LUẬN VĂN:Giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An - Pdf 15

LUẬN VĂN:

Giải pháp phát triển làng nghề trên
địa bàn tỉnh Nghệ An
Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển làng nghề là một nội dung chủ yếu của CNH, HĐH nông nghiệp, nông
thôn ở nước ta. Nhờ những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong những
năm qua sự phát triển làng nghề đã đạt được những kết quả to lớn, góp phần làm thay đổi
nhanh chóng bộ mặt nông thôn. Sự phát triển làng nghề đã đem lại hiệu quả to lớn về
nhiều mặt, không chỉ góp phần phát triển kinh tế, mà còn góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá
dân tộc, bảo đảm an ninh trật tự xã hội. ở một số tỉnh như Bắc Ninh, Hà Nam, Thái Bình,
Nam Định, Hà Tây trước đây, làng nghề phát triển rất nhanh, đạt được những kết quả to lớn.
Năm 2007 nước ta trở thành thành viên chính thức của WTO, phát triển làng nghề đang có
nhiều cơ hội mới nhưng đồng thời cũng gặp nhiều khó khăn.

các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ thời kỳ đến năm 2010 của Viện Nghiên cứu Thương
Mại (Bộ Thương Mại) thực hiện năm 2003.
+ Đề tài Hoàn thiện các giải pháp kinh tế – tài chính nhằm khôi phục và phát triển
làng nghề nông thôn vùng ĐBSH của Học viện Tài chính (Bộ Tài chính) thực hiện năm
2004.
+ Đề tài Phát triển thị trường cho làng nghề TTCN vùng ĐBSH trong giai đoạn
hiện nay của khoa Kinh tế phát triển (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) thực hiện
năm 2005.
- Về sách:
+ Tạo việc làm thông qua khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, Nxb. Nông
nghiệp (1997) của KS. Nguyễn Văn Đại và PTS. Trần Văn Luận.
+ Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam, Nxb. Văn hoá (1998) của ThS. Bùi
Văn Vượng.
+ Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình CNH, Nxb. Khoa học xã hội
(2001) của TS. Dương Bá Phượng.
+ Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình CNH, HĐH, Nxb Chính trị
quốc gia (2003) của các tác giả: TS. Mai Thế Hởn, GS.TS. Hoàng Ngọc Hoà, PGS.TS. Vũ
Văn Phúc.
Ngoài ra, nhiều sách của các địa phương như Làng nghề, phố nghề Thăng Long –
Hà Nội của Bộ Văn hoá Thông tin (2000); Làng nghề Hà Tây của Sở Công nghiệp Hà Tây
(2001); Nghề thủ công truyền thống Quảng Ngãi của Nxb. Chính trị quốc gia (2003)
- Về luận án tiến sỹ:
+ Luận án của Mai Thế Hởn (2000) Phát triển làng nghề truyền thống trong quá
trình CNH, HĐH ở vùng ven Thủ đô Hà Nội".
+ Luận án của Trần Minh Yến (2003) Phát triển làng nghề truyền thống ở nông
thôn Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH.
+ Luận án của Lê Mạnh Hùng (2005) Định hướng và những giải pháp kinh tế chủ yếu

địa bàn tỉnh trong thời gian tới.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận chung về phát triển làng nghề; phân
tích, đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ
An trong những năm tới.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hoá và phân tích một số vấn đề lý luận về phát triển làng nghề. Tìm hiểu
kinh nghiệm của một số tỉnh về phát triển làng nghề.
- Phân tích thực trạng phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An, tìm ra các
nhân tố, nguyên nhân ảnh hưởng đến phát triển làng nghề.
- Đề xuất các giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong những
năm tới.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Về địa bàn: nghiên cứu các làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
- Về thời gian: luận văn nghiên cứu sự phát triển của làng nghề trong những năm
gần đây, chủ yếu là từ năm 2001, khi có Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về
phát triển công nghiệp, TTCN và làng nghề giai đoạn 2001-2010.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác –
Lênin và các phương pháp khác như: tổng hợp, phân tích, so sánh,
- Điều tra nghiên cứu thực địa một số làng nghề tiêu biểu trên địa bàn tỉnh phù hợp
với yêu cầu của luận văn.
- Phỏng vấn, trao đổi với cán bộ các sở, ngành có liên quan và cán bộ ở các huyện,
xã và lao động trong một số làng nghề.
6. Những đóng góp chủ yếu của luận văn
- Góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về làng nghề như quan niệm, tiêu chí

GS. Trần Quốc Vượng quan niệm “Làng nghề là làng ấy tuy vẫn trồng trọt theo lối
tiểu nông và chăn nuôi nhỏ, cũng có một số nghề phụ khác, song đã nổi trội một số nghề
cổ truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có
phường, có ông trùm, có phó cả, cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy
trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống
chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra các mặt hàng thủ công” [46, tr.27]. Quan niệm
này chưa phù hợp với làng nghề mới.
Một số nhà nghiên cứu khác lại đưa ra quan niệm làng nghề gắn với tiêu chí cụ thể
về lao động, thu nhập. Tác giả Nguyễn Văn Đại, Trần Văn Luận cho rằng “Làng nghề là
những làng đã từng có từ 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao động của địa phương trở lên
làm nghề chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong năm” [14, tr.15].
TS. Dương Bá Phượng quan niệm “Làng nghề là làng ở nông thôn có một (hay một
số) nghề thủ công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập” [28, tr.13-14]. Quan
niệm này nêu hai yếu tố cơ bản cấu thành làng nghề, đó là làng và nghề.
Tác giả Mai Thế Hởn cho rằng "Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một
thôn (làng) có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất độc lập.
Thu nhập từ các nghề đó chiểm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của làng" [18,
tr.8].
Tác giả Đỗ Quang Dũng quan niệm “Làng nghề là làng ở nông thôn có một (hay một
số) nghề thủ công hầu như được tách hẳn ra khỏi nông nghiệp, kinh doanh độc lập và đạt tới
một tỷ lệ nhất định về lao động làm nghề cùng như về mức thu nhập từ nghề so với tổng số lao
động và thu nhập của làng” [9, tr. 16].
Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ NN&PTNT Hướng dẫn thực hiện một số
nội dung Nghị định số 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ “Về phát triển ngành nghề nông
thôn” quy định “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn,
phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động
ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” [4].

chủ yếu lúc nông nhàn. Nhưng dần dần số người làm nghề thủ công càng nhiều, tách
rời khỏi nông nghiệp và họ sinh sống chính bằng thu nhập từ nghề đó ngay tại làng quê.
Ngày nay ngoài nghề thủ công trên, các hoạt động cung ứng dịch vụ ở nông thôn cũng
được xếp vào nghề và người ta gọi chung là ngành nghề phi nông nghiệp. Ngành nghề
phi nông nghiệp được mở rộng, bao gồm các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp như:
công nghiệp, TTCN, các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống Ngành nghề phi nông
nghiệp còn được gọi là ngành nghề nông thôn. “Ngành nghề nông thôn là những hoạt
động kinh tế phi nông nghiệp, bao gồm công nghiệp, thủ công nghiệp và các hoạt động
dịch vụ phục vụ cho sản xuất và đời sống” [24, tr.26]. Nghị định số 66/2006/NĐ-CP
quy định ngành nghề nông thôn gồm:
- Chế biến, bảo quản nông, lâm, thuỷ sản.
- Sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, cơ khí
nhỏ.
- Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn.
- Sản xuất hàng TCMN.
- Gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh.
- Xây dựng, vận tải trong nội bộ xã, liên xã và các dịch vụ khác phục vụ sản xuất,
đời sống dân cư nông thôn.
- Tổ chức đào tạo nghề, truyền nghề; tư vấn sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực
ngành nghề nông thôn [5].
Như vậy, có thể quan niệm rằng làng nghề là một cụm dân cư như làng, thôn, ấp, bản,
buôn, phum, sóc, (gọi chung là làng) có sản xuất kinh doanh ngành nghề nông thôn mà số hộ
làm nghề và thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao.
* Tiêu chí về làng nghề
Có một số tiêu chí để xác định làng nghề, người ta thường dùng nhất là tiêu chí về
lao động và thu nhập.
Về lao động, người ta dùng tỷ lệ lao động (hay số hộ) làm nghề so với tổng số lao

trường theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường [30].
Trước đây, do chưa thống nhất về tiêu chí làng nghề nên có nhiều số liệu rất khác
nhau về làng nghề cả nước. Theo JICA và Bộ NN&PTNT, năm 2002 cả nước có 2.017
làng nghề [41]; theo tác giả Tăng Thế Cường, Viện Chiến lược và Chính sách Bộ Khoa
học và Công nghệ thì có 1.450 làng nghề; theo Bộ Công nghiệp thì có 1.502 làng nghề
(2004); theo Viện Asia SEED (Nhật Bản) thì có khoảng 1.500 làng nghề. Theo kết quả
điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006 cả nước có 1077 làng nghề [44].
Từ tiêu chí làng nghề trên đây có một vấn đề đặt ra là: các làng có hoạt động sản
xuất kinh doanh ngành nghề nông thôn nhưng chưa đạt các tiêu chí làng nghề thì gọi là
gì? Điều này trong thực tiễn có ý nghĩa quan trọng để phản ánh các chỉ tiêu về phát triển
TTCN ở địa phương. Một số địa phương đưa ra quan niệm làng có nghề cho những làng
chưa đủ tiêu chí để công nhận làng nghề. Chẳng hạn như tỉnh Hà Tây, Nghệ An UBND
tỉnh Nghệ An quy định làng có nghề tỷ lệ lao động phải đạt từ 20%; tỷ lệ thu nhập phải đạt
từ 20% [52].
1.1.2. Phân loại làng nghề
Có nhiều cách phân loại làng nghề khác nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Sau
đây là một số cách phân loại chủ yếu:
- Theo lịch sử hình thành và phát triển của các làng nghề, người ta chia làng nghề
thành làng nghề truyền thống và làng nghề mới. Đây là cách phân loại phổ biến, hay dùng
nhất.
Làng nghề truyền thống là những làng nghề đã xuất hiện lâu đời, được nối tiếp từ
thế hệ này sang thế hệ khác hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm. Làng nghề truyền
thống phải có các yếu tố sau: hình thành và phát triển lâu đời; có nhiều nghệ nhân và đội
ngũ thợ lành nghề đông đảo; sử dụng nguyên liệu trong nước là chủ yếu; sản phẩm mang
tính truyền thống và độc đáo của Việt Nam, có giá trị chất lượng cao, vừa là hàng hoá tiêu
dùng, vừa là sản phẩm văn hoá, nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn
hoá của dân tộc, mang tính bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam; là nghề nuôi sống phần lớn

văn hóa quan trọng cần được bảo tồn và phát huy trong sự nghiệp phát triển văn hóa dân tộc
và phát triển đất nước.
1.1.3.2. Đặc điểm về sản xuất
Sản xuất trong các làng nghề chủ yếu sử dụng kỹ thuật thủ công. Nhiều loại sản
phẩm hoàn toàn dựa vào đôi tay khéo léo của người thợ. Có một số nghề chỉ cần công cụ
thủ công, thô sơ do chính người thợ có thể tự làm ra. Hiện nay, tuy đã cơ khí hoá và điện
khí hoá từng bước trong công nghệ - kỹ thuật sản xuất nhưng một số công đoạn không thể
áp dụng được, vẫn đòi hỏi phải duy trì kỹ thuật thủ công. Do đó năng suất lao động ở các
làng nghề không cao, chất lượng sản phẩm không đồng đều. Do vậy trong các sản phẩm
làng nghề, lao động sống chiếm tỷ lệ cao trong giá thành sản phẩm. Điều này có ý nghĩa rất
quan trọng trong việc tạo thêm việc làm cho người dân nông thôn.
1.1.3.3. Đặc điểm về sản phẩm
Sản phẩm làng nghề chủ yếu gồm các nhóm sau đây:
- Sản phẩm TCMN, như: gốm sứ, sơn mài, thêu len, thảm các loại, khảm, chạm
khắc gỗ, đồ gỗ mỹ nghệ, hàng mây tre đan, chạm khắc đá, mạ vàng, thổ cẩm Nhóm sản
phẩm này có giá trị thẩm mỹ cao, chủ yếu xuất khẩu, do đó thị trường rất rộng lớn. Người
lao động làm những sản phẩm này đòi hỏi trình độ tay nghề cao, do đó phải được đào tạo
công phu, tích luỹ được nhiều kinh nghiệm.
- Sản phẩm tiêu dùng thông thường như: chiếu cói, nón lá, mành mành, sọt, bồ, vải,
may mặc, da giày, đồ gỗ gia dụng; chế biến nông sản thực phẩm như xay xát, bún bánh,
tương, đậu, rượu, Nhóm sản phẩm này tiêu thụ chủ yếu trong vùng hoặc trong nước, có
một số ít có thể xuất khẩu được, thị trường không lớn lắm. Nhóm sản phẩm này không đòi
hỏi trình độ tay nghề cao nên dễ làm, dễ truyền nghề.
- Tư liệu sản xuất thông dụng ở nông thôn như: liềm, hái, dao kéo, nông cụ, máy
móc nhỏ, Những sản phẩm này cũng chủ yếu tiêu thụ trong vùng hoặc trong nước, cho
nên thị trường không lớn lắm. Cũng giống như nhóm sản phẩm trên, nhóm này không đòi
hỏi trình độ tay nghề cao nên dễ làm, dễ truyền nghề.


- Doanh nghiệp chuyên kinh doanh ngành hàng TTCN như DNTN, CT. TNHH,
công ty cổ phần Các doanh nghiệp đóng vai trò hạt nhân liên kết các hộ gia đình và HTX
kinh doanh ngành nghề TTCN ở nông thôn bằng các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết
kế mẫu mã, hay nhận sản xuất theo mẫu mã của các công ty nước ngoài, cung ứng vật tư,
đặt hàng gia công cho các HTX, hộ gia đình, đầu tư lập xưởng, nhà máy để thực hiện một
số công đoạn cần thiết, thu gom, đóng gói sản phẩm, xây dựng và quảng bá thương hiệu,
tiêu thụ sản phẩm, nhất là xuất khẩu. Do vậy các doanh nghiệp này đóng vai trò quyết định
trong việc phát triển làng nghề.
Một số nơi đã xây dựng các khu công nghiệp làng nghề. Các nghề, các công đoạn
sản xuất gây ô nhiễm môi trường được đưa vào khu công nghiệp làng nghề, các công đoạn
sản xuất nếu không gây ô nhiễm môi trường có thể làm tại các hộ gia đình.
Tuy có nhiều loại hình sản xuất ở trong các làng nghề, nhưng hiện nay loại hình
thức hộ gia đình vẫn chiếm ưu thế.
1.1.3.6. Truyền nghề, phát triển nghề
Mỗi làng nghề đều có một người đầu tiên dạy nghề, truyền nghề cho làng, sau này
được dân làng thường gọi là tổ nghề. Việc dạy nghề, trước đây chủ yếu theo phương thức
truyền nghề trong gia đình, trong làng, từ đời này sang đời khác, ít được phổ biến ra ngoài.
Vì vậy hầu hết các nghề chỉ được lưu truyền trong phạm vi từng làng nghề. Ngày nay,
được sự hỗ trợ của Nhà nước, với sự ra đời của các HTX thủ công nghiệp, các trung tâm
dạy nghề thì các làng nghề không còn giữ được các bí quyết nghề nghiệp như trước nữa.
Tuy vậy phương thức đào tạo nghề hiện nay ở các làng nghề chủ yếu vẫn theo lối truyền
nghề kèm cặp, các nghệ nhân đóng vai trò quan trọng.
1.1.4. Vai trò của làng nghề
1.1.4.1. Các làng nghề tạo ra khối lượng hàng hoá phong phú, đa dạng phục vụ
cho nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Với số lượng ngành nghề phong phú, đa dạng và với số lượng lớn các cơ sở, các hộ
sản xuất nên các làng nghề đã tạo ra sản phẩm hàng hoá phong phú và đa dạng về chủng
loại, khối lượng lớn, đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước. Ngoài ra sản phẩm
của các làng nghề còn đóng góp quan trọng làm tăng kim ngạch xuất khẩu. Từ năm 1996


76

78

92

84

GTXK gỗ mỹ nghệ 71.390

62.340

26.285

31.560

49.917

số nước mua

40

35

50

52

62


49.238

53.920

67.059

số nước mua

56

71

72

76

92

Nguồn: Tổng cục Thống kê.
1.1.4.2. Làng nghề góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Làng nghề có vai trò tích cực góp phần tăng tỷ trọng công nghiệp, TTCN và dịch
vụ, thu hẹp tỷ trọng nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập
thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn. Sự phát triển này đã làm thay
đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, từ đó đã tạo ra nền kinh tế đa dạng ở nông thôn, không chỉ có
nông nghiệp thuần nhất mà còn có các ngành TTCN, thương mại, dịch vụ. Sự phát triển

(6,5%) [3]. Đất canh tác bình quân đầu người thấp (800m
2
), ở miền Bắc chỉ còn khoảng
500m
2
. Hầu hết các vùng quê đều dư thừa lao động, có nơi dư thừa từ 27 – 40% [41]. Mặt
khác quá trình CNH, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nhiều (Từ 1995-2005 trung bình mỗi
năm cả nước mất khoảng 50.000 ha đất nông nghiệp cho các nhu cầu phi nông nghiệp).
Những vấn đề trên dẫn đến đời sống của nông dân nghèo, khoảng cách chênh lệch nông thôn
và thành thị có xu hướng gia tăng. Vì vậy, vấn đề tạo việc làm cho lao động nông thôn, nông
dân nói riêng là mối quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước
ta. Kết quả điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006 cho biết làng nghề đã thu
hút một lượng lao động lớn với 256.000 hộ tham gia thường xuyên, với số lao động là 655.000
người [44].
Phát triển làng nghề còn có ý nghĩa khác là góp phân tạo ra bình đẳng cho phụ nữ. Phụ
nữ nước ta chiếm 49% lực lượng lao động, nhưng chỉ 26% là có công việc chính trong lĩnh vực
làm công ăn lương (ở nam giới là 41%). Phát triển ngành nghề nông thôn đã thu hút được số
lượng lớn phụ nữ với thu nhập ổn định, góp phân nâng cao vị thế của phụ nữ [38, tr.62].
1.1.4.4. Làng nghề góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân
và xây dựng nông thôn mới
Thu nhập bình quân của lao động nghề phi nông nghiệp cao hơn khoảng 3-4 lần thu
nhập của lao động nông nghiệp; thu nhập của lao động ở đô thị cao hơn khoảng 3,7 lần so
với lao động ở nông thôn [41, tr.3-10]. Từ đó ta thấy rằng phát triển làng nghề sẽ tạo điều
kiện để giảm dần khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa thành thị và nông thôn. ở những
nơi có làng nghề phát triển tỉ lệ hộ khá và giàu thường cao hơn, tỉ lệ hộ nghèo thấp hơn
hẳn so với những vùng thuần tuý sản xuất nông nghiệp.
Phát triển làng nghề cùng với việc tăng thu nhập tạo điều kiện nâng cao đời sống

động
(lao
động)
VĐT
ban
đầu/lao
động
1 Thêu ren 0,5 0,2 0,3 1 0,5
2 Mây giang đan 0,2 0,12 0,08 1 0,2
3 Dệt đũi 4,5 1,5 3 3 1,5
4 Làm bánh đa nem, bún 1,5 1 0.5 2 0,75
5 Mộc 5,8 4 1,8 3 1,9
Nguồn: Trung tâm Dân số và nguồn lao động Việt Nam (1997).
Vào những năm 90 của thế kỷ XX, đầu tư cho một chỗ làm việc ở DNTN từ 5-10
triệu đồng, trong khi đầu tư cho 1 chỗ làm việc ở làng nghề chỉ khoảng 1 triệu đồng. Bình
quân vốn đầu tư ban đầu của doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn ít hơn 5 lần, đầu tư cho một
lao động ít hơn 3 lần so với chỉ tiêu tương ứng của các doanh nghiệp nhỏ ở thành thị [8,
tr.90]. Vốn kinh doanh bình quân của một doanh nghiệp là 1.035,9 triệu đồng, của một hộ
chuyên nghề là 20,56 triệu đồng và của một hộ nông nghiệp kiêm nghề là 9,18 triệu đông.
sản xuất ở các làng nghề với rất nhiều hộ gia đình đã huy động được một lượng vốn không
nhỏ.
Các làng nghề còn tiết kiệm được các chi phí khác như chi phí xây dựng cơ bản vì
đầu tư cho công việc xây dựng nhà xưởng, kho tàng, đường sá,… được giảm đến mức thấp
nhất vì các hộ sản xuất tận dụng các diện tích sẵn có trong gia đình (nhà ở, sân, vườn,…)
và trong làng đề làm nơi sản xuất, bảo quản. Ngoài ra các hộ sản xuất còn huy động vốn
thông qua việc vay mượn nhau trong gia đình, họ hàng, làng xóm, bạn bè,… thông qua
nhiều hình thức rất linh hoạt. Năm 2006 ước tính tổng vốn tích luỹ hiện có của các hộ
nông thôn khoảng 90.000 tỷ đồng. Đây là khoản tiền nhàn rỗi khá lớn, cần có các biện
pháp và chính sách thích hợp để huy động nguồn vốn nhàn rỗi này phục vụ cho phát triển
kinh tế – xã hội của đất nước [44].

Bên cạnh những vai trò to lớn, sự phát triển làng nghề cũng có những hạn chế. Đó
là:
Thứ nhất, phát triển làng nghề là phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế cá thể, kinh
tế tư nhân, bị giới hạn bởi diện tích đất đai, vốn đầu tư nên hạn chế khả năng áp dụng tiến
bộ khoa học, công nghệ mới vào sản xuất, năng suất lao động không cao.
Thứ hai, phát triển làng nghề sẽ làm tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp
nhân dân ở nông thôn. Mức chênh lệch thu nhập giữa nhóm thu nhập cao nhất và thấp nhất
ngày càng tăng, năm 2002 là 6 lần, năm 2006 tăng lên 6,5 lần [44].
Thứ ba, phát triển làng nghề tác động xấu tới môi trường sinh thái, cảnh quan. Hầu hết
các làng nghề ở nước ta đều ô nhiễm môi trường. Tỷ lệ làng nghề sử dụng thiết bị xử lý nước,
chất thải độc hại năm 2006 mới chiếm 4,1% [44].
Thứ tư, do tính chất sản xuất phân tán theo mô hình hộ gia đình, nên việc chỉ đạo,
giám sát, quản lý của cơ quan quản lý Nhà nước gặp nhiều khó khăn, dẫn đến tình trạng
thất thu thuế từ các làng nghề.
Thứ năm, do phát triển kinh tế hộ gia đình, vì lợi nhuận nên dẫn đến hiện tượng
tranh giành đất đai, tài sản trong nội bộ gia đình, anh em, họ hàng, làng xóm, vi phạm pháp
luật gia tăng. Mặt khác, còn dẫn đến tệ nạn xã hội như nghiện hút, gái mại dâm, cờ bạc làm
suy đồi đạo đức của thế hệ trẻ, tác động tới tư duy, lối sống pha trộn, lai căng làm tổn hại
tới phong tục tập quán, thuần phong mĩ tục.
Thứ sáu, vì mục tiêu cá nhân là lợi nhuận, nhiều nơi làm dối, làm ẩu, làm hàng giả
và có xu hướng gia tăng.
Thứ bảy, trong làng nghề người lao động thường làm việc từ 10 - 12 tiếng trong
ngày, trong điều kiện diện tích chật hẹp, mức ô nhiễm cao, điều kiện phòng chống cháy nổ,
an toàn lao động cho người lao động thấp, trong khi thiếu hiểu biết về nghề nghiệp, do đó
sức khỏe suy giảm nhanh, tai nạn xảy ra hàng ngày Các yếu tố trên tác động trực tiếp và
thường xuyên tới người lao động và dân cư trong làng. Các loại bệnh thần kinh, đường hô hấp,
đường tiêu hóa chiếm tỷ lệ trên 60% tổng số dân cư trong khu vực làng nghề.

bình quân đầu người thấp, như làng Ninh Hiệp, làng Đồng Kỵ, làng tranh dân gian Đông
Hồ Vùng ĐBSH trở thành nơi xuất hiện sớm nhất, tập trung nhất các làng nghề có lẽ
chính sức ép kinh tế.
1.2.3. Vị trí địa lý
Số liệu thống kê cho thấy hầu hết các làng nghề phát triển đều nằm ở vị trí thuận lợi
về giao thông hoặc gần nguồn nguyên liệu. Những vị trí như vậy thuận tiện trong chuyên
chở nguyên vật liệu, trao đổi và buôn bán sản phẩm, Đặc biệt là trước kia, do điều kiện
về giao thông chưa phát triển thì yếu tố “bến sông bãi chợ” luôn đóng vai trò chính trong
việc vận chuyển, buôn bán của làng nghề. Nhiều làng nghề hình thành trên cơ sở nguồn
nguyên liệu sẵn có tại địa phương như gốm Hương Canh, Thổ Hà
1.2.4. Kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng gồm hệ thống giao thông, hệ thống cấp điện, nước, thông tin, y tế,
giáo dục, điều kiện sinh hoạt, ảnh hưởng rất lớn tới phát triển làng nghề. Giao thông là
yếu tố ảnh hưởng lớn nhất. Giao thông phát triển tạo điều kiện để làng nghề giao lưu, vận
chuyển nguyên liệu, sản phẩm thuận tiện hơn. Hệ thống cung cấp điện đảm bảo cho các
làng nghề sử dụng các thiết bị, máy móc trong sản xuất và phục vụ đời sống. Hệ thống
thông tin liên lạc tạo điều kiện cho các làng nghề trao đổi, quảng bá sản phẩm trong nước
và quốc tế. Đặc biệt ngày nay trong nền kinh tế thị trường, trong xu thế hội nhập với kinh
tế thế giới thì sự phát triển của hệ thống thông tin ngày càng đóng vai trò quan trọng để
nắm bắt được nhu cầu của thị trường, để giao dịch, buôn bán, Ngoài ra hệ thống xử lý
rác thải, y tế, giáo dục, tạo điều kiện cho làng nghề phát triển.
1.2.5. Truyền thống làm nghề
Mỗi làng nghề truyền thống đều có những kinh nghiệm, kỹ thuật, thói quen nghề
nghiệp, bí quyết riêng trong sản xuất, kinh doanh. Những kinh nghiệm, kỹ thuật, thói quen
nghề nghiệp, bí quyết này tạo nên nét độc đáo riêng của từng làng nghề và nằm trong tay
các nghệ nhân, thợ giỏi, được truyền từ đời này sang đời khác để lưu giữ và phát triển nghề
truyền thống tại địa phương. Những yếu tố truyền thống giúp cho làng nghề giữ được

tạo điều kiện cho làng nghề phát triển bền vững, hạn chế gây ô nhiễm, tàn phá môi trường,
gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, văn hoá, xã hội, làm thất thu thuế. Không có sự quản
lý của Nhà nước, làng nghề tự do cạnh tranh không lành mạnh, chẳng những không phát
triển mà còn kìm hãm sự phát triển, không nâng cao được năng lực cạnh tranh của làng
nghề với thị trường trong và ngoài nước
Trước đổi mới, chúng ta không chú ý phát triển kinh tế tư nhân nên các làng nghề
theo nghĩa là các đơn vị kinh tế độc lập đã chuyển thành các HTX TTCN hoặc các tổ hợp
tác, các đội ngành nghề trong các HTX sản xuất nông nghiệp. Các HTX này với trình độ
quản lý yếu kém đã làm cho các làng nghề không phát triển được, Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ VI đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta. Các
chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước đã khuyến khích phát triển kinh tế
nói chung và làng nghề nói riêng. Trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn,
làng nghề luôn giữ một vị trí quan trọng, luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đề cập
nhiều qua các kỳ Đại hội. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác
định: "Phát triển các ngành nghề, làng nghề và các ngành nghề mới bao gồm tiểu thủ công
nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu " [12, tr.45]. Đại hội IX của Đảng Cộng
sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh: "Phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ nông thôn,
hình thành các khu vực tập trung công nghiệp, các điểm công nghiệp ở nông thôn, các làng
nghề gắn với thị trường xuất khẩu " [13, tr.172]. Nhà nước đã ban hành nhiều luật pháp
và chính sách liên quan đến phát triển làng nghề như Luật Đất đai, Luật Thuế sử dụng đất
nông nghiệp, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư các chính sách tín dụng, chính sách đầu
tư, Đặc biệt là Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24 tháng 11 năm 2000 của Thủ
tướng Chính phủ "về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn"
và Nghị định 66/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 07 tháng 7 năm 2006 về "Phát triển
ngành nghề nông thôn" (phụ lục 1). Nhờ những chủ trương chính sách đó làng nghề đã có
bước phát triển mới. Tốc độ tăng bình quân số hộ và cơ sở ngành nghề nông thôn hàng
năm là 8,9-9,8%/năm. Theo tiêu chí làng có 20% số hộ tham gia ngành nghề nông thôn thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status