LUẬN VĂN:
PHÂN TÍCH THốNG KÊ KếT QUả SảN XUấT
KINH DOANH CủA CÔNG TY DịCH Vụ HÀNG
KHÔNG SÂN BAY NộI BÀI (NASCO) GIAI ĐOạN
2000 - 2004 VÀ Dự ĐOÁN CHO NĂM 2005
Chương III: Phân tích thống kê kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty NASCO
thời kỳ 2000-2004.
CHƯƠNG I: NHữNG VấN Đề CHUNG Về HOạT Động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp nói chung và của Công ty NASCO nói riêng.
I. Những VấN Đề CHUNG Về HOạT Động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1. Khái niệm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một quá trình vận động biến
đổi giữa đầu vào ( các chi phí ) và kết quả đầu ra ( các sản phẩm vật chất và dịch vụ )
nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội, đồng thời đạt mục tiêu lợi nhuận.
Trên cơ sở khái niệm đó hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có những
đặc điểm sau:
- Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tạo ra sản phẩm (vật chất và
dịch vụ).
Kết quả tạo ra không phải để phục vụ cho chính tiêu dùng của doanh nghiệp mà là để bán
trên thị trường phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội thu lại lợi nhuận từ hoạt động đó.
- Doanh nghiệp phải hạch toán được đầy đủ chi phí bỏ ra và kết quả thu được đồng
thời đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Mục đích cuối cùng của các doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận. Do đó, khi tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp phải tính toán chi tiết các khoản chi
phí phát sinh trong quá trình sản xuất, bao gồm cả chi phí vật chất lẫn chi phí dịch vụ.
Đồng thời xác định đúng kết quả giá trị sản phẩm tạo ra làm cơ sở để hạch toán lãi, lỗ và
đánh giá hiệu quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh.
- Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tạo ra sản phẩm vật chất và dịch
vụ cho xã hội, và có thể đo lường bằng các thước đo khác nhau.
- Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của Doanh nghiệp phải hướng đến người
tiêu dùng, nói cách khác, để hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp phải
luôn luôn nắm được các thông tin về sản phẩm trên thị trường, trong đó có các thông tin
về số lượng, chất lượng, giá cả sản phẩm, về xu hướng biến đổi tiêu dùng sản phẩm của thị
hạn lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp và người tiêu dùng chấp nhận được. Lợi ích của doanh
nghiệp thể hiện ở chi phí sản xuất sản phẩm không vượt quá giá kinh doanh của doanh
nghiệp trên thị trường. Lợi ích của người tiêu dùng thể hiện ở khả năng thanh toán khi mua
hàng và mức chi phí trong quá trình sử dụng sản phẩm.
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mang lợi ích kinh tế chung cho tiêu
dùng xã hội.
2.2. Đơn vị đo lường kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm vật chất.
Để đo lường kết quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có thể dùng đơn vị
hiện vật, hiện vật quy ước, hiện vật kép và đơn vị giá trị. Đơn vị hiện vật, hiện vật, hiện vật
kép đều bao hàm một lượng giá trị sử dụng của một sản phẩm. Lượng giá trị sử dụng này
được đo bằng một đơn vị hiện vật thông thường như: mét, kg, lít, chiếc, cái… và đơn vị
hiện vật kép như: km/h, tấn/h. Để tính kết quả sản xuất theo đơn vị giá trị, phải dựa trên cơ
sở giá cả của sản phẩm tính theo đồng tiền của một quốc gia cụ thể.
- Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm dịch vụ.
Kết quả sản xuất kinh doanh cũng được biểu hiện bằng hai loại đơn vị đo lường là
hiện vật và giá trị.
Kết quả kinh doanh dịch vụ đo lường bằng đơn vị hiện vật được tính theo số lần, số
ca, số vụ, số người được phục vụ.
Kết quả sản xuất kinh doanh sản phẩm dịch vụ đo lường bằng giá trị (tiền), vì không
có giá nhất định nên khi tính bằng tiền phải tính theo giá mà bên thuê sẽ nhận phục vụ đã
thoả thuận theo mỗi ca, mỗi vụ cụ thể.
2.3. Nguyên tắc tính kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp .
- Phải là kết quả của lao động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp làm ra trong
kỳ. Do vậy, các doanh nghiệp không tính vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp những kết quả thuê ngoài làm, những kết quả này do người làm thuê tính . Ngược
lại các doanh nghiệp được tính vào kết quả của mình các hoạt động làm thuê cho bên
ngoài.
Chỉ tính những kết quả đã hoàn thành trong kỳ báo cáo, chênh lệch sản phẩm chưa
Kinh doanh hàng Bách hoá, hàng lưu niệm, kinh doanh ăn nhanh-giải khát, kinh
doanh nhà hàng ăn uống á-âu.
Đối tượng sử dụng dịch vụ là hành khách đi và đến Sân bay quốc tế Nội bài, khách đón
tiễn, khách tham quan và cán bộ, công nhân viên làm việc tại cảng Hàng không quốc tế
Nội bài. Tại các địa điểm có khách, tại khu vực cảng Hàng không quốc tế Nội Bài đều có
hoạt động của lĩnh vực kinh doanh thương mại bao gồm:
- Ngoài khu vực sân đỗ ôtô: Tổ chức kinh doanh nhà hàng ăn uống giải khát, đối
tượng khách hàng của khu vực này là lái xe, khách đón tiễn nhân thân, đi và đến cảng
Hàng không quốc tế Nội Bài khi có thời gian chờ dài.
- Khu ga đến (quốc tế và nội địa) hoạt động kinh doanh thương mại diễn ra trong
khu cách ly, nơi mà khách đi máy bay đã làm xong thủ tục vào chờ lên tàu, ở khu vực này,
hành khách thường có thời gian chờ đợi lâu, có đủ thời gian để mua sắm. Công ty tổ chức
kinh doanh hàng Bách hoá tại khu cách ly nội địa, kinh doanh hàng souvenir tại khu cách
ly quốc tế, kinh doanh ăn nhanh giải khát tại khu nội địa và quốc tế.
Khu vực khác trong nhà Ga: Tổ chức kinh doanh nhà hàng tại tầng 4, khách hàng của
nhà hàng này rất đa dạng bao gồm hành khách đi và đến sân bay nội bài những người đi
đón, tiễn thân nhân, cán bộ nhân viên làm việc tại cảng Hàng không quốc tế Nội bài.
Kinh doanh dịch vụ khách sạn- du lịch: Đối tượng khách hàng chủ yếu là lượng
khách chậm nhỡ chuyến, phục vụ tiếp viên Hàng không của Việt Nam Airline theo hợp
đồng, khách vãng lai và cán bộ nhân viên trong khu vực Cảng Hàng không quốc tế Nội
bài.
Kinh doanh dịch vụ vận tải ôtô: Vận chuyển khách đi và đến sân bay quốc tế Nội
bài:
- Trong sân đỗ máy bay: Vận chuyển tổ lái, tiếp viên, khách F&C, khách hạng phổ
thông đối với những chuyến bay không sử dụng cầu ống lồng của nhà ga T1.
- Ngoài sân đỗ máy bay: Vận chuyển hành khách bằng Taxi, minibus, nội tỉnh và liên
tỉnh bằng hình thức bán vé định tuyến, hợp đồng.
Kinh doanh dịch vụ tổng hợp: Lĩnh vực kinh doanh chính là cung ứng các dịch vụ
công cộng tại Cảng hàng không quốc tế Nội bài và phục vụ hành khách hạng thương gia
lượng hành khách đi và đến Cảng hàng không Nội bài ngày càng đông hơn, sẽ mở ra triển
vọng lớn cho việc phát triển sản xuất kinh doanh của Công ty.
Chính sách mở cửa của nền kinh tế trong những năm qua đã thu được những thắng
lợi nhất định, điều đó đã khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong
việc lựa chọn chính sách kinh tế này. Chúng ta đã có quan hệ ngoại giao ngày càng nhiều
với các nước trên thế giới, các tổ chức quốc tế, các ngân hàng, các tổ chức tín dụng quốc
tế, điều này đã giúp chúng ta có những thuận lợi nhất định để ổn định và phát triển nền
kinh tế. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của đất nước ta trong những năm qua đạt ở mức độ cao
so với khu vực cũng như trên thế giới, cùng với chính sách kinh tế phù hợp chúng ta có
ngày càng nhiều các nhà đầu tư vào đất nước ta thực hiện đầu tư kinh doanh.
Cùng với sự phát triển chung của đất nước thì ngành Hàng không Dân dụng Việt nam
có những cơ hội lớn cho thị trường khai thác nhu cầu đi lại của các nước trong khu vực
cũng như trên toàn thế giới. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc phát triển kinh
doanh của Công ty trong thời gian tới.
Nhiệm vụ của Công ty chủ yếu là dịch vụ nên hầu như các loại hàng hoá đều phải
nhập trên thị trường trong và ngoài nước chủ yếu là: rượu, bia, thuốc lá, thực phẩm, hàng
mỹ nghệ cao cấp, vàng bạc, đá quí, đồ điện tử và các loại hàng hoá tiêu dùng khác.
Ngoài ra các mặt hàng của Công ty khai thác là do các nhà cung cấp trong nước có uy
tín mà Công ty đã có hợp đồng mua bán thường xuyên như:
Sản phẩm mỹ nghệ sứ Hải Dương, gốm Đồng nai, Sơn mài Thành Lễ.
Sản phẩm bia, nước giải khát gồm có Công ty nước giải khát Quốc tế IBC, Tiger,
BGI, Lavi, Vinamilk, Heniken.
Sản phẩm thuốc lá: 555, Marlboro, Dunhill, Vinataba.
Sản phẩm rượu: Henessy, Chivasregl, Napoleon, Johnie Walker.
Sản phẩm điện gia dụng: Sony, Kenwood, Panasonic, Sanyo, Toshiba.
Các nhà cung cấp trong và ngoài nước do có uy tín sản phẩm có chất lượng cao, giá cả
ổn định nên có uy thế độc quyền trong kinh doanh tại cảng hàng không. Điều đó đã góp
phần thuận lợi vào thế cạnh tranh cho Công ty NASCO, nhưng qua đó chúng ta cũng thấy
rằng trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay có rất nhiều các doanh nghiệp tư nhân và
thủ cạnh tranh như: Các siêu thị và cửa hàng chuyên doanh thương mại, các khách sạn và
các loại ô tô ở thủ đô Hà nội, Công ty nằm cách trung tâm thủ đô khoảng 20Km nên cước
phí vận chuyển cho mọi mặt hàng dịch vụ cung cầu của Công ty đều có chi phí vận chuyển
cao, thực hiện dự trữ bảo quản tốn kém hơn so với một số doanh nghiệp ở nội thành. Một
số mặt hàng kinh doanh của khối cửa hàng miễn thuế có chất lượng cao song lại phải nhập
theo giá liên doanh nên về mặt giá cả có cao hơn so với giá thị trường tự do bên ngoài.
Các tổ chức trong nước cũng như nước ngoài đã mở ra một loạt các dịch vụ kinh
doanh với các loại hình dịch vụ giống như của Công ty. Vì vậy Công ty đã vấp phải sự
cạnh tranh quyết liệt của các đối thủ với khả năng tài chính cũng như thế lực hùng mạnh
của họ trên thị trường .
Với nghiệp vụ kinh doanh vận tải hành khách Công ty cũng đã đứng trước những khó
khăn nhất định do có nhiều chủ xe tư nhân không chịu sự quản lý của Nhà nước về giá
cũng như thuế, vì thế cho nên họ có khả năng chiếm lĩnh thị trường vận tải hành khách.
Đây là sự biểu hiện của sự cạnh tranh không lành mạnh.
1.2. Sản phẩm của Công ty.
* Sản phẩm của Công ty là sản phẩm dịch vụ thương mại Hàng không có những nét
đặc thù riêng và nó được tiêu thụ đều tại khu vực sân bay Nội bài, địa bàn thủ đô và các
tỉnh phía bắc Việt nam, đó là:
Dịch vụ ô tô đưa đón khách, tổ bay, hàng hoá tại khu vực sân bay, đưa đón khách đi, về
từ sân bay đến Hà nội và ngược lại, hoặc các tỉnh khác bằng nhiều loại ô tô theo ý của
khách hàng.
Dịch vụ khách sạn cho thuê phòng cùng các dịch vụ khác cho hành khách đi máy bay
lưu chờ tại sân bay.
Dịch vụ thương mại Hàng không với các cửa hàng bách hoá, cửa hàng ăn uống, cửa
hàng bán quà lưu niệm phục vụ khách đi máy bay trong và ngoài nước.
Các dịch vụ tổng hợp mặt đất như: bến bãi xe đẩy, tư vấn dịch vụ làm thủ tục đi lại, gửi
và giữ hàng cho khách, các ki ốt nhỏ ăn uống, dịch vụ vệ sinh, vẫy tiễn khách đi máy bay.
Các mặt hàng chất lượng cao của khối cửa hàng miễn thuế nhằm phục vụ cho khách
được phép xuất nhập cảnh tại cửa khẩu sân bay Nội bài.
như: đài, báo, TV, phải thật sự lôi cuốn và hấp dẫn người tiêu dùng, điều này Công ty đã
thực hiện tốt trong các chương trình quảng cáo vận chuyển hành khách, bán hàng miễn
thuế, bán vé máy bay được khách hàng chấp nhận.
1.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty:
Công ty dịch vụ hàng không sân bay quốc tế nội bài (NASCO) nằm trên địa bàn sân
bay quốc tế Nội bài thuộc huyện Sóc sơn ngoại thành Hà nội. Trụ sở Công ty và các đơn vị
thành viên đều nằm trong khu vực sân bay quốc tế Nội bài- Hà nội. Trụ sở Công ty là một
toà nhà 3 tầng nằm về phía bắc nhà ga Hàng không Nội bài thuộc đoạn cuối của đường cao
tốc Bắc Thăng Long- Nội bài với diện tích hơn 3ha, các đơn vị thành viên của Công ty
nằm rải rác trong toàn bộ khu vực nhà ga hàng không Nội bài, cơ sở vật chất của Công ty
thì đa dạng và phong phú gồm:
- Các khách sạn.
- Các cửa hàng miễn thuế.
- Các nhà hàng ăn uống, ki ốt giải khát.
- Các bến bãi đỗ xe, mặt bằng quảng cáo.
- Các xưởng sửa chữa ô tô và trạm bán xăng dầu.
- Có 200 đầu xe ô tô các loại. (chủ yếu là xe taxi).
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty NASCO.
Có thể chia thành các nhóm yếu tố sau:
2.1. Nhóm yếu tố bên ngoài.
2.1.1. Nhu cầu thị trường.
Là xuất phát điểm của quá trình quản lý chất lượng dịch vụ và hoàn thiện chất lượng
dịch vụ. Cơ cấu, tính chất đặc điểm và xu hướng vận động của nhu cầu tác động trực tiếp
đến chất lượng dịch vụ. Do đó đòi hỏi phải tiến hành nghiêm túc, thận trọng công tác điều
tra nghiên cứu thị trường, phân tích môi trường kinh tế- xã hội, xác định chính xác nhận
thức của khách hàng, thói quen, phong tục tập quán, truyền thống văn hoá, lối sống, mục
đích tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ, khả năng thanh toán. Khi xác định chất lượng dịch vụ của
mình thì doanh nghiệp cần phải xác định những phân đoạn thị trường phù hợp để có những
biện pháp cụ thể những chỉ tiêu chất lượng đặt ra. Có như vậy thì mới mang lại được hiệu
dụng lao động một cách khoa học, phải căn cứ nhiệm vụ, công việc mà sử dụng con người,
phải có kế hoạch tuyển dụng, đào tạo lại lực lượng lao động hiện có để đáp ứng nhiệm vụ
kinh doanh của doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu thị trường.
2.2.2. Trình độ quản lý doanh nghiệp.
Trình độ quản lý nói chung và trình độ quản lý chất lượng dịch vụ nói riêng là một
trong những nhân tố cơ bản thúc đẩy nhanh tốc độ cải tiến chất lượng dịch vụ, ngày càng
hoàn thiện chất lượng dịch vụ. Các chuyên gia hàng đầu về quản trị chất lượng cho rằng
thực tế 80% những vấn đề về chất lượng là do quản lý gây ra. Chất lượng dịch vụ phụ
thuộc rất lớn vào cơ cấu bộ máy quản lý, khả năng xác định chính xác mục tiêu, chính sách
chất lượng và chỉ đạo tổ chức thực hiện chương trình kế hoạch chất lượng dịch vụ.
2.2.3. Chế độ tiền lương tiền thưởng.
Hiện nay ở Việt Nam chưa khuyến khích được người lao động phát huy cao trí tuệ,
tài năng và công việc được giao, chưa khuyến khích việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào dịch vụ, do đó người lao động ít quan tâm đến việc nâng cao trình độ chuyên
môn, trình độ văn hoá nghiệp vụ. Tiền lương thấp chưa công bằng làm cho người lao động
gặp nhiều khó khăn từ đó mà giảm chất lượng phục vụ của họ dẫn đến chất lượng dịch vụ
cũng giảm xuống.
Tiền lương đóng một vai trò lớn trong việc đảm bảo chất lượng nói chung và chất
lượng dịch vụ nói riêng của doanh nghiệp nó kích thích người lao động phát huy lao động
sáng tạo, nhiệt tình trong công việc, đây là một nhân tố hết sức quan trọng trong vấn đề
phục vụ khách. Vì vậy các doanh nghiệp cần áp dụng các quy chế thưởng phạt về chất
lượng dịch vụ một cách nghiêm minh nhằm thúc đẩy người lao động nâng cao ý thức trách
nhiệm, tích cực học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn tay nghề.
2.2.4. Khả năng công nghệ và máy móc thiết bị của doanh nghiệp.
ảnh hưởng đến mỗi hoạt động dịch vụ. Chất lượng dịch vụ cũng chịu ảnh hưởng vào
trình độ hiện đại, cơ cấu, tình hình bảo dưỡng duy trì khả năng làm việc theo thời gian của
máy móc thiết bị.
Nói tóm lại khi xem xét đánh giá chất lượng dịch vụ ta đánh giá một cách toàn diện
Chương II
Xác định hệ thống chỉ tiêu và các phương pháp phân tích thống kê kết quả sản xuất
kinh doanh ở Công ty NASCO.
I. Xác định hệ thống chỉ tiêu thống kê
1. Khái niệm và vai trò hệ thống chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh
1.1 Khái niệm hệ thống chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh
Hệ thống chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh là tập hợp các chỉ tiêu thống kê kết quả
sản xuất kinh doanh có liên hệ mật thiết với nhau, phản ánh được nhiều mặt của hiện tượng
nghiên cứu trong thời gian và đia điểm cụ thể.
1.2 Vai trò hệ thống chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh
Việc xây dựng và tính toán các chỉ tiêu trong hệ thống chỉ tiêu đánh gía kết quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp có tác dụng vô cùng quan trọng đối với công tác quản lý
của doanh nghiệp, các bộ, các ngành và của Đảng, Nhà nước. Cụ thể:
Giúp cho lãnh đạo các doanh nghiệp có căn cứ khoa học để tổ chức và quản lý có
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Là căn cứ để đánh giá, phân tích tình hình sử dụng các yếu tố của quá trình tái sản
xuất của doanh nghiệp (lao động, vốn, vật tư, tài sản); đánh giá, phân tích tình hình sản
xuất, tiêu thụ sản phẩm và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp( thông qua các chỉ
tiêu giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm, lợi nhuận).
Là căn cứ để lập kế hoạch phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp cả về quy mô và cơ cấu, giúp cho nhà quản lý có những thông tin cần thiết làm căn
cứ khoa học để xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và phát
triển hoạt động sản xuất kinh doanh theo hình thức đã chọn lựa.
Thông qua việc tính toán và phân tích các chỉ tiêu trong hệ thống chỉ ra được những
biến động và xu thế phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp làm cơ sở
cho việc lựa chọn các giải pháp nhằm củng cố và phát triển sản xuất kinh doanh của doanh
Đảm bảo hiện đại hoá nhu cầu thông tin trong việc quản lý và xử lý thông tin phản
ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
3.Nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê.
3.1 Đảm bảo tính hiệu quả- hướng đích.
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phải đáp ứng yêu cầu đúng với đối tượng cần cung cấp
thông tin nhằm đảm bảo tác dụng thiết thực trong công tác quản lý. Mỗi chỉ tiêu phải có
tác dụng nhất định và có nhiệm vụ trong viêc biểu hiện rõ nhất mặt lượng cũng như mặt
chất của kết quả sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ. Bởi vậy khi xây dựng hệ
thống chỉ tiêu phải trên cơ sở phân tích lý luận để hiểu bản chất chung của kết quả sản xuất
kinh doanh trong doanh nghiệp dịch vụ và các mối liên hệ của nó.
3.2 Đảm bảo tính hệ thống
Các chỉ tiêu trong hệ thống phải có mối liên hệ hữu cơ với nhau, được phân tổ và
sắp xếp một cách khoa học. điều này liên quan đến việc chuẩn hoá thông tin.
Phải bao gồm các chỉ tiêu chủ yếu và thứ yếu: các chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu bộ
phận phản ánh từng mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và từng nhân tố.
Nội dung ( khái niệm) tính toán phải thống nhất từ chi tiết đến tổng hợp.
Phạm vi tính toán phải được quy định rõ ràng bao gồm cả phạm vi không gian và
thời gian. Đơn vị tính toán phải thống nhất.
3.3 Đảm bảo tính khả thi
Hệ thống chỉ tiêu cần gọn, ít chỉ tiêu và từng chỉ tiêu cần có nội dung rõ ràng, dễ thu
thập thông tin, đảm bảo tính khả thi, phù hợp với điều kiện về nhân tài, vật lực của doanh
nghiệp.
Ngoài ra, hệ thống chỉ tiêu thống kê phải có tính ổn định cao, đồng thời phải có tính
linh hoạt và thường xuyên được hoàn thiện theo sự phát triển của yêu cầu quản lý hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Phải quy định các hình
thức thu thập thông tin phù hợp với yêu cầu quản lý, phù hợp với điều kiện và trình độ cán
bộ làm công tác thống kê ở các doanh nghiệp để có thể tính toán được các chỉ tiêu trong
hệ thống với độ chính xác cao phục vụ tốt cho yêu cầu công tác quản lý của doanh nghiệp.
4. Hệ thống chỉ tiêu thống kê kết quả sản xuất kinh doanh
là giá bán thuần
hay doanh thu thuần tính trên một đơn vị sản phẩm thì:
P
t
= P- t
DT = P
t
*q'
= (P - t)* q'
- Tác dụng: doanh thu thuần là chỉ tiêu dùng để tính chỉ tiêu lãi lỗ trong kinh doanh
của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo.
4.2 Lợi nhuận
- Khái niệm:
Lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh phần giá trị thặng dư, hoặc hiệu quả kinh tế mà
doanh nghiệp thu được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chỉ tiêu được mô tả theo công thức chung:
Lợi nhuận kinh doanh = Doanh thu kinh doanh- Chi phí kinh doanh
- Nội dung kinh tế:
Lợi nhuận bao gồm ba bộ phận hợp thành
+ Lợi nhuận thu từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (thu từ kết quả sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm).
+ Lợi nhuận thu từ hoạt động tài chính: Lãi từ gửi tiết kiệm ngân hàng, mua tín
phiếu, từ góp vốn liên doanh, mua cổ phần.
+ Lợi nhuận thu từ hoạt động bất thường: Tích luỹ tài sản cố định hết thời hạn, quà
tặng…
Trong 3 bộ phận trên thì lợi nhuận thu từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp
Để làm rõ phần lợi nhuận thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh ta cần làm rõ ba chỉ
tiêu sau:
nghiệp lập ra các quỹ (như:quỹ phát triển sản xuất, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi…)
5. Một số chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
5.1 Khái niệm về chỉ tiêu hiệu quả.
a. Khái niệm
Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là chỉ tiêu tương đối
biểu hiện quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất kinh doanh với chi phí sản xuất kinh
doanh (chỉ tiêu hiệu quả thuận) hoặc ngược lại (chỉ tiêu hiệu quả nghịch) đã chi ra để thu
được kết quả đó.
b. Công thức tính các chỉ tiêu hiệu quả:
- Công thức tính các chỉ tiêu hiệu quả thuận:
CP
KQ
H
Chỉ tiêu cho biết cứ một đơn vị chỉ tiêu chi phí bỏ tham gia vào hoạt động sản xuất
kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đơn vị chỉ tiêu kết quả.
- Công thức tính các chỉ tiêu hiệu quả nghịch:
KQ
CP
H
Chỉ tiêu cho biết muốn tạo ra được một đơn vị chỉ tiêu kết quả cần phải mất bao
nhiêu đơn vị chỉ tiêu chi phí.
Trong đó: KQ: Là chỉ tiêu kết quả sản xuất kinh doanh.
CP: Là chỉ tiêu chi phí cho quá trình sản xuất, kinh doanh.
* Về kết qủa sản xuất kinh doanh như tôi đã trình bày ở trên, nó bao gồm hai chỉ tiêu: -
Doanh thu
- Lợi nhuận
2. TV Hiệu năng tổng vốn theo DT
TV
DT
H
TV
Tỷ suất lợi nhuận theo tổng vốn
TV
LN
R
TV
3. V
L
Hiệu năng vốn lưu động theo DT
L
V
V
DT
H
L
Tỷ suất lợi nhuận theo vốn lưu
động
L
V
W
II. Các phương pháp phân tích thống kê kết quả sản xuất kinh doanh
1.Nguyên tắc lựa chọn các phương pháp
1.1 Tính hướng đích
Nguyên tắc đảm bảo tính hướng đích, tức là phải căn cứ vào nhiệm vụ phân tích để
lựa chọn phương pháp phân tích phù hợp. Không thể phân tích theo các phương pháp mà
thực tế không đòi hỏi, không phù hợp với yêu cầu đặt ra. Thực tế đặt ra yêu cầu gì thì phải
lựa chọn
Nhiệm vụ của phân tích thống kê kết quả sản xuất kinh doanh là:
+ Tìm quy luật xu thế, thời vụ
+ Đo, biểu hiện mức độ biến động
+ Xác định ảnh hưởng của các nhân tố
+ Xác định vai trò của các nhân tố
+Dự báo thống kê
Đặc điểm của phân tích thống kê kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là
lấy con số thống kê làm tư liệu, lấy phương pháp thống kê làm công cụ, phải dựa trên cơ
sở phân tích lý luận toàn bộ sự kiện.
Ngoài việc lựa chọn phương pháp thống kê đảm bảo nguyên tắc này bên cạnh đó
phải biết khéo léo kết hợp nhiều phương pháp khác nhau nhằm phát huy tổng hợp tác dụng
của chúng.
1.2 Tính khả thi
Để giải quyết một vấn đề nào đó phải căn cứ vào số liệu hiện có, xem số liệu đó có
cho phép phân tích không và phân tích theo phương pháp nào, đối với phương pháp dãy số
thời gian, phương pháp hồi quy tương quan thì cần phải có nguồn số liệu nhiều năm đủ để
đánh giá bản chất, xu thế qui luật của hiện tượng.
1.3 Tính hệ thống
Căn cứ vào đặc điểm của từng hiện tượng và đặc điểm vận dụng của từng phương