giá theo cơ chế mới thay cho chế độ đa tỷ gía trước đây. Theo đó, Ngân hàng nhà nước
bắt đầu công bố chính thức giữa ngoại tệ và đồng Việt Nam, tỷ giá mua bán trên thị
trường được phép giao động trong biên độ cho phép. Trên thực tế, trong các năm 1997-
1998, việc NHNN chủ động điều chỉnh biên độ giao dịch và tiếp theo việc NHNN ấn
hàng hoá người ta sẽ sử dụng.
Như vậy là, trong tương lai cầu của dệt may Việt Nam tăng lên tương đối so với thế
giới; nhu cầu tiêu dùng của người sử dụng sản phẩm dệt may cũng tăng lên đáng kể. Tuy
nhiên tốc độ của tăng nhu cầu sẽ cao hơn so với cung điều đó ssẽ là rất có lợi cho ngành
dệt may Việt Nam để mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng cao giá bán của mình trên thị
trường xuất khẩu. Tuy nhiên, để phát triển và đảm bảo sự cạnh tranh của mình chúng ta
cần có các liến lược phát triển thính hợp hơn nữa.
- Dưới tác động của giá nhân công và chi phí nguyên vật liệu đầu vào: Theo
Mác, trong công thức (V/C), tốc độ tăng của tư bản khả biến (V) lớn hơn so với tốc độ
tăng của tư bản bất biến trong cấu thành giá trị sản phẩm, mặc dù cả hai đều có xu hướng
là tăng lên theo thời gian. Trong thực tế, như đường cong kinh nghiệm đã nói, trình độ
tay nghề và năng suất của người lao động có xu hướng tăng khi mở rộng quy mô sản
xuất. Bên cạnh đó, nhu cầu về các sản phẩm-hàng hoá cao cấp tăng mạnh hơn so với thiết
yếu ( theo quy luật ), Thu nhập quốc dân và Thu nhập bình quân /người của các quốc
gia cũng có xu hướng tăng mạnh. Chính vì vậy, tiền lương nhân công chắc chắn sẽ tăng
trong thời gian tới. Điều đó sẽ đẩy giá cả hàng hóa tăng lên. Riêng trong lĩnh vực dệt
may, mặc dù chúng ta hết sức tận dụng máy móc thiết bị có trình độ trung bình để sử
dụng nguồn lao động rẻ, nhưng trong tương lai chúng ta cũng không tránh khỏi xu thế
chung đó. Bên cạnh đó, với tốc độ phát triển vũ bảo của khoa học công nghệ như hiện
nay cộng với những thành tựu trong khai thác và sáng chế những vật liệu mới sẽ làm thay
đổi cơ bản nguồn nguyên vật liệu đầu vào. Biểu hiện bằng việc thay thế các nguyên vật
liệu mới kết tinh nhiều chất xám hơn so với nguyên vật liệu truyền thống. Qua đó sẽ làm
tăng chi phí đầu vào về mặt lượng nhưng tốc độ tăng của giá thành sẽ giảm tương đối so
với hiện nay.
Tiền lương nhân công và giá trị nguyên vật liệu đầu vào là yếu tố có ý nghĩa quyết
định đối với giá cả sản phẩm-hàng hoá, từ đó sẽ tác động rất lớn tới khả năng xuất khẩu.
Như vậy, theo xu hướng này giá cả của các sản phẩm dệt may sẽ tăng về lượng, nhưng
tốc độ tăng sẽ giảm dần và ổn định. Qua đó cho thấy tiền lương nhân công và chi phí
nguyên liệu đầu vào có xu hướng tác động ngày càng lớn đối với giá cả hàng dệt may
2.2. Xu hướng biến động của nhân tố chất lượng, mẫu mã
- Dưới tác động của khoa học công nghệ: Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa
học công nghệ gắn liền vơí sự phát triển của nền kinh tế tri thức cho phép sản xuất ra
ngững mặt hàng dệt may có chất lượng cao, phong phú về chủng loại, đa dạng về mẫu mã
nhằm thích ứng tối đa nhu cầu của người tiêu dùng. Trong xu thế chung đó ngành dệt
may Việt Nam cũng rất nỗ lực đầu tư và tiếp nhận chuyển giao các công nghệ hiện đại
mang tính tự động hoá cao. Do vậy có thể nói chất lượng mẫu mã của dệt may Việt Nam
sẽ tăng lên đáng kể trong thời gian tới.
- Dưới tác động của chất lượng nguyên vật liệu: Sự ra đời của các nguyên vật
liệu mới, nhất là nguyên vật liệu nhân tạo với những tính năng mới sẽ cho phép tạo ra
những sản phẩm mới với chất lượng tốt, mẫu mã đẹp. Riêng nước ta, với sự khuyến khích
phát triển của nhà nước trong công tác tạo nguồn nguyên liệu trong nước như đầu tư
trồng Bông, Đay phục vụ sản xuất hàng dệt may. Do đó, chất lượng và mẫu mã của
chúng ta chắc chắn sẽ được cải thiện trong thời gian tới.
- Dưới tác động của kinh nghiệm tay nghề công nhân: Theo lý thuyết đường
cong kinh nghiệm, với xu hướng mở rộng quy mô của ngành, năng lực và trình độ của
công nhân cũng được tăng lên do việc tích luỹ kinh nghiệm nhiều hơn. Bên cạnh đó
ngành dệt may có các chính sách đào tạo nguồn nhân công có trình độ tay nghề cao đáp
ứng yêu cầu xuất khẩu Từ đó sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự nâng cao chất lượng của sản phẩm
và làm phong phú thêm về mẫu mã.
- Dưới tác động của nghiên cứu phát triển: Để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng khắt
khe, ngành dệt may Việt Nam cũng rất tích cực đầu tư cho hoạt động nghiên cứu phát
triển. Qua đó cho phép ứng dụng các công nghệ mới, cải tiến phương thức sản xuất, hiện
đại hóa các hình thức quản lý. Từ đó sẽ làm tăng chất lượng của hàng dệt may Việt Nam.
Đồng thời, nó sẽ thúc đẩy cho ra đời những mẫu mã, kiểu dáng hiện đại phù hợp với nhu
cầu tiêu dùng nhằm thực hiện chiến lược khác biệt hoá sản phẩm của mình.
Tóm lại, qua phân tích ở trên ta có thể khẳng định rằng chất lượng hàng dệt may sẽ
tăng mạnh, kiểu dáng và mẫu mã được cải thiện phù hợp và phong phú hơn.
2.3. Xu hướng biến động của nhân tố thị trường
động xuất khẩu. Đó chính là những thời điển mà dệt may Việt Nam có rất nhiều cơ hội để
mở rộng thị trường tiêu thụ cuả mình ra thế giới.
- Dưới tác động của công tác Marketing, quảng cáo: Công tác Marketing nàg
càng được các ngành các doanh nghiệp chú trọng. Để cho sản phẩm của mình được mọi
người biết đến và tin tưởng thì công tác Marketing, quảng cáo là một khâu cực kỳ quan
trọng trong chiến lược phân phối. Trong xu thế cạnh trang gay gắc giữa các đối thủ với
nhau trên thế giới đó, để thàng công được thì yêu cầu đòi hỏi của ngành dệt may Việt
Nam là tăng cường hơn nữa công tác Markting và quảng cáo. Vì vậy trong tương lai,
công tác này sẽ rất phát triển và đây cũng chính là yếu tố quan trọng sẽ làm cho thị
trường tiêu thụ và uy tín sản phẩm dệt may Việt Nam cũng được tăng lên.
- Dưới tác động của tỷ giá hối đoái: Có thể nói rằng tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào
rất nhiều các yếu tố như: Chính trị, xã hội, tốc độ tăng trưởng, khủng hoảng, tỷ lệ lạm
phát không những của trong nước mà còn kể cả quốc tế nữa. Chính vì thế, để dự báo tỷ
giá hối đoái trong thời gian tới là rất khó khăn. Các nhân tố tác động tới tỷ giá hối đoái đó
luôn thay đổi không theo một quy luật nào cả. Vì thế với khả năng có hạn của mình em
không dám đưa ra dự báo của mình, chỉ hy vọng rằng tỷ giá hối đoái trong thời gian tới
sẽ được ổn định.
Như vậy, từ những dự báo của các nhân tố tác động trên ta có thể dự đoán rằng
trong thời gian tới thị trường tiêu thụ của dệt may Việt Nam sẽ tăng lên.
III. Giải pháp
1. Những giải pháp của ngành dệt may Việt Nam
Qua phân tích thực trạng và phân tích bối cảnh quốc tế có thể nhận định rằng, ngành
xuất khẩu dệt may Việt Nam cần phải nâng cao hơn nữa khả năng xuất khẩu của mình
trên thị trường quốc tế và khu vực. Để làm được điều đó cần thực hiện các giải pháp chủ
yếu sau:
- Đầu tư theo chiều sâu, đổi mới công nghệ, cải tiến kỹ thuật sản xuất: Phải xác
định chính xác và chỉ cải tiến và đổi mới các công nghệ, kỹ thuật thực sự cần thiết, có ý
nghĩa quyết định đối với việc hạ thấp chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm;
Mạnh dạn chủ động hợp tác, chuyển giao công nghệ, cải tiến kỹ thuật, tận dụng lợi thế đi
- Đổi mới hoàn thiện các chính sách và cơ chế quản lý hoạt động xuất khẩu: Để
thành công được trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngành xuất khẩu chủ
lực sắp tới, nhà nước cần thực hiện các chính sách khuyến khích mạnh mẽ hoạt động xuất
khẩu, xoá bỏ các cản trở nhất là về tổ chức cơ chế, thể chế và các thủ tục đang tác động
đến xuất khẩu. Đồng thời cần tăng cường hơn nữa công tác hoàn thiện hệ thống luật
pháp.
- Hình thành và phát triển đồng bộ các thị trường: Hình thành đồng bộ và tiếp tục
phát triển, hoàn thiện các loại thị trưòng đi đôi với xây dựng khuôn khổ pháp lý và thể
chế, để thị trường hoạt động năng động có hiệu quả, có trật tự kỷ cương trong môi trường
cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh
doanh. Nhà nước tôn trọng nguyên tắc và cơ chế hoạt động khách quan của thị trường,
tạo điều kiện phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục và hạn chế những tác động tiêu
cực của thị trường. Mở rộng thị trường tiêu thụ ra khắp toàn cầu chứ không nên gói gọn
và những thi trường trọng điểm và những thị trường truyền thống.
- Tiếp tục cải cách, hoàn thiện hoạt động của hệ thống ngân hàng: Thực hiện cơ
cấu lại các ngân hàng thương mại quốc doanh, tập trung vào cải cách thẩm định thủ tục
tín dụng, cải tiến dịch vụ ngân hàng. Đẩy mạnh hướng các ngân hàng trở thành “người
bạn đồng hành” cùng các ngành trong hoạt động kinh doanh hơn là chỉ coi ngành là
nguồn cần mình. NHNN cần có các chính sách về tỷ giá hối đoái sao cho phù hợp với
yêu cầu của ngành dệt may là tăng kim ngạch xuất khẩu ra thị trường thế giới./. Kết luận
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh
của các ngành xuất khẩu nói chung và của các ngành xuất khẩu dệt may nói riêng là một
vấn đề hết sức quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi
quốc gia. Tiến trình hội nhập thế giới WTO đang tới gần, Việt Nam cần phải tranh thủ
mọi nỗ lực, thời cơ để bắt kịp thời đại. Đứng trước những thách thời đại và có mối quan
hệ mật thiết với nền kinh tế đất nước, ngành xuất khẩu dệt may của Việt Nam không
những phải tự làm bản thân mình lớn mạnh mà còn vì mục tiêu phát triển kinh tế đất