LUẬN VĂN: Những căn cứ và đề xuất nhằm hoàn thiện chiến lược marketing tại công ty du lịch cựu chiến binh việt nam - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Những căn cứ và đề xuất nhằm hoàn
thiện chiến lược marketing tại công ty
du lịch cựu chiến binh việt nam
Lời nói đầu
Cùng với sự tiến bộ trên các mặt đời sống kinh tế chính trị vưn hóa xã hội. Du lịch
dần trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống tinh thần của mỗi người.
Những dấu hiệu đầu tiên của hoạt động kinh doanh du lịch được tìm thấy từ thời cổ
đại. Sự phát triển của nề kinh tế thế giới đã tác động thuận lợi tới sự phát triển của du
lịch. Su hướng phát triển đầu tiên là quốc tế hóa du lịch đã ra đời, đến ngày nay du lịch
đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến. Một ngành kinh tế mang tính tổng
hợp cao một ngành xuất khẩu vô hình, xuất khẩu taị chỗ và ngày càng có vị trí quan trọng
đối với nhiều quốc gia trên thế giới.
ở nước ta ngành du lịch mới ra đời cách đây hơn 40 năm, song thực sự phát triển và
tăng trưởng trong mấy năm gần đây. hơn nữa nước ta đang trong giai đoạn chuyển đổỉ
nền kinh tế đang chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của nhà nước.
Ngành du lịch Việt Nam đang bước sang một giai đoạn mới giai đoạn thực sự phát triển
đã khẳng định dược chỗ đứng và vai trò to lớn của mình trong nền kinh tế quốc dân.
Cũng như các ngành kinh doanh khác đối với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch

hơn. phạm vi nghiên cứu tập trung nghiên cứu với một doanh nghiệp đó là công ty du
lịch cựu chíên binh Việt Nam trong mối so sánh với các doanh nghiệp khác. trong đề tài
này tôi sử dụng phương pháp nhất định như phương pháp phân tích thống kê nhận xét
đánh giá duy vật biện chứng trên cơ sở lí luận và thực tiễn có so sánh và chọn lọc.
Đề tài này được chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số khái niệm cơ bản về du lịch và marketing
Chương 2: Thực trạng việc thực hiện chiến lược marketing tại công tydu lịch cựu
chiến binh việt nam trong những năm qua.
Chương 3: Những căn cứ và đề xuất nhằm hoàn thiện chiến lược marketing tại
công ty du lịch cựu chiến binh việt nam . Chương I
Một số khái niệm cơ bản của du lịch và Mar

I. Khái niệm cơ bản về du lịch, sản phẩm du lịch và vai trò của du lịch trong
nền kinh tế - xã hội.
1. Khái niệm về du lịch.
a) Khái niệm về du lịch
Du lịch là một hiện tượng kinh tế phức tạp và trong quá trình phát triển của nó nội
dung không ngừng được mở rộng.
- Khi tiếp cận về ngành du lịch và các khái niệm của nó thì nhiều nhà kinh tế cũng
như các tổ chức du lịch trên thế giới đều đưa ra cách tiếp cận khác nhau về du lịch, nhưng
quan điểm chính xác và đẩy đủ nhất là quan điểm của nhà kinh tế học người Mỹ Michach
Cotthman. Theo quan điểm của ông thì "Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội phổ
biến là tập hợp các mối quan hệ kinh tế và phi kinh tế tương hỗ lẫn nhau giữa 4 nhóm
nhân tố sau".

ý nghĩa của việc phân biệt này là để so sánh cán cân thanh toán quốc tế của khách
du lịch quốc tế cũng như đánh giá mức sống của một quốc gia.
c) Đơn vị cung cấp sản phẩm du lịch và công ty lữ hành.
Đơn vị cung cấp các sản phẩm du lịch là các doanh nghiệp cung cấp cho các khách
du lịch một phần hay toàn bộ sản phẩm du lịch. Bao gồm các loại dịch vụ như kinh doanh
vận chuyển, kinh doanh lưu trú, kinh doanh lữ hành, kinh doanh các loại dịch vụ khác.

Khi ngành du lịch chưa phát triển nhiều khách du lịch thường tự tìm mua các sản phẩm
riêng biệt cho một chuyến du lịch của mình, điều đó dẫn tới mất nhiều thời gian công sức
của khách và sản phẩm thường không được như mong đợi của khách. Ngày nay khi thị
trường du lịch được mở rộng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường
nó xuất hiện các nhà trung gian đảm nhận vai trò cung cấp một sản phẩm du lịch hoàn
hảo, toàn bộ cho khách du lịch, làm cho khách cảm thấy an tâm và tiết kiệm chi phí tiền
bạc, thời gian cho khách du lịch. Người ta gọi các trung gian này là các công ty lữ hành.
- Các công ty lữ hành là một doanh nghiệp kinh doanh du lịch có tính chất đặc thù
bởi các hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu là xây dựng các tour, chương trình du
lịch, môi giới lưu thông tiêu dùng các sản phẩm du lịch và khai thác tối đa các tuyến,
điểm, các tài nguyên du lịch cũng như các cơ sở phục vụ du lịch. Nội dung của kinh
doanh lữ hành bao gồm 4 yêu cầu sau:
+ Nghiên cứu thị trường + Xây dựng chương trình
+ Quảng cáo và bán sản phẩm
+ Tổ chức thực hiện.
Kinh doanh lữ hành là việc thực hiện một hay một số nội dung trên. Qua sự phân
tích đó chúng ta thấy một công ty lữ hành vừa là nhà sản xuất vừa là nhà tiêu thụ. Khi
mua của nhà sản xuất công ty lữ hành đóng vai trò là nhà tiêu thụ và khi bán thì công ty
là nhà kinh doanh. Việc xuất hiện những công ty, hãng kinh doanh lữ hành trên thế giới
đã góp một phần không nhỏ vào việc thúc đẩy ngành kinh tế lãnh đạo phát triển mạnh
như hiện nay. Cùng với xu thế phát triển của thời đại, sự cạnh tranh gay gắt của thị
trường và quá trình đa dạng hoá các lĩnh vực kinh doanh của các công ty, các tập đoàn
ngày nay các công ty lữ hành không chỉ đơn thuần kinh doanh lữ hành như trước nữa mà

- Sản phẩm là tất cả những gì có thể thoả mãn được những gì có thể thoả mãn
được nhu cầu mong muốn của khách hàng, được trao đổi trên thị trường với mục đích sử
dụng hay tiêu dùng sản phẩm. ở đây bao gồm các loại sản phẩm hữu hình (hàng hoá vật
chất) hay các loại hàng hoá vô hình (hàng hoá dịch vụ). Khi cung cấp các sản phẩm ra thị
trường các nhà sản xuất phải suy nghĩ về 5 mức độ của sản phẩm mà tương ứng với nó là
lợi ích khách hàng nhận được.

+ Lợi ích cốt lõi: đây chính là dịch vụ cơ bản hay lợi ích cơ bản mà khách hàng
muốn mua. Người kinh doanh phải xem mình là người cung ứng lợi ích.
+ Sản phẩm chung: là cái mang lợi ích cơ bản mà khách hàng đang mong đợi, có
nghĩa là để đáp ứng được lợi ích cốt lõi cho khách hàng doanh nghiệp phải tạo ra được
một sản phẩm chung. Muốn tạo ra được một sản phẩm chung thì doanh nghiệp phải có
những phương tiện cần thiết.
+ Sản phẩm mong đợi: đơn vị kinh doanh chuẩn bị một sản phẩm mong đợi, tức là
một tập hợp những thuộc tính và điều kiện mà người mua mong đợi và chấp nhận khi
mua sản phẩm đó.
+ Sản phẩm hoàn thiện: là sản phẩm bao gồm những dịch vụ và lợi ích phụ thêm
này sẽ làm cho sản phẩm của doanh nghiệp khá biệt với các đối thủ cạnh tranh.
+ Sản phẩm tiềm ẩn: là sự hoàn thiện và biến đổi mà sản phẩm đó cuối cùng có thể
nhận được trong tương lai trong khi sản phẩm hoàn thiện thể hiện những gì được đưa vào
sản phẩm này ngày hôm nay thì sản phẩm tiềm ẩn lại đưa ra hướng phát triển khả dĩ cho
một loại sản phẩm mới. Đây chính là những nơi công ty tìm kiếm những cách thức mới
để thoả mãn các nhu cầu của khách hàng và tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm của mình.
- Từ cách tiếp cận và sản phẩm nói chung chúng ta đưa ra được cách tiếp cận về
sản phẩm du lịch nói riêng.
+ Sản phẩm du lịch là một mặt hàng cụ thể (thức ăn trong nhà hàng, tiện nghi,
không khí nơi ở) kết hợp với sự phục vụ của các nhân viên trong một đơn vị kinh doanh
(dịch vụ) hay nói cách khác sản phẩm là một sự tổng hợp các thành tố khác nhau nhằm
cung cấp cho du khách kinh nghiệm du lịch và sự hài lòng với một chuyến đi.
- Để cung cấp cho khách kinh nghiệm du lịch và sự hài lòng vấn đề đặt ra cho các

điểm của sản phẩm du lịch. Vì vậy khi nói đến các đặc điểm của sản phẩm du lịch là ta
nói đến các khác biệt của sản phẩm du lịch so với các loại sản phẩm khác.
- Trong quá trình kinh doanh du lịch các nhà kinh doanh phải hết sức khéo léo và
mềm mỏng mới mong đợi thu hút được khách hàng của mình, bởi vì sản phẩm du lịch là
sản phẩm mang tính chất vô hình là chủ yếu, nó chứa đựng từ 70% đến 80% là dịch vụ.
Tính chất này gây khó khăn cho việc đánh giá chất lượng của sản phẩm du lịch, giá trị

của sản phẩm du lịch chủ yếu được tính từ các giá trị đầu vào chứ không phải là các giá
trị chuyển hoá, cho nên việc đánh giá chất lượng của sản phẩm du lịch mang tính chủ
quan chứ không phải mang tính chất khách quan và việc bắt chước cũng rất dễ ràng.
- Sản phẩm du lịch thường gắn liền với tài nguyên du lịch từ đó chúng ta có thể
thấy thành công trong kinh doanh du lịch chủ yếu dựa vào việc tìm ra nguồn khách thu
hút khách.
- Sản phẩm du lịch không thể mang tới tận tay người tiêu dùng được mà ngược lại
người tiêu dùng phải tìm đến với nơi sản xuất để mua sản phẩm nghĩa là sản phẩm du
lịch được bán cho khách hàng trước khi họ thấy được sản phẩm. Cũng do tính chất này
mà các doanh nghiệp du lịch phải sử dụng nhiều đơn vị trung gian như đại lý du lịch, đơn
vị lữ hành để cung cấp cho khách.
- Việc tạo ra sản phẩm du lịch trùng lặp với việc tiêu dùng du lịch cả về không
gian và thời gian cho nên sản phẩm du lịch không thể tồn kho được như các loại sản
phẩm khác. Khách du lịch khi mua một sản phẩm du lịch phải tiêu tốn nhiều thời gian và
tiền bạc trước khi sử dụng sản phẩm. Khoảng cách bắt đầu quyết định đi du lịch đến lúc
sử dụng sản phẩm du lịch đã chứa đựng nhiều thủ đoạn marketing của nhà kinh doanh.
- Sản phẩm du lịch mang tính thời vụ dẫn đến việc kinh doanh nó cũng mang tính
thời vụ.
Tính thời vụ của kinh doanh du lịch là một chu kỳ kinh doanh được diễn ra dưới
tác động của nhiều nhân tố khác nhau, nhưng nhân tố tác động mạnh mẽ nhất tới chu kỳ
kinh doanh du lịch là thiên nhiên. Ví dụ như các nhà kinh doanh du lịch nghỉ biển chỉ
hoạt động mạnh mẽ vào những tháng mùa hè, người kinh doanh du lịch theo ngày nghỉ
cuối tuần thì chu kỳ theo tuần, kinh doanh nhà hàng thì chu kỳ theo giờ trong ngày.

khác.
Trong những năm 1980 trở về trước khách du lịch chủ yếu hướng vào các nước có
nền kinh tế mạnh, những nước phát triển và các thị trường du lịch truyền thống. Nhưng từ
những năm 1980 trở về đây xu hướng đi du lịch có sự thay đổi rõ rệt, khách du lịch đang
hướng tới các thị trường du lịch phát triển. Các vùng có nguồn tài nguyên thiên nhiên
phong phú với cảnh vật tự nhiên đa dạng, đặc biệt là khu vực châu á nói chung và khu

vực Đông Nam á nói riêng ở những nước ở khu vực này ngoài sự độc đáo của các cảnh
quan thiên nhiên thì nền kinh tế của mỗi nước đang phát triển chính sách phát triển của
các nước là thu hút nguồn lực từ bên ngoài. Giá cả sinh hoạt rẻ hơn nhiều so với các nước
kinh tế phát triển vì vậy mà nót rở thành những điểm mạnh để thu hút khách du lịch.
Hàng năm khách du lịch trên thế giới đến khu vực này tăng 20%, những nước đón được
nhiều khách nhất của khu vực Đông Nam á là Thái Lan, Singapo, Malaysia. Không chỉ
có thay đổi về su hướng đi du lịch mà cơ cấu nguồn khách trên thế giới cũng thay đổi.
Trước đây du lịch được coi là mốt thời thượng chỉ có những người có thu nhập khá trong
xã hội mới nghĩ đến chuyện đi du lịch nhưng ngày nay thì tất cả các tầng lớp đân cư trong
xã hội đều có thể nghĩ tới một chuyến du lịch cho mình. Điều đó chứng tỏ rằng mức sống
và trình độ văn hoá của người dân đang được nâng cao. Cùng với sự phát triển của ngành
du lịch là sự phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, nó trở thành một mắt
xích quan trọng trong quá trình tái sản xuất xã hội. Việc khách du lịch từ nơi khác đến
mang tiền đến để tiêu ở một vùng hay một quốc gia nào đó làm cho nền kinh tế phát triển
mạnh lên, kích thích một số ngành khác phát triển theo nó, tạo thêm ra nhiều công ăn
việc làm cho lao động nhàn rỗi, giảm tỷ lệ thất nghiệp.
- Ngành du lịch phát triển sẽ tạo ra khả năng thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài tăng
lên và khả năng thu hồi vốn đầu tư càng lớn. Cơ sở vật chất kỹ thuật của riêng ngành du
lịch và toàn bộ các ngành kinh tế cũng được cải thiện một cách rõ rệt cả về số lượng và
chất lượng. Ngoài ra khi phát triển mạnh du lịch quốc tế chủ động nó còn mang lại cho
quốc gia một khoản thu về bằng ngoại tệ tăng cường khả năng xuất khẩu đặc biệt là xuất
khẩu tại chỗ từ đó tạo ra khả năng làm cân bằng cán cân thanh toán đối với các nước
nhập khẩu nhiều. Nói chung ngành du lịch đóng góp không nhỏ vào sự tăng trưởng của

thức được điều đó và thực tế đã chứng minh trong những năm vừa qua Đảng và Nhà
nước ta đã và đang coi trọng, tạo điều kiện cho ngành du lịch phát triển. Vì vậy ngành du
lịch có nhiều bước phát triển khởi sắc trở thành một ngành kinh tế trọng điểm. Tuy nhiên,
trong quá trình phát triển của mình ngành du lịch còn có nhiều vướng mắc, hạn chế để
cho du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mạnh, trở thành một nhân tố hoà bình,
giao lưu giữa Việt Nam và các nước khác trên thế giới thì cần phải có những sửa chữa bổ
sung các khuyết điểm đặc biệt là khuyết điểm trong quản lý để du lịch Việt Nam thực sự
phát triển. II. Những khái niệm về marketing và marketing du lịch
1) Khái niệm về marketing.
Trong quá trình phát triển của xã hội cũng như sự phát triển của nền kinh tế thị
trường thì quá trình tái sản xuất xã hội được diễn ra bởi bốn khâu sau:
Sản xuất - Phân phối - Trao đổi - Tiêu dùng
- Khi nền kinh tế thị trường chưa phát triển hàng hoá còn khan hiếm thì quá trình
tái sản xuất xã hội được quyết định bởi quá trình sản xuất. Nhưng hiện nay khi khoa học
công nghệ có những bước tiến mới được áp dụng mạnh mẽ trong sản xuất, nền kinh tế thị
trường được phát triển cả về chiều sâu và chiều rộng, hàng hoá không còn khan hiếm nữa
thì quá trình tái sản xuất xã hội được quyết định bởi quá trình trao đổi - tiêu dùng. Các
nhà sản xuất phải giải quyết ba vấn đề chính: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai, và sản xuất
như thế nào. Khi quá trình tái sản xuất xã hội được diễn ra thì trao đổi và tiêu dùng tập
trung những mâu thuẫn của toàn bộ quá trình tái sản xuất, chỉ khi nào giải quyết tốt các
mâu thuẫn này thì quá trình tái sản xuất xã hội mới được thực hiện, những mâu thuẫn này
bao gồm:
- Người sản xuất cần những bù đắp chi phí kinh doanh và lợi nhuận còn người tiêu
dùng cần giá trị tiêu dùng cho nên mâu thuẫn này cần được giải quyết thông qua trao đổi
trên thị trường.
- Mâu thuẫn giữa giá trị và giá trị cá biệt cho nên cần phải có thị trường để so sánh
tìm ra giá trị sản xuất và giá trị xã hội vậy cần có thị trường để trao đổi.

cung cấp bầu không khí du lịch, phương pháp quản trị, dự đoán sự việc, ấn định giá cả
quảng cáo khuếch trương và lập ngân quỹ cho hoạt động marketing.
Từ hai khái niệm trên chúng ta thấy trong quá trình phát triển của nền kinh tế thị
trường đặc biệt là ngành kinh tế du lịch thì sự cạnh tranh giữa các đơn vị kinh doanh ngày
một gia tăng phân đoạn thị trường và tính phức tạp trong kinh doanh ngày một gia tăng
khách hàng ngày càng có kinh nghiệm đặc biệt là khách du lịch vì thế marketing càng có
một vai trò và vị thế quan trọng trong quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp hơn bao

giờ hết. Tuy nhiên marketing hiện đại nó đòi hỏi nhiều thứ hơn marketing cổ điển, vấn đề
cho một chiến lược marketing được thành công và mang lại hiệu quả cao thì cần phải có
các công cụ để thực hiện nó. Các công cụ của marketing sẽ đem lại cho một chiến lược
marketing sự thành công là điều chắc chắn. Tuy nhiên áp dụng công cụ nào vào thời điểm
nào và đối tượng khách hàng mục tiêu nào cho thích hợp thì mới thu được hiệu quả cao.
b) Các công cụ của chiến lược marketing du lịch
- Công cụ của chiến lược marketing du lịch là việc chúng ta dùng các biện pháp
thực tế trong chiến lược marketing đã vạch ra để thực hiện một chiến lược marketing
được thành công. Các công cụ của chiến lược marketing bao gồm:
- Tuyên truyền - quảng cáo
- Khuyến mại và giá cả
- Quan hệ công chúng
- Bán hàng trực tiếp.
Tuyên truyền: là việc các công ty du lịch hay một điểm du lịch nào đó được các
phương tiện thông tin đại chúng hay khách hàng của mình nói đến như một sự việc nổi
bật. Tuyên truyền có tác dụng rất lớn nó đem lại lòng tin cho khách hàng lớn hơn so với
quảng cáo. Người ta dễ tin vào nó và chú ý tới nó nhiều hơn vì vậy tuyên truyền thường
đem lại hiệu quả cao nhưng chi phí thì lại thấp. Cho nên trong chiến lược marketing của
mình thì tuyên truyền luôn được quan tâm và dành ngân quỹ trong hoạt động marketing
được ưu tiên đặc biệt trong kinh doanh dịch vụ thì tuyên truyền đóng một vai trò quan
trọng. Chúng ta biết rằng các sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ và mang tính chất vô
hình nên rất khó quảng cáo, chúng ta chỉ có thể miêu tả bằng lời vì vậy tuyên truyền

đến cho khách hàng phải cao, có tính nghệ thuật cao, kích thích tiêu thụ sản phẩm, đảm
bảo tính trung thực và tính pháp lý. Quảng cáo phải thường xuyên kịp thời mang tính
kinh tế, chi phí thấp. Vì vậy khi xây dựng một chương trình quảng cáo bao giờ cũng bắt
đầu từ việc phát hiện ra thị trường mục tiêu được thực hiện trong quá trình xây dựng
chiến lược marketing của doanh nghiệp. Cùng với việc phát hiện ra thị trường mục tiêu là
việc tìm ra động cơ của người mua. Sau đó thông qua năm quyết định quan trọng được
coi là 5M: mục tiêu quảng cáo cái gì (missioci), có thể chi bao nhiêu tiền (money), cần

phải gửi thông điệp như thế nào (message), cần sử dụng phương tiện truyền thông nào
(media), cần đánh giá kết quả như thế nào (maerearement).
- Nghiên cứu thị trường để biết được mục tiêu cần phải tác động các nội dung cần
nhấn mạnh phạm vi quảng cáo, phương tiện quảng cáo hiệu quả quảng cáo, tiết kiệm chi
phí quảng cáo. Ngoài ra còn phải nghiên cứu người tiêu dùng nhằm hiểu biết rõ khách
hàng giúp cho việc xác định chương trình quảng cáo thuyết phục họ tốt nhất. Việc nghiên
cứu khách hàng bao gồm các nội dung như xác định vị trí người tiêu dùng, thói quen của
họ, lí do tiêu dùng sản phẩm, thái độ, quan điểm và phân loại tiêu dùng. Công việc
nghiên cứu tâm lý khách hàng đã được thực hiện khi doanh nghiệp xây dựng chiến lược
marketing vì vậy khi thực hiện chiến lược marketing bằng các công cụ của nó thì nhà
quản trị chỉ cần xem xét và nghiên cứu kỹ các tài liệu đã thu thập để xác định công cụ
thực hiện một cách phù hợp. Mặt khác để quảng cáo được chung thực cần phải nghiên
cứu sản phẩm, các thuộc tính của nó nhằm giúp cho quảng cáo có được những thông tin
đúng đắn nhất về số lượng, chất lượng cũng như kiểu dáng, nhãn hiệu bao bì rồi đi
nghiên cứu các phương tiện truyền thông để tìm ra các phương tiện truyền thông nhanh
nhất, có hiệu quả nhất. Thông thường khi một thông điệp quảng cáo khi đến với người
tiêu dùng phải chứa đựng 4 bước sau:
Lôi cuốn sự chú ý (Attention)
Khởi động sự quan tâm (Interest)
Gợi ý tạo ước muốn (Desire)
Gợi ý hành động (Action)
Tất cả các bước trên được gọi chung là chương trình (AIDA) chúng ta phân tích

Mô hình này nhấn mạnh các yếu tố then chốt trong hệ thống truyền thông có hiệu
quả. Người gửi phải biết mình muốn truyền đạt những thông tin gì và muốn có phản ứng
đáp lại như thế nào. Họ mã hoá thông điệp của mình theo cách có tính đến quá trình giải
mã thông điệp thông thường của khách hàng mục tiêu. Người gửi thông điệp phải truyền
thông điệp truyền thông qua các phương tiện truyền thông gì có hiệu quả đến khách hàng
mục tiêu. Họ phải tạo ra được những kênh liên hệ ngược để nhận những phản ứng đáp lại
Ngư
ời gửi

Mã hoá

Thông đi
ệp

G
ửi mã

Phương
tiện
truy
ền
Ngư
ời nh
ận

Phản ứng
l
ại

Nhi

những phải quan hệ tốt với khách hàng, người cung ứng, các đại lý của mình mà còn phải
quan hệ tốt với đông đảo quần chúng quan tâm. Ta có thể định nghĩa công chúng như sau
"công chúng là một nhóm người có quan tâm ảnh hưởng thực tế hay tiềm ẩn đến khả
năng của công ty đạt được những mục tiêu của mình" thông qua các phòng quan hệ công
chúng. Các doanh nghiệp có các quan hệ sau quan hệ với báo chí vận động hành lang,
tham mưu tất cả các hoạt động này nhằm mục tiêu tạo ra sự biết đến, tạo dựng lòng tin
nhiều. Kích thích lực lượng bán hàng, giảm chi phí quảng cáo. Các công cụ sử dụng trong

quan hệ công chúng bao gồm các ấn phẩm, bản tin nhanh, báo cáo thống kê hàng năm,
nói chuyện với các nhà đầu tư nhằm nhận được sự hỗ trợ đầu tư, tổ chức các sự kiện đặc
biệt. Một công ty kinh doanh có đứng vững được trên thị trường hay không một phần
được quyết định bởi các mối quan hệ với công chúng.
+ Bán hàng trực tiếp: trong kinh doanh việc sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng
thời cho nên việc bán hàng trực tiếp có cơ hội rất lớn. Nếu ta tiếp xúc trực tiếp có thể bán
dịch vụ cho khách hàng và kiểm tra đối với khách hàng do đó có thể đảm bảo cho khách
hàng nắm bắt nhanh tình hình của khách hàng làm cho họ hài lòng hơn thông qua bán
hàng trực tiếp làm tăng cường mối quan hệ với khách hàng và doanh nghiệp. Mục tiêu
của chúng ta là đưa khách hàng theo mối quan hệ tăng tiến sau: bắt đầu là khách hàng
trực tiếp đến là khách hàng tiềm năng và sau đó là người quan tâm ủng hộ, ngoài ra khi
bán hàng trực tiếp các nhân viên tiếp xúc còn cung cấp các thông tin về dịch vụ mà họ có
thể cống hiến cho khách hàng đồng thời phát hiện ra khách hàng tiềm ẩn và nhu cầu chưa
được thoả mãn để cung cấp cho họ.
3) Các căn cứ và phương pháp để xây dựng một chiến lược marketing.
a) Những căn cứ.
- Căn cứ vào chiến lược, phương án kinh doanh của doanh nghiệp từ đó xác định
phương hướng hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian dài từ đó ta có thể xây dựng
chiến lược marketing cho phù hợp với mục tiêu đề ra. - Căn cứ vào thực tế thị trường mà
ta có thể xây dựng chiến lược marketing sao cho có thể đáp ứng được với sự biến động
của thị trường. Ta có thể tăng chi phí cho hoạt động marketing, hình thức quảng cáo mới
và tiếp nhận những phản ứng từ phía khách hàng khi doanh nghiệp đưa ra một loại sản

1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Công ty trách nhiệm hữu hạn Du lịch Cựu chiến binh Việt Nam được thành lập theo
quyết định 3339/QĐUB do Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội cấp ngày 21/12/1992. Với
ngành nghề kinh doanh du lịch lữ hành, kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ, đại lý, ký gửi
hàng hoá, sản xuất chế biến thực phẩm.
Địa chỉ công ty:
Trụ sở giao dịch : số 38 Lý Nam Đế
Chức năng nhiệm vụ của công ty Du lịch Cựu chiến binh Việt Nam
Ký kết hợp đồng với các công ty du lịch nhà nước hoặc tư nhân của nước ngoài để
tổ chức các chương trình du lịch cho khách Quốc tế đến Việt Nam và khách Việt Nam đi
du lịch trong nước. Đồng thời liên doanh với các tổ chức trong nước và ngoài nước trong
việc xây dựng khách sạn, tổ chức vận chuyển.
- Thu xếp các thủ tục, ký hợp đồng cho các tổ chức nước ngoài hoặc cá nhân thuê
các căn hộ với mục đích cư trú, làm văn phòng, làm nơi sản xuất.
- Quản lý các bộ phận kinh doanh chức năng: khách sạn, văn phòng đại diện, các
chi nhánh.
Cung cấp các dịch vụ khác: Đại lý vé máy bay, đại lý hàng hoá, cửa hàng cầm đồ,
đại lý kiều hối, cung ứng thực phẩm.
Trong đó lĩnh vực kinh doanh lữ hành được công ty hết sức chú trọng. Hoạt động
kinh doanh lữ hành của công ty bao gồm hầu hết các hoạt động điển hình của công ty lữ
hành. Theo phạm vi cung cầu, công ty chia thị trường của mình thành thị trường nội địa

và thị trường Quốc tế. Do đó các mảng cụ thể trong hoạt động lữ hành của công ty bao
gồm kinh doanh du lịch nội địa, kinh doanh du lịch quốc tế gửi khách và nhận khách.
* Với các chức năng trên công ty có những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tổ chức kinh doanh có hiệu quả trên các mảng kinh doanh như khách sạn, nhà
hàng, dịch vụ thuê nhà và các dịch vụ khác.
- Tuân thủ pháp luật Việt Nam và các văn bản quyết định của các cơ quan cấp trên.
Chịu sự quản lý của Nhà nước và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân sách.
- Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công nhân viên.

VPĐD
Liên
bang
Nga
Đại
lý vé
máy
bay
Trung
tâm
ki
ều
hối
Khách
sạn
Minh
Thắng

T
ổng giám
đ
ốc

Phó tổng giám
đ
ốc

Phó tổng giám
đ
ốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status