LUẬN VĂN:
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động bán lẻ tại Công ty Cổ phần
Tập đoàn Phú Thái
LỜI NÓI ĐẦU
Nâng cao hiệu quả hoạt động bán lẻ là vấn đề rất quan trọng đối với cả các doanh
nghiệp sản xuất cũng như các nhà phân phối. Vai trò của hoạt động bán lẻ thể hiện ở chỗ:
hoạt động bán lẻ kênh phân phối quan trọng nhất đưa sản phẩm của các nhà sản xuất tới
tay người tiêu dùng cuối cùng và đây cũng là nơi các nhà sản xuất nhận được những phản
hồi của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm để từ đó có thể cải tiến chất lượng sản
phẩm cho phù hợp hơn với nhu cầu của người tiêu dùng. Một hệ thống phân phối hiệu
quả sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của công ty lên rất nhiều. Nếu hoạt động bán lẻ
được tổ chức khoa học thì sản phẩm của nhà sản xuất sẽ nhanh chóng tới tay người tiêu
dùng, đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn, tiết kiệm chi phí và lợi nhuận của công ty từ đó
trường ngày càng mở rộng thì các nhà sản xuất không thể tiến hành phân phối sản phẩm
theo cách truyền thống được. Để đưa hàng hoá của mình tới tận tay người tiêu dùng một
cách nhanh nhất và tiết kiệm được chi phí vận chuyển các nhà sản xuất đã sử dụng dịch
vụ của các công ty phân phối vật chất, nhà kho và các công ty vận tải. Hiệu quả của hoạt
động phân phối ảnh hưởng lớn đến sự hài lòng của khách hàng, đến chi phí sản xuất và
do đó ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của công ty nhất là trong cơ chế thị
trường hiện nay khi các nhà sản xuất phải giành giật thị trường với hàng loạt các đối thủ
cạnh tranh khác. Một hệ thống phân phối hiệu quả sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của
sản phẩm lên rất nhiều. Vậy phân phối hàng hoá vật chất là gì?
- Theo nghĩa rộng: phân phối hàng hoá vật chất bao gồm việc lập kế hoạch, thực
hiện và kiểm tra các dòng vật chất của vật tư và thành phẩm từ các điểm xuất xứ đến các
điểm sử dụng nhằm đáp ứng những yêu cầu của khách hàng và có lợi nhuận
Hiện nay các công ty ngày càng chú ý tới tổng chi phí của phân phối hàng hoá vật
chất vì nó có thể chiếm tới 30-40% giá thành sản phẩm. Nếu giảm được những chi phí
này thì giá thành sản phẩm có thể giảm đáng kể, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm
trên thị trường. Những yếu tố chính trong tổng chi phí phân phối hàng hóa vật chất là:
vận chuyển (37%), dự trữ hàng (22%), lưu kho (21%), xử lý đơn hàng, phục vụ khách
hàng và quản lý phân phối chiếm 20%. Mặt khác, hoàn thiện hệ thống phân phối không
chỉ là giảm chi phí mà nó còn là công cụ đắc lực trong cạnh tranh. Các công ty có thể thu
hút thêm khách hàng bằng cách đảm bảo dịch vụ tốt hơn, rút ngắn chu kỳ thời gian hay
định giá thấp hơn thông qua việc cải tiến phân phối hàng hóa vật chất.
- Mục tiêu phân phối hàng hoá vật chất của nhiều công ty là nhận đúng hàng, đúng
địa chỉ, đúng thời gian với chi phí thấp nhất. Tuy nhiên mục tiêu này ít có giá trị đích
thực bởi vì không tồn tại một hệ thống phân phối vật chất nào có thể đồng thời tăng tối đa
dịch vụ đối với khách hàng và giảm tối thiểu chi phí phân phối. Bởi vì việc phục vụ tối đa
khách hàng có nghĩa là phải dự trữ nhiều hàng, sử dụng phương tiện vận chuyển đắt tiền
và có nhiều kho mà tất cả những thứ đó đều làm tăng chi phí phân phối. Vì vậy, để đảm
bảo dung hoà được các hoạt động phân phối vật chất, các quyết định phân phối phải được
cân nhắc kỹ lưỡng trên cơ sở chung toàn hệ thống.
- Khi đã xác định được mục tiêu phân phối vật chất, doanh nghiệp phải quyết định
Các kênh phân phối tạo nên dòng chảy hàng hóa từ người sản xuất tới người tiêu
dùng cuối cùng. Nhờ có mạng lưới kênh phân phối mà khắc phục được những khác biệt
về thời gian, địa điểm và quyền sở hữu giữa người sản xuất với người tiêu dùng. Tất cả
những người tham gia vào kênh phân phối được gọi là các thành viên của kênh trong đó
các trung gian thương mại là những thành viên quan trọng nhất.
Việc sử dụng trung gian thương mại tham gia vào quá trình đưa sản phẩm từ nơi sản
xuất đến nơi tiêu dùng đã được sử dụng ngay từ buổi bình minh của xã hội loài người và
ngày nay khi nền sản xuất ngày càng phát triển thì vai trò của các trung gian thương mại
ngày càng trở lên quan trọng. Các nhà sản xuất ngày càng đánh giá cao vai trò của các
trung gian thương mại vì họ nhận ra rằng các trung gian bán hàng hoá và dịch vụ hiệu
quả hơn do tiết kiệm được số lần tiếp xúc với khách hàng. Nhờ quan hệ tiếp xúc với
khách hàng, kinh nghiệm thị trường và chuyên môn hoá trong hoạt động mà những người
trung gian sẽ đem lại cho nhà sản xuất nhiều lợi ích hơn là họ tự làm lấy. Các trung gian
thương mại góp phần quan trọng là làm cho cung cần phù hợp với nhau một cách trật tự
và hiệu quả.
1.1.3. Khái niệm bán lẻ
Bán lẻ là tất cả những hoạt động có liên quan đến việc bán hàng hóa hay dịch vụ
trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng cho bản thân chứ không phải kinh
doanh
Các nhà bán lẻ có vai trò rất quan trọng trong việc đưa hàng hóa tới tận tay người
tiêu dùng. Để nâng cao hiệu quả hoạt động bán hàng khi đưa ra các quyết định của mình,
người bán lẻ phải chú ý tới các vấn đề chủ yếu sau:
- Thị trường trọng điểm: xác định rõ, tiến hành các hoạt động điều tra nghiên cứu
thị trường và định vị thị trường là một trong những hoạt động quan trọng đầu tiên mà nhà
bán lẻ phải chú ý khi gia nhập thị trường. Quyết định về thị trường trọng điểm sẽ ảnh
hưởng tới mọi quyết định marketing khác, khi có một quyết định về thị trường đúng đắn
thì các hoạt động marketing khác sẽ củng cố vị trí của nhà bán lẻ đó trên đoạn thị trường
đã chọn.
Nghiên cứu thị trường sẽ giúp cho nhà bán lẻ xác định rõ quy mô thị trường, nhu
cầu của khách hàng về sản phẩm dịch vụ. Từ đó, nhà bán lẻ sẽ đưa ra được các quyết
dịch khuyến mại rầm rộ cũng được các nhà bán lẻ sử dụng liên tục để thu hút khách hàng.
+Địa điểm: một nhà nghiên cứu kinh tế đã từng nói rằng thành công của người bán
lẻ là “địa điểm, địa điểm và địa điểm”. Địa điểm đặt cửa hàng bán lẻ là một yếu tố có tính
chất quyết định tới khả năng thu hút khách hàng và chi phí xây dựng của người bán lẻ từ
đó tác động lớn đền lợi nhuân của họ, Vì vậy, các nhà bán lẻ phải rất thận trọng khi lựa
chọn địa điểm kinh doanh.
1.2 Vai trò của hoạt động bán lẻ
- Đối với người sản xuất: một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà sản
xuất là đầu ra cho sản phẩm của mình. Bán lẻ là một trong những hình thức chính đưa sản
phẩm của các nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng và nó càng quan trọng đối với các nhà
sản xuất có quy mô nhỏ và vừa không có khả năng sử dụng các trung gian thương mại.
Khi nhà sản xuất tự mình đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng họ có thể tiếp xúc trực
tiếp với khách hàng của mình, lắng nghe những phản ứng của khách hàng về bao bì, mẫu
mã, chất lượng sản phẩm để có những cải tiến cho sản phẩm của mình ngày càng phù hợp
hơn với nhu cầu của thị trường, đồng thời họ có thể tiết kiệm được một khoản chi phí khá
lớn khi không sử dụng trung gian thương mại. Tuy nhiên, khi quy mô sản xuất tăng lên
thì nhà sản xuất cần phải cân nhắc đến chi phí và tính hiệu quả của việc sử dụng trung
gian thương mại. Bởi vì, khi sử dụng trung gian thương mại nhà sản xuất không còn phải
băn khoăn về khâu tiêu thụ sản phẩm và vì thế có thể chuyên môn hoá vào sản xuất nâng
cao chất lượng sản phẩm. Hiện nay, hầu hết các nhà sản xuất lớn đều sử dụng đồng thời
cả hai hình thức này đưa sản phẩm ra thị trường nhằm khai thác được lợi thế và khắc phụ
nhược điểm của từng hình thức đem lại lợi nhuận lớn nhất cho doanh nghiêp của mình.
- Đối với nhà phân phối: với vai trò là cầu nối giữa doanh nghiệp và người tiêu
dùng thì nhiệm vụ chủ yếu của các nhà phân phối là điều tra, nắm bắt nhu cầu của thị
trường về từng loại sản phẩm để từ đó có kế hoạch đặt hàng và cung cấp hàng hóa cho thị
trường. Các nhà phân phối thường sử dùng hai hình thức chủ yếu để tiêu thụ sản phẩm đó
là bán buôn cho các đại lý hoặc bán lẻ trực tiếp cho người tiêu dùng. Khi đã nắm rõ nhu
cầu của thị trường thì các nhà phân phối thường thích sử dụng hình thức bán lẻ vì hoạt
động này có thể mang lại cho họ mức lợi nhuận cao từ sự chênh lệch giá cả giữa giá nhập
và giá xuất “ mua tận gốc, bán tận ngọn”. Mặt khác, hiện nay nhu cầu mua sắm của người
phẩm của mình, những người này lại tuyển mộ và bán hàng cho các nhà phân phối phụ,
rồi những người này sẽ tuyển mộ những người khác bán sản phẩm của mình thường là tại
nhà khách hàng. Tiền thù lao của những người bán hàng thường được tính theo phần trăm
doanh số hoặc phần trăm giá bán. Tuy nhiên bán hàng trực tiếp rất tốn kém cho phí hoa
hồng cho nhân viên (thường một nhân viên bán hàng được hưởng hoa hồng từ 10 đến
50%), cộng thêm các chi phí do phải huấn luyện nhân viên nên hình thức kinh doanh này
mới chỉ được một số công ty khai thác do có sản phẩm đặc thù.
2.1.2. Bán hàng tự động
Phương thức bán hàng tự động đã được áp dụng cho rất nhiều loại hàng hóa khác
nhau, thường là các mặt hàng mua ngẫu hứng và có giá trị thông dụng cao: thuốc lá, nước
ngọt, báo chí, đồ uống nóng… Máy bán hàng thường được lắp đặt tại các cơ quan, các
cửa hàng bán lẻ lớn, những khu vui chơi giải trí…
Máy bán hàng tự động đảm bảo cho khách hàng những lợi thế như: bán hàng 24
giờ, tự phục vụ và hàng hoá không bị nhiều người sờ tay vào. Tuy nhiên, máy bán hàng
tự động cũng là một kênh phân phối tương đối tốn kém do chi phí lắp đặt máy móc cao
và giá hàng bán thường cao hơn từ 15 đến 20%. Chi phí bán hàng cao do thường xuyên
phải nạp hàng ở nhiều địa điểm phân tán, máy bán hàng hay hỏng và một số nơi tỷ lệ mất
cắp cao
Hiện nay, các máy bán hàng ngày càng cung cấp ngày càng nhiều các dịch vụ giải
trí và những trò chơi điện tử mới. Hình thức bán hàng tự động này cũng được các ngân
hàng khai thác một cách hiệu quả, đó là các máy rút tiền tự động ATM cho phép ngân
hàng phục vụ khách hàng 24 giờ, rất thuận tiện cho người gửi tiền khi có nhu cầu trả tiền
hàng hóa dịch vụ
2.2. Các cửa hàng
2.2.1. Cửa hàng chuyên doanh
- Khái niệm: Cửa hàng chuyên doanh là những cửa hàng bán một chủng loại hẹp
sản phẩm nhưng rất đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng và có thể cung cấp khách hàng đầy đủ
các loại sản phẩm đó.
- Hình thức hoạt động: đây là một hình thức bán lẻ còn khá mới và rất độc đáo, ở
các cửa hàng này người bán có thể coi là một nhà sưu tầm về chủng loại hàng đó và họ
thể mua được đầy đủ các sản phẩm cần thiết. Tuy nhiên, các cửa hàng này đang phải đối
mặt với sự cạnh tranh rất lớn từ các siêu thị, các kho bán lẻ và các hình thức bán lẻ tận
nhà khác, hơn nữa hầu hết các cửa hàng bách hoá lớn đều được xây dựng từ cách đây khá
lâu nên cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ khách hàng rất lạc hậu đã làm cho việc mua
sắm ở các cửa hàng này không thu hút được khách hàng. Vì thế, để tồn tại một số cửa
hàng bách hoá đã tiến hành một loạt các cải cách nhằm chiếm lại thị phần. Nhiều cửa
hàng bách hoá đã mở các chi nhánh tại các trung tâm thương mại lớn của các vùng ven
đô với các trang thiết bị hiện đại, một số khác thì tăng tần suất bán hàng, cải tạo các cửa
hàng, tạo các quầy hàng thời thượng, cho thuê các gian hàng và thửnghiệm bán hàng qua
bưu điện và marketing qua điện thoại… vì thế một số cửa hàng đã thu hút được rất đông
khách hàng.
2.2.3. Cửa hàng hạ giá
- Khái niệm: Cửa hàng hạ giá bán những hàng hoá tiêu chuẩn với giá thấp hơn do
chấp nhận mức lời thấp hơn và bán với những khối lượng lớn hơn.
- Hình thức hoạt động: việc sử dụng biện pháp giảm giá từng đợt hay vào nhưng dịp
đặc biệt không làm cho một cửa hàng trở thành cửa hàng hạ giá. Cửa hàng hạ giá đích
thực thường xuyên bán hàng với giá thấp hơn, và bán phần lớn là các sản phẩm có
thương hiệu chứ không phải bán hàng kém phẩm chất. Các cửa hàng hạ giá bán bằng
cách nhập hàng trực tiếp từ các nhà sản xuất và cắt giảm chi phí thuê mặt bằng bằng cách
sử dụng những cơ sở giống như nhà kho ở những khu vực tiền thuê nhà rẻ nhưng đông
người qua lại. Họ cắt giảm mạnh giá cả, quảng cáo rộng rãi và bán các chủng loại mặt
hàng với bề rộng và bề sâu vừa phải.
- Xu hướng phát triển: cạnh tranh về giá luôn là một công cụ cạnh tranh hiệu quả
nhất là đối với các sản phẩm hàng tiêu dùng. Các cửa hàng hạ giá đã khai thác được tâm
lý thích hàng rẻ của người tiêu dùng để tiêu thụ hàng hóa với số lượng lớn từ đó thu được
mức lợi nhuận cao. Một số cửa hàng hạ giá sau một thời gian kinh doanh hiệu quả đã tiến
hành đầu tư trang trí nội thất cho cửa hàng của mình, bổ sung thêm các chủng loại hàng
mới, mở thêm các chi nhánh… Tuy nhiên, những hoạt động đó lại làm tăng chi phí bán
hàng và dẫn đến giá bán tăng. Vì vậy khi các cửa hàng bách hoá tổng hợp cùng cắt giảm
giá bán để cạnh tranh với các cửa hàng hạ giá thì sự khác biệt giữa các cửa hàng này là
các nước phương Tây. Các Nó đã chiếm lĩnh hầu như toàn bộ thị trường bán lẻ và tỏ ra
rất phù hợp với xu hướng tiêu dùng mới. Các siêu thị đã rất cố gắng hoàn thiện hoạt động
của mình để ngày càng đáp ứng được các nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của
người tiêu dùng.
Tại Việt Nam, đặc biệt là TP.HCM, các hình thức bán lẻ hiện đại: các siêu thị, các
cửa hàng, trung tâm thương mại xuất hiện từ những năm 1994 và đang phát triển mạnh
trong những năm gần đây.
Theo báo cáo mới nhất của Bộ Công thương thì tốc độ tăng trưởng hàng năm của
kênh phân phối hiện đại này là khoảng 15- 20%, cao hơn tốc độ tăng trưởng của các kênh
bán lẻ khác hơn 10% và của nền kinh tế 7-8%. Từ chỗ chỉ chiếm dưới 3% thị phần bán lẻ,
hiện nay các siêu thị đã tăng thị phần của mình lên khoảng 20% và ngày càng tăng cao.
Người tiêu dùng nước ta đang ngày càng có xu hướng chuyển từ mua sắm tại chợ truyền
thống sang mua sắm tại siêu thị
Tại cuộc hội thảo về “Chính sách phát triển mô hình phân phối hàng hóa hiện đại”,
ông Ken Arakawa, Tổng Giám đốc công ty TNHH Hà Nội – Seiyu nhận định: “Tại các
thành phố, khu đô thị và khu công nghiệp, sức tiêu dùng cá nhân đã tăng lên nhanh
chóng. Số lượng người nước ngoài và Việt Kiều đến Việt Nam du lịch, đầu tư ngày càng
nhiều và việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các tầng lớp khách hàng này là cần thiết.
Như vậy, tiềm năng phát triển của các siêu thị tại thị trường Việt Nam là rất lớn và
các công ty hoạt động trong lĩnh vực phân phối, bán lẻ của nước ta cần có những chiến
lược ngay từ bây giờ để tận dụng được lợi thế sẵn có, khai thác có hiệu quả thị trường
đầy tiềm năng này
Chương II:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÁN LẺ TẠI
CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN PHÚ THÁI.
I. Khái quát chung về Công ty Cổ phần Tập đoàn Phú Thái.
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty.
Tên công ty: Công ty Cổ phần Tập đoàn Phú Thái
Tên giao dịch: Phuthaigroup
cho hàng chục nhà sản xuất và cung cấp trong và ngoài nước. Phú Thái đã xây dựng được
một mạng lưới phân phối bán sỉ hàng đầu tại Việt Nam với hơn 50.000 đại lý gồm: các
nhà phân phối phụ, đại lý bán buôn, bán lẻ, siêu thị … và hơn 5000 khách hàng trực tiếp
gồm: các khách sạn, nhà hàng, cơ quan, người tiêu dùng. Hiện nay Phú Thái có hơn 20
đơn vị trực thuộc gồm các công ty thành viên, trung tâm phân phối và trung tâm kho vận
trên toàn quốc. Với chiến lược tăng tốc trong 5 năm 2007-2011, Phú Thái đã xây dựng kế
hoạch phát triển theo mô hình tập đoàn phân phối và đầu tư. Nhằm đáp ứng nhu cầu phát
triển các dự án lớn, vốn điều lệ của Tập đoàn đầu năm 2008 là 1.100 tỷ đồng.
Khi nước ta trở thành thành viên của Tổ chức Thương Mại Thế giới (WTO) nền
kinh tế nước ta đã có những biến chuyển mạnh mẽ và ngày càng hội nhập sâu vào nền
kinh tế thế giới, thị trường bán lẻ Việt Nam cũng có nhiều sự thay đổi rất đáng kể, nắm
bắt được những xu hướng thay đổi của thị trường trong những năm qua hoạt động sản
xuất kinh doanh của Phú Thái đã đạt được những thành tựu rất quan trọng.
Bảng 1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
từ năm 2004 đến năm 2007
Đơn vị: nghìn đồng
Khoản mục Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007
1. Tổng doanh thu 289061292.7
425147317.1
654084023.5
673762192.9
2. Doanh thu thuần 268827002.2
399638478
621379822.4
doanh nghiệp 9217843
13557475
21621111
22271584
7. Lợi nhuận
sau thuế 23703026
34862080
55597142
57269786
8. Thu nhập
bình quân 1156
1238
1450
1453Từ bảng kết quả sản xuất kinh doanh của ta có thể nhận thấy được những thành tựu
của Công ty trong thời gian qua
* Về doanh thu
năng.
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA PHÚ THÁI GROUP
Phòng
tài
chính
Phòng
kế
toán
Phòng
quản
lý
công
nợ
Phòng
quản
lý
dịch
vụ
kho
Phòng
kinh
doanh
khu
vực
miền
bắc
Phòng
kinh
doanh
và
hành
chính
Phòng
liên
doanh
sản
xuất
Phòng
quản
lý sản
xuất
Phú
Thái
( Tự
SX)
Phòng
OEM
Các trung tâm phân phối (OC), các chi nhánh(Branch) hoặc các công ty thành viên( MC)
Ban Giám Đốc
Phòng hành chính- ISO Phòng xuất nhập khẩu
Phòng pháp chế Phòng NTCC- CRM
Công đoàn Phú Thái Phòng dự án
Phòng thương hiệu -PR Hội LHTN Phú Thái
Giám Đốc
Tài Chính
Giám Đốc
Sản Xuất
Giám Đốc
Nhân Sự
doanh của Công ty …
Tổng Giám đốc Công ty do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
Tổng Giám đốc là đại diện pháp nhân của Công ty và là người điều hành cao nhất của
Công ty.
1.2.3.2. Phó Tổng Giám đốc
Phó Tổng Giám đốc là người giúp Tổng Giám đốc điều hành một số lĩnh vực hoạt
động của Công ty theo sự phân công của Tổng Giám đốc và chịu trách nhiệm trước Tổng
Giám đốc và pháp luật về các nhiệm vụ được giao
1.2.4. Ban kiểm soát
Ban kiểm soát của Công ty có 5 thành viên có nhiệm kỳ 3 năm. Đây là một phòng
ban có chức năng giám sát hoạt động điều hành của các thành viên trong Ban Giám đốc,
bộ máy giúp việc cũng như toàn bộ Công ty trong các hoạt động tài chính, chấp hành luật
pháp, điều lệ Công ty nhằm đảm bảo quyền lợi cho các cổ đông.
Nhiệm vụ chính của Ban kiểm soát là kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý,
điều hành hoạt động kinh doanh, trong ghi chép sổ kế toán và báo cáo tài chính; thường
xuyên thông báo với Hội đồng quản trị về các kết quả hoạt động của Công ty đồng thời
đưa ra kiến nghị biện pháp bổ sung, sửa đổi, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành
hoạt động kinh doanh của Công ty.
1.2.5. Các phòng ban chức năng
1.2.5.1. Phòng Hành chính
Đây là một phòng ban có chức năng soạn thảo và thẩm định các văn bản pháp quy
cho Ban Giám đốc phục vụ công tác quản lý và điều hành các hoạt động sản xuất, kinh
doanh của Công ty, tổng hợp tình hình hoạt động của các đơn vị thành viên, các đơn vị
trực thuộc thành báo cáo chung của Công ty giúp cho Ban Giám đốc có đầy đủ thông tin
về hoạt động của Công ty, về công tác quản lý của doanh nghiệp. Đồng thời, tham mưu
cho Tổng Giám đốc về công tác tổ chức hành chính và quản lý tài sản, trang thiết bị của
Công ty.
1.2.5.2. Phòng xuất nhập khẩu
Nhiệm vụ chính của phòng xuất nhập khẩu là tham mưu cho Tổng Giám đốc xây
dựng các kế hoạch về nhập, xuất khẩu các mặt hàng, các sản phẩm hoặc nguyên vật liệu
chính - kế toán của Công ty là:
- Tổ chức công tác hạch toán kế toán của Công ty theo quy định hiện hành của pháp
luật, lập và gửi các báo cáo quyết toán tài chính hàng năm lên Hội đồng quản trị, Ban
kiểm soát của Công ty và các cơ quan quản lý Nhà nước theo quy định
- Kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của các chứng từ thu, chi. Theo dõi việc nhập, xuất
hàng hoá, vật tư. Kiểm tra đôn đốc việc thực hiện công tác kế toán và báo cáo quyết toán
của các công ty thành viên và các đơn vị trực thuộc
- Huy động các nguồn vốn đảm bảo duy trì hoạt động của Công ty
- Theo dõi công nợ và phối hợp với các đơn vị như phòng kinh doanh, phòng dự án,
các văn phòng đại diện, các trung tâm trong việc thu hồi công nợ; đôn đốc và kiểm tra
việc thực hiện các nghĩa vụ thuế của Công ty đối với nhà nước.
1.2.5.7. Bộ phận kinh doanh
Chức năng, nhiệm vụ chính của bộ phận kinh doanh là:
- Làm hợp đồng mua bán, danh mục sản phẩm đảm bảo chính xác về mặt hàng, số
lượng, mẫu mã và giá cả. Hàng năm theo sự chỉ đạo của lãnh đạo Công ty tổ chức xây
dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh giao cho các đơn vị trực thuộc, các công ty thành
viên
- Kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch của Công ty ở từng vùng miền, kịp thời
phát hiện và báo cáo với Tổng Giám đốc về tình hình sản xuất kinh doanh của các đơn vị
trực thuộc và trong toàn Công ty
- Tổ chức hướng dẫn và giúp các đơn vị thực hiện kế hoạch được giao. thường
xuyên nắm chắc nguồn hàng và có kế hoạch phân phối, cung ứng cho các đơn vị kịp thời,
chính xác
- Tham gia xây dựng các hợp đồng kinh tế và trực tiếp theo dõi, đôn đốc việc thực
hiện hợp đồng đảm bảo chất lượng, kinh tế và hiệu quả
1.2.5.8. Bộ phận hậu cần
Do đặc điểm hoạt động của Công ty là một doanh nghiệp hoạt động chủ yếu trong
lĩnh vực phân phối và kinh doanh các dịch vụ kho vận nên không thể thiếu các hoạt động
liên quan đến dự trữ và luân chuyển hàng hóa, cho thuê kho bãi. Để quản lý hoạt động
này Công ty đã thành lập bộ phận hậu cần. Nhiệm vụ chính của bộ phận này là: