LUẬN VĂN: Giải pháp phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh An Giang pot - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Giải pháp phát triển làng nghề truyền
thống trên địa bàn tỉnh An Giang MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khu vực nông thôn Việt Nam chiếm gần 80% dân số cả nước, trong xu thế hội nhập
kinh tế, khu vực nông thôn đã đạt được những kết quả tương đối khả quan như: đã giải
quyết được cơ bản nhu cầu lương thực, thực phẩm, thu nhập của dân cư ở khu vực nông
thôn tăng lên, đời sống văn hoá xã hội được cải thiện đáng kể. Đặc biệt là đối với các
địa phương đã hình thành và phát triển các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp với các
làng nghề, làng nghề truyền thống và làng nghề mới, cung cấp nhiều sản phẩm cho xã hội.
Hiện nay, nước ta có khoảng gần 2000 làng nghề thủ công thuộc 11 nhóm ngành nghề
chính như: sơn mài, gốm sứ, thêu ren, mây tre đan, cói, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá
Cùng với sự phát triển làng nghề truyền thống của cả nước, làng nghề của tỉnh An
Giang cũng được chính quyền địa phương quan tâm, tạo điều kiện để phát triển, mở rộng
quy mô và đa dạng ngành nghề. Nhiều làng nghề như se nhang, lưỡi câu, bánh tráng, sản
xuất bánh phồng, bó chổi bông cỏ, chầm nón, HTX rèn, mộc chạm trổ mỹ nghệ, mộc dân

của tín dụng ngân hàng nông nghiệp đến năm 2010, đưa ra cơ chế, chính sách cho vay để
khuyến khích làng nghề phát triển.
- “Giải pháp xây dựng làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh theo hướng phát triển
bền vững” của Thạc sĩ Nguyễn Hữu Loan năm 2007. Tác giả đánh giá thực trạng và đề
xuất giải pháp tổ chức quản lý, xây dựng làng nghề theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh.
- Bên cạnh đó, còn một số đề tài, luận án tiến sĩ đề cập tới các vấn đề gần với đề tài
này như: “Phát triển tiểu thủ công nghiệp trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở
đô thị Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Hữu Lực hay “Một số vấn đề cơ bản về sự phát
triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Hà Bắc” của Nguyễn Ty, … Các công trình này
chủ yếu đề cập đến vấn đề phát triển tiểu thủ công nghiệp là chính, còn vấn đề khôi phục
và phát triển làng nghề truyền thống mới dừng lại ở mức định hướng cơ bản tầm vĩ mô và
một số chủ trương lớn mà chưa đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống, đưa ra các giải pháp khả thi cho việc đẩy mạnh phát triển làng nghề truyền thống.
- Ngoài ra, còn một số luận văn lý luận chính trị cao cấp về “Phát triển làng
nghề truyền thống trong nền kinh tế thị trường hiện nay trên địa bàn huyện Đức Thọ -
Hà Tĩnh” của Thạc sĩ Nguyễn Quốc Hải năm 2006 và “Nghề truyền thống trên địa bàn
Hà Nội trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” của Nguyễn Trọng Tuấn cũng đều đề
cập đến thực trạng làng nghề truyền thống của các địa phương khác nhau; đồng thời
cũng đưa ra những giải pháp về quy hoạch kế hoạch phát triển nghề truyền thống và đặt
vấn đề thị trường tiêu thụ, đổi mới công nghệ, chính sách, đào tạo nguồn lao động để
làng nghề được phát triển trong điều kiện Việt Nam thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp nông thôn và gia nhập Tổ chức thương mại thế giới.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu kể trên đã nghiên cứu những khía cạnh khác
nhau của các làng nghề, làng nghề truyền thống và đưa ra những giải pháp phát triển cũng
chính là giải quyết vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân theo đúng tinh thần
nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

nghiên cứu của luận văn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng các phương pháp nghiên cứu khoa học
khác như: phân tích, tổng hợp, diễn giải, khảo sát, thống kê, so sánh, phương pháp kết hợp
logic với lịch sử, lý luận với thực tế.
6. Đóng góp mới khoa học của luận văn
Luận văn phân tích và làm rõ thực trạng các làng nghề truyền thống trên nhiều khía
cạnh, khái quát quá trình hình thành và phát triển, đánh giá kết quả những hạn chế tồn tại
và nguyên nhân, đề xuất các quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững các
làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá trên địa bàn tỉnh An
Giang.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo nghiên cứu ở các ngành, các cơ quan nghiên
cứu hoạch định chính sách và chỉ đạo thực tiễn của tỉnh An Giang.
7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương, 8 tiết.
Chương 1
SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM

1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG Ở
NÔNG THÔN VIỆT NAM

tổng hợp từ các nguồn tài liệu: [3], [21], [25],[29],[49].
- Trước hết là quan niệm về làng nghề
Quan niệm thứ nhất: làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều hoạt
động cho nghề ấy và lấy đó làm nghề sống chủ yếu. Nhưng với quan niệm như vậy thì làng
nghề đó hiện nay không còn nhiều.
Quan niệm thứ hai: làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công, ở đây không
nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều khi cũng là
người làm nghề nông. Nhưng do yêu cầu chuyên môn hoá cao đã tạo ra những người thợ
chuyên sản xuất hàng thủ công truyền thống ngay tại làng nghề hay phố nghề ở nơi khác.
Quan niệm về làng nghề như vậy là chưa đủ, điều đó nói lên rằng không phải bất cứ làng
nào có vài ba lò rèn hay vài ba gia đình làm nghề mộc, nghề dệt … đều là làng nghề. Để
xác định đó có phải là làng nghề hay không, cần xem xét tỷ trọng lao động hay số hộ làm
nghề so với toàn bộ lao động và hộ ở làng hay tỷ trọng thu nhập từ ngành nghề so với tổng
thu nhập của làng.
Quan niệm thứ ba: làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân
và nhiều hộ gia đình chuyên tâm làm nghề truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản
xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, theo kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, có
cùng tổ nghề. Song ở đây chưa phản ánh đầy đủ tính chất của làng nghề; nó là một thực thể
sản xuất kinh doanh tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử là một đơn vị kinh tế TTCN có
tác dụng to lớn đối với đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội một cách tích cực.
Từ cách tiếp cận trên cho thấy quan niệm về làng nghề liên quan đến các nghề thủ công
cụ thể. Tên gọi của làng nghề gắn liền với tên gọi của các nghề thủ công như nghề gốm sứ,
đúc đồng, khảm trai, kim hoàn, dệt vải, dệt tơ lụa, … Trước đây, quan niệm làng nghề chỉ bao hàm các nghề thủ công nghiệp, ngày nay, khi mà trên thế giới khu vực dịch vụ đóng vai trò
quan trọng và trở thành lĩnh vực chiếm ưu thế về mặt tỷ trọng, thì các nghề dịch vụ trong nông
thôn cũng xếp vào các làng nghề. Như vậy, trong làng nghề sẽ có loại làng một nghề và làng
nhiều nghề, tuỳ theo số lượng ngành nghề thủ công và dịch vụ có ưu thế trong làng. Làng một
nghề là làng duy nhất có một nghề xuất hiện và tồn tại, hoặc có một nghề chiếm ưu thế tuyệt

Quan niệm về LNTT còn có nhiều cách hiểu khác nhau do cách tiếp cận nghiên cứu
khác nhau, để làm rõ về LNTT cần có những tiêu chí sau:
- Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống ở làng nghề đạt từ 50% trở lên so với
tổng số hộ và lao động của làng.
- Giá trị SX và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên 50% tổng giá trị
SX và thu nhập của làng trong một năm.
- Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét yếu tố văn hoá và bản sắc dân tộc
Việt Nam.
- Sản xuất có quy trình công nghệ nhất định, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác.
Từ cách tiếp cận và nghiên cứu trên có thể định nghĩa: LNTT là những thôn, làng
có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất
kinh doanh và đem lại nguồn thu chiếm phần chủ yếu trong năm. Cùng với thời gian, các
làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một
tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có
quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó. Sản phẩm làm ra có tính mỹ
nghệ và đã trở thành hàng hoá trên thị trường.
1.1.2. Đặc điểm của làng nghề truyền thống Việt Nam
Làng nghề truyền thống Việt Nam có năm đặc điểm chính sau đây:
- Hoạt động làng nghề truyền thống gắn liền với làng quê và sản xuất nông nghiệp
Xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của xã hội, các nghề thủ công truyền thống dần dần
xuất hiện với tư cách là nghề phụ, việc phụ trong các gia đình nông dân và nhanh chóng
phát triển ở nhiều làng quê. Thời gian người lao động ở làng quê dành cho hoạt động sản
xuất nông nghiệp (do ruộng đất bình quân thấp, đặc điểm mùa vụ của cây trồng), năng suất
lao động nông nghiệp thấp đã không đảm bảo thu nhập đủ sống cho người nông dân. Vì vậy, nhu cầu tạo việc làm để có thêm thu nhập ngoài sản xuất nông nghiệp trở thành cấp
thiết. Đồng thời, do tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp đã tạo ra một sự dư thừa lao
động trong một thời gian nhất định; trong khi đó, ngay trên thị trường địa phương có nhu

mây tre đan, kim hoàn, đồ chơi, … ở mỗi LNTT đều có bản sắc riêng, từng nghệ nhân cũng có
những nét riêng. Những nét riêng đó được thử thách qua thời gian, qua giao lưu trao đổi được
chọn lọc, được thừa nhận để tồn tại và phát triển, cùng với sự bổ sung lẫn nhau, trở thành
những kiểu mẫu hoàn thiện, đặc sắc cho những sản phẩm cùng loại được sản xuất, chế tác tiếp
sau thể hiện bản sắc độc đáo Việt Nam. Chính tính khác biệt mang dấu ấn văn hoá mang lại
khả năng cạnh tranh cho sản phẩm LNTT trong quá trình phát triển thị trường ra thế giới.
- Lao động chủ yếu là thủ công
Trước đây, khi kỹ thuật công nghệ còn thô sơ, lạc hậu thì hầu hết các công đoạn
trong quy trình sản xuất đều do lao động thủ công đảm nhận. Đặc trưng cơ bản của người
thợ thủ công là tự định đoạt lấy mọi công việc kể cả cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ
sản phẩm. Công việc có thể tiến hành độc lập hay cùng với một số người trong gia đình,
dòng họ hoặc một số người học việc. Công việc này đã thể hiện một tay nghề nhất định,
một tài khéo léo riêng biệt, độc đáo, kết hợp với đầu óc sáng tạo và nghệ thuật thông qua
lao động bằng tay hoặc bằng máy móc công cụ cơ khí, nửa cơ khí. Ngày nay, nhiều LNTT
đã biết sử dụng máy móc cơ khí và động lực trong sản xuất. Tuy nhiên, dấu ấn lao động
thủ công vẫn được giữ gìn và chính tính chất thủ công mang lại đặc thù cho các sản phẩm
LNTT.
- Làng nghề truyền thống luôn gắn với tên làng (thương hiệu) và có khả năng tồn
tại, phát triển lâu dài
Mỗi LNTT thường gắn liền với địa danh của làng đó để đặt tên cho LNTT của mình
như làng tranh Đông Hồ, làng gốm Bát Tràng, làng điêu khắc đá Ngũ Hành Sơn, làng mộc
Kim Bồng, đúc đồng Phước Kiều, đan mây Chương Mỹ, tơ lụa Tân Châu, … đây chính là
đặc điểm tiêu biểu để phân biệt được sản phẩm riêng có của mỗi LNTT.
Sản phẩm của LNTT không chỉ đòi hỏi lao động khéo léo của người thợ mà còn đòi
hỏi sự tích luỹ kinh nghiệm qua nhiều thế hệ và những kinh nghiệm này trải qua thời gian
đã trở thành bí quyết nghề nghiệp và uy tín thương hiệu. LNTT đã tồn tại lâu dài từ đời
này sang đời khác là nhờ vào đặc tính này của LNTT. Trong thời đại hiện nay, đây chính là thương hiệu, chỉ dẫn địa lý của LNTT. Việc bảo vệ thương hiệu, chỉ dẫn địa lý có ý

quyết việc làm cho lao động nông thôn trở nên hết sức cấp bách, đòi hỏi sự hỗ trợ về nhiều
mặt và đồng bộ của các ngành nghề và lĩnh vực.
Theo kết quả điều tra, bình quân mỗi cơ sở chuyên làm nghề ở các làng nghề tạo
việc làm ổn định cho 27 lao động thường xuyên và 8-10 lao động thời vụ, mỗi hộ chuyên
làm nghề tạo việc làm cho 4-6 lao động thường xuyên và 2-5 lao động thời vụ. Đặc biệt,
nghề dệt may, thêu ren mỗi cơ sở có thể thu hút khoảng 30-50 lao động, cá biệt có những
cơ sở hàng trăm lao động; nhiều LNTT thu hút trên 60% lao động tham gia vào các hoạt
động sản xuất [32].
- Cung cấp một khối lượng hàng hóa cho xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế
Khôi phục và phát triển LNTT ở nông thôn sẽ tạo điều kiện cho việc huy động một
cách tối đa mọi nguồn lực sẵn có ở khu vực nông thôn như nguồn lực tự nhiên, nguồn lực
cơ sở vật chất kỹ thuật, tiềm năng vốn, các nguyên liệu sẵn có ở địa phương … phục vụ
vào sản xuất. Do đó, sản xuất được đẩy mạnh và tạo ra ngày càng nhiều hàng hoá có chất
lượng cao, đa dạng phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống. Mặt khác, sản xuất trong
các LNTT thường tương đối năng động và gắn chặt chẽ với nhu cầu thị trường, vì vậy mà
sản xuất của LNTT mang tính chuyên môn hoá và đa dạng hoá cao hơn so với sản xuất
nông nghiệp. Điều này dẫn đến tỷ trọng sản phẩm hàng hoá ở các LNTT thường cao hơn
rất nhiều so với các làng thuần nông và khối lượng sản xuất hàng hoá sản xuất ra cũng lớn
hơn nhiều.
Sản phẩm của LNTT có giá trị kinh tế và xuất khẩu, nên việc phát triển LNTT
góp phần cùng sản xuất nông nghiệp làm tăng trưởng kinh tế ở nông thôn. Người có trí
tuệ, có vốn thì làm chủ hoặc thợ cả, người không có vốn, trình độ thì làm những công
việc giản đơn, phục vụ hoặc dịch vụ. Cho nên phát triển LNTT là thực hiện chủ trương
xoá đói giảm nghèo trong nông thôn.
- Tận dụng nguồn lực, phát huy thế mạnh nội lực của địa phương
Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng của sự phát triển. Nguồn
lực của LNTT bao gồm những nghệ nhân, những người thợ thủ công và những chủ cơ sở
sản xuất kinh doanh. Khả năng cạnh tranh, sức sống của không ít sản phẩm LNTT như: tơ
lụa, dệt thổ cẩm, rèn, sản xuất gạch ngói, mộc dân dụng, đóng xuồng ghe chủ yếu dựa vào

để tổ chức du lịch làng nghề thu lợi nhuận cao, có khả năng thu hút đông đảo du khách tìm
hiểu, chiêm ngưỡng những nét văn hoá, những sản phẩm truyền thống của dân tộc.
1.1.4. Sự cần thiết phải phát triển làng nghề truyền thống trong nền kinh tế thị
trường
Trong giai đoạn nền kinh tế kế hoạch, tập trung bao cấp do cơ chế quản lý, các hộ
gia đình, các làng nghề không được tự do kinh doanh, sản xuất mà phải gia nhập các HTX
tiểu thủ công nghiệp. Vì thế, LNTT không được phát triển và có phần mai một, hệ thống
HTX tiểu thủ công nghiệp hoạt động kém hiệu quả và bắt đầu tan rã dần vào thời kỳ bắt
đầu đổi mới nền kinh tế.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường, cá nhân, hộ gia đình được tự do đầu tư và sản
xuất kinh doanh những sản phẩm mà pháp luật không cấm; được bình đẳng trước pháp
luật. Nhiều LNTT được khôi phục và phát triển mạnh mẽ, trở thành một xu hướng phát
triển tất yếu là do:
- Thứ nhất, môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi, cơ chế quản lý của Nhà nước
thay đổi đã cho phép mọi cá nhân, hộ gia đình tự do đầu tư sản xuất kinh doanh, các thành
phần kinh tế được bình đẳng trước pháp luật; Do đó, các DNTN, Công ty TNHH, CTCP
được ra đời và phát triển. Hệ thống pháp luật được xây dựng và hoàn thiện đã cởi trói cho
cá nhân và doanh nghiệp, mở đường cho sản xuất phát triển dẫn đến LNTT ở nông thôn
cũng được phát triển. Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng như đường giao thông, cầu cống, điện
nước, bưu chính viễn thông, trường học, trạm y tế … tạo điều kiện thuận lợi trong giao lưu
trao đổi hàng hoá, mở rộng các loại thị trường hàng hoá, lao động, tài chính …
- Thứ hai, phát triển LNTT gắn với lợi ích, đời sống thiết thực của nông dân. Xuất
phát từ lợi ích cá nhân, hộ gia đình vì mục tiêu lợi nhuận mà bản thân LNTT tự nó phát
triển. Mặt khác, trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, Đảng và Nhà nước đã
quan tâm nhiều đến sự phát triển nông nghiệp, nông thôn trong đó có LNTT nhằm mục
tiêu nhanh chóng nâng cao đời sống của nông dân, giảm nhanh khoảng cách giàu nghèo
giữa nông thôn và thành thị. Những chủ trương, đường lối, chính sách đó là động lực thúc
đẩy mạnh mẽ sự phát triển, đa dạng hoá sản xuất kinh doanh, đa dạng hoá sản phẩm của

có “hàm lượng” văn hoá đậm đặc, chính những sản phẩm đó đã vượt qua giá trị văn hoá
đơn thuần trở thành những sản phẩm văn hoá mang truyền thống dân tộc. 1.2. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ
TRUYỀN THỐNG
1.2.1. Tác động của quản lý nhà nước tới phát triển làng nghề, làng nghề
truyền thống
- Định hướng và khuyến khích phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống.
Trong quá trình CNH, HĐH nông thôn làng nghề luôn giữ một vị trí quan trọng,
luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đề cập nhiều qua các kỳ đại hội. Nghị quyết Đại
hội VIII của ĐCSVN đã xác định: “Phát triển các ngành nghề, LNTT và các ngành nghề
mới bao gồm tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu …” [4, tr.45].
Đại hội IX của ĐCSVN tiếp tục nhấn mạnh: “Phát triển mạnh công nghiệp và dịch
vụ nông thôn, hình thành các khu vực tập trung công nghiệp, các điểm công nghiệp ở nông
thôn, các làng nghề gắn với thị trường xuất khẩu …” [5, tr.172].
Để cụ thể hoá quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và luật
pháp có liên quan đến phát triển làng nghề, LNTT như Luật Đất đai, Luật Thuế sử dụng đất
nông nghiệp, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư … các chính sách tín dụng, chính sách đầu tư,
đặc biệt là quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24 tháng 11 năm 2000 của Thủ tướng Chính
phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn đã tạo động lực cho
LNTT phát triển. Qua đó, cho thấy Đảng, Nhà nước đánh giá cao vai trò của làng nghề và coi
trọng việc phát triển LNTT ở nông thôn. Nội dung cụ thể sau:
+ Nhà nước cho phép chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp, lâm nghiệp để
phát triển ngành nghề nông thôn.
+ Lập quy hoạch, kế hoạch phát triển các vùng nguyên liệu nông, lâm, thuỷ sản để
đảm bảo nguồn nguyên liệu tại chỗ, ổn định cho ngành nghề nông thôn phát triển.
+ Cơ sở ngành nghề nông thôn được vay vốn của các tổ chức tín dụng dưới hình
thức bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị, xã hội theo quy định tại Điều
26 của Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 1999 về bảo đảm tiền vay

chức triển lãm, hội chợ và giới thiệu sản phẩm.
+ Tổ chức các hoạt động trao đổi kinh nghiệm, tham quan, khảo sát; hỗ trợ tạo điều
kiện để các cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn liên doanh, liên kết hợp tác kinh tế, tham
gia các hiệp hội ngành nghề. + Xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ và thực hiện dịch
vụ tư vấn KHCN để hỗ trợ tổ chức, cá nhân đầu tư sản xuất công nghiệp nông thôn.
Thông tư số 03 của Bộ Công nghiệp ngày 23 tháng 6 năm 2005 về “Hướng dẫn
thực hiện một số nội dung của Nghị định 134/NĐ-CP của Chính phủ về khuyến khích phát
triển công nghiệp nông thôn”. Nội dung tóm tắt của hoạt động Khuyến công được thực
hiện dưới các hình thức sau:
+ Tổ chức các lớp, khoá đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn, truyền nghề.
+ Tổ chức các điểm tư vấn hoặc tiến hành tư vấn trực tiếp tại cơ sở sản xuất công
nghiệp nông thôn.
+ Trực tiếp hỗ trợ cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn lập dự án khởi sự doanh
nghiệp, đầu tư mở rộng sản xuất sản phẩm mới, đổi mới và ứng dụng tiến bộ KHCN, nâng
cao năng lực sản xuất, quản lý chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường.
+ Hỗ trợ việc chuyển giao công nghệ có kèm theo đào tạo cho cơ sở sản xuất công
nghiệp nông thôn.
+ Xây dựng mô hình trình diễn và tổ chức trình diễn kỹ thuật để phổ biến công nghệ
mới, sản xuất sản phẩm mới và nhân rộng các mô hình tốt đã có.
+ Tổ chức, hỗ trợ cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn tham gia hội chợ, triển lãm,
tham quan, khảo sát, học tập trao đổi kinh nghiệm, liên doanh liên kết, hợp tác kinh tế và
tham gia các hiệp hội ngành nghề.
+ Hỗ trợ cung cấp thông tin, tìm kiếm thị trường, tìm kiếm đối tác kinh doanh.
+ Các hình thức Khuyến công khác phù hợp với các hoạt động quy định tại Điều 3
Nghị định 134/2004/NĐ-CP.
Nghị định số 66 của Chính phủ ngày 07 tháng 7 năm 2006 về “Phát triển ngành
nghề nông thôn”, bao gồm những nội dung sau:

cho cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm của LNTT. Yếu tố này có tác động mạnh mẽ
tới yếu tố tâm lý sản xuất nhỏ của người sản xuất, tới việc phát triển LNTT.
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển làng nghề, LNTT
Quy hoạch, kế hoạch xây dựng các khu, cụm công nghiệp có cơ sở khoa học trong
tổng thể nhằm đạt mục tiêu phát triển bền vững, lâu dài. Trên cơ sở quy hoạch đó mà có kế
hoạch thực hiện từng giai đoạn, từng thời kỳ nhằm đảm bảo những chuẩn mực đã đặt ra. Có quy hoạch, LNTT mới đủ điều kiện để phát triển, có điều kiện mở rộng quy mô, áp
dụng được công nghệ hiện đại vào sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh; các chính sách
hỗ trợ vay vốn ưu đãi hoặc đền bù đất đai của Nhà nước phù hợp với thực tế và lợi ích của
nhân dân thì việc xây dựng và phát triển LNTT được thực hiện nhanh chóng. Mặt khác, có
quy hoạch Nhà nước mới kiểm tra, kiểm soát được sự phát triển cũng như khắc phục được
tình trạng sản xuất nhỏ, tự phát của các LNTT, từ đó có chính sách điều chỉnh phù hợp.
- Tổ chức gắn kết các ngành du lịch, văn hoá với các làng nghề truyền thống
Là một trong những xu hướng được quan tâm trong quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế. Tiềm năng du lịch ở các LNTT hiện nay là rất lớn; Mỗi LNTT gắn với một vùng văn
hoá, hệ thống di tích và truyền thống riêng, với cung cách sáng tạo sản phẩm riêng. Việc
du khảo các LNTT là để thấy rõ bản sắc cũng như đặc trưng kinh tế, văn hoá của mỗi
vùng. Vì vậy, một số LNTT đã phát triển hình thức này, coi đây là một trong những cách
thức nhằm giới thiệu, quảng cáo làng nghề và sản phẩm truyền thống, qua đó tạo lập thị
trường tiêu thụ sản phẩm. Dệt thổ cẩm Châu Phong, tơ lụa Tân Châu, đan đát, mộc chạm
trổ mỹ nghệ, mộc dân dụng, đóng xuồng ghe, sản xuất gạch ngói, rập chuột, lưỡi câu, khô
cá sặc bổi … đã thực sự thu hút khách tham quan, du lịch, tìm hiểu sản phẩm truyền thống,
quy trình và phương pháp sản xuất, tìm hiểu thị trường và ký kết hợp đồng kinh tế. Có thể
nói rằng, phát triển tiềm năng du lịch ở các LNTT là một xu hướng rất cần được quan tâm.
- Tạo điều kiện về đầu vào, đầu ra cho sản phẩm
Đây là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất của các LNTT.
Trong những giai đoạn trước đây, nguồn nguyên vật liệu được coi là một trong những điều
kiện tạo nên sự hình thành và phát triển của các LNTT bởi việc hỗ trợ tích cực của các

tự phát tuỳ theo khả năng sản xuất, lao động và tiền vốn của từng hộ gia đình. Từ việc mua
máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng, cung ứng nguyên vật liệu đến việc tổ chức tiêu thụ
cũng đều do người nông dân tự phát xây dựng, không theo quy hoạch, không tính đến tác
hại của những người xung quanh, chỉ miễn sao có lợi cho gia đình của họ. Như vậy, tính
cộng đồng trong các LNTT thường không có, nếu có là tính gia đình, dòng họ. Khi xây dựng
cụm công nghiệp LNTT theo hướng phát triển bền vững tức là có quy hoạch, có kế hoạch
của chính quyền, của pháp luật; người nông dân phải rời bỏ, tháo dỡ cơ sở vật chất cũ của
mình để xây dựng mới theo quy hoạch của Nhà nước. Điều đó gặp trở ngại lớn ở chỗ người dân phải bỏ cũ, xây mới sẽ không có đủ vốn để làm. Mặt khác, trước đây gia đình tận dụng
đất đai, lao động của mình và không phải đóng thuế Nhà nước, nay phải thuê đất, thuê lao
động và phải đóng thuế sản xuất kinh doanh. Đây là một một yếu tố tác động cản trở việc
xây dựng và phát triển LNTT theo hướng phát triển bền vững.
- Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững
Phát triển LNTT gắn với mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, ổn định lâu dài. Trong
nền kinh tế thị trường, bản thân LNTT tự nó phát triển nhờ cơ chế chính sách của Nhà
nước và tác động của cơ chế thị trường. Mặt khác, vì mục tiêu lợi ích của mình, các cá
nhân, hộ gia đình đã đầu tư vốn, máy móc, thiết bị, lao động … để mở rộng quy mô sản
xuất, hạ giá thành sản phẩm, đa dạng hoá mẫu mã, đa dạng hoá loại hình sản xuất nhằm
tạo ra nhiều sản phẩm, giành thắng lợi trong cạnh tranh. Trong giai đoạn thực hiện CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn tạo cho LNTT có những điều kiện phát triển mạnh như cơ sở
hạ tầng, KHCN, thị trường cung ứng vật tư và thị trường tiêu thụ sản phẩm được mở rộng.
Đặc biệt, hiện nay Việt Nam trở thành thành viên Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) đã
tạo điều kiện hơn nữa cho sự phát triển của LNTT, nhất là điều kiện mở rộng thị trường
tiêu thụ sản phẩm và ứng dụng công nghệ vào sản xuất. Trong điều kiện đó LNTT phải có
năng lực cạnh tranh mới có thể phát triển được nhưng cạnh tranh phải gắn với vấn đề môi
trường và xã hội. Sở dĩ như vậy, vì quá trình tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá đang
có xu hướng xoá dần đi các hàng rào thuế quan và phi thuế quan thông thường và thay vào
đó là hàng rào quy định về môi trường và sức khoẻ. Các ngân hàng nước ngoài sẽ đầu tư

tạo ra lượng phát thải rất lớn, nhưng thiếu các biện pháp thích hợp để xử lý chất thải là
nguyên nhân trực tiếp gây ra ô nhiễm môi trường sống. Sự phát triển của LNTT dẫn tới sự
đô thị hoá, thay đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, nhu cầu tiêu dùng của đời sống dân cư ở
nông thôn ngày càng gia tăng, song cùng vấn đề này là ý thức, nếp sống của người dân
trong LNTT bị thay đổi theo nền kinh tế thị trường, dẫn đến phát thải, gây ô nhiễm môi
trường sống ngày càng gia tăng. Vì vậy, để phát triển bền vững LNTT cần phải gắn với
việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên tiết kiệm có hiệu quả, phải gắn với việc xử lý chất thải
và quản lý môi trường chặt chẽ. Muốn vậy, đòi hỏi các cấp, các ngành, các địa phương
phải có quy hoạch, khai thác tài nguyên, phải quy hoạch xây dựng LNTT thành những cụm
công nghiệp LNTT, gắn với việc sử dụng máy móc hiện đại, xử lý chất thải hợp lý nhằm

Trích đoạn THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hộ Đặc điểm hình thành và phát triển các làng nghề truyền thống của tỉnh An Giang Vốn và nguồn vốn trong các làng nghề truyền thống Sản phẩm và tình hình tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status