Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Ths Ngô Ngọc Cương
LỜI DẪN NHẬP
Thực hiện đường lối đổi mới, chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, nền
kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu đáng kể thể hiện ở tốc độ tăng trưởng GDP
hàng năm, từ đó tạo điều kiện để nước ta bước vào thời kỳ mới công nghiệp hóa - hiện
đại hóa, từng bước hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế đặt ra cho các doanh nghiệp nước ta
nhiều cơ hội và thách thức. Đó là cơ hội thu hút vốn đầu tư, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến,
tiếp thu cách làm việc, kinh doanh, quản lý khoa học của nước ngoài, có cơ hội đưa sản
phẩm của mình đến nhiều nước trên thế giới…Mặt khác, các doanh nghiệp phải chấp
nhận sự cạnh tranh gay gắt diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Trong nền kinh tế thị trường
một khi không còn sự bảo hộ của Nhà nước, các doanh nghiệp nước ta phải tự điều hành,
quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả để đứng vững trên thị
trường và ngày càng phát triển. Muốn vậy, các doanh nghiệp phải tạo được doanh thu và
có lợi nhuận, đồng thời phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá mọi diễn biến và kết quả
của quá trình sản xuất kinh doanh. Bởi vì thách thức lớn nhất hiện nay không chỉ là tăng
đầu tư hay tăng sản lượng mà là tăng cường hiệu quả kinh doanh. Như vậy, thường
xuyên quan tâm phân tích, đánh giá hiệu quả họat động kinh doanh nói chung, chi phí,
doanh thu và lợi nhuận nói riêng trở thành một nhu cầu thực tế cần thiết đối với bất kỳ
doanh nghiệp nào.
Trong thời gian học tập ở trường đã cung cấp cho em những kiến thức cơ bản về
lý thuyết kinh tế, phương pháp phân tích kinh tế. Trong thời gian thực tập tại Công ty cổ
phần tư vấn kiểm định xây dựng Đông Dương Á đã cho em tiếp cận được với thực tiễn
sinh động tại đơn vị. Bản thân em cũng cố gắng nghiên cứu tìm tòi và nhận thấy việc
đánh giá hoạt động kinh doanh là hết sức cần thiết. Bởi vì việc đánh giá không những
giúp cho các nhà quản lý nhận thấy được kết quả hoạt động kinh doanh mà còn là cơ sở
để tính ra các chỉ tiêu chất lượng khác nhằm đánh giá đầy đủ hơn hiệu quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ hoạt động. Thông qua việc phân tích này, các
nhà quản lý sẽ nắm được thực trạng của doanh nghiệp, phát hiện những nguyên nhân và
sự ảnh hưởng của các nhân tố lên doanh thu, lợi nhuận, chi phí. Từ đó, chủ động đề ra
phân tích trong từng lĩnh vực hoạt động.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Phương pháp nghiên cứu được vận dụng trong đề tài chủ yếu là phương pháp so sánh
và tổng hợp số liệu thực tế thu thập được trong quá trình thực tập tại doanh nghiệp, các
số liệu trên báo cáo tài chính và bảng cân đối kế toán cùng các thông tin có được từ việc
phỏng vấn trực tiếp các nhân viên ở phòng kế toán để xác định xu hướng phát triển, mức
độ biến động của các số liệu cũng như các chỉ tiêu và từ đó đưa ra các nhận xét. Ngoài ra
còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp thay thế liên hoàn, phân tích các tỷ
số.
SVTH: Lại Ngọc Thạch Trang 2
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Ths Ngô Ngọc Cương
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Để tiến hành đánh giá hoạt động kinh doanh, ta phải nghiên cứu từng khoản mục để
theo dõi sự biến động của nó. Các khoản mục nghiên cứu chủ yếu trong chuyên đề gồm:
Doanh thu: đó là thu nhập mà doanh nghiệp nhận được qua hoạt động sản xuất
kinh doanh. Doanh thu thuần là doanh thu đã trừ các khoản giảm trừ. Đây là một trong
những chỉ tiêu có ý nghĩa nhất đối với tình trạng của một doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường.
Giá vốn hàng bán: Đây là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị mua hàng
hoá, giá thành sản xuất của sản phẩm, dịch vụ đã bán. Giá trị là yếu tố lớn quyết định khả
năng cạnh tranh và mức kết quả của doanh nhgiệp. Trong trường hợp doanh nghiệp có
vấn đề đối với giá vốn hàng bán, thì ta phải theo dõi và phân tích từng cấu phần của nó:
nhân công trực tiếp, nguyên vật liệu trực tiếp, năng lượng…
Lãi gộp: Là doanh thu trừ giá vốn hàng bán.Chỉ tiêu này tiến triển phụ thuộc vào
cách biến đổi của các thành phần của nó.Nếu phân tích rõ những chỉ tiêu trên, doanh
nghiệp sẽ hiểu được mức độ và sự biến động của chỉ tiêu này.
Chi phí bán hàng: là toàn bộ chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm,
hàng hoá, dịch vụ.
Chi phí quản lý kinh doanh: là toàn bộ chi phí có liên quan đến hoạt động quản lý
kinh doanh, quản lý hành chánh và quản lý đều hành chung của toàn doanh nghiệp.
+ Thu nhập bất thường như: thu từ tiền phạt, tiền bồi thường, nợ khó đòi đã
chuyển vào thiệt hại.
+ Thu nhập từ các hoạt động khác như: thu về nhượng bán, thanh lý tài sản
cố định; giá trị các vật tư, tài sản thừa trong sản xuất; thu từ bản quyền phát minh, sáng
chế; tiêu thụ những sản phẩm chế biến từ phế liệu, phế phẩm.
Để tìm hiểu rõ hơn về doanh thu, chúng ta tiếp cận một số khái niệm có liên quan:
- Doanh thu thuần về bán hàng, cung cấp dịch vụ: Là doanh thu về bán hàng và
cung cấp dịch vụ trừ đi các khoản giảm trừ, các khoản thuế. Các khoản giảm trừ gồm
giảm giá hàng bán, hàng bán bị gửi trả lại, chiết khấu thương mại.
- Doanh thu thuần: Là doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ cộng cho
các khoản hoàn nhập như dự phòng giảm giá hàng tồn kho, phải thu nợ khó đòi không
phát sinh trong kỳ báo cáo
1.1.3 Vai trò của doanh thu:
SVTH: Lại Ngọc Thạch Trang 4
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Ths Ngô Ngọc Cương
Doanh thu là một chỉ tiêu quan trọng của doanh nghiệp, chỉ tiêu này không những
có ý nghĩa với bản thân doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế
quốc dân.
Doanh thu bán hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ doanh thu của doanh
nghiệp. Nó phản ánh quy mô của quá trình tái sản xuất, phản ánh trình độ tổ chức chỉ đạo
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Bởi lẽ có được doanh thu bán hàng chứng tỏ
doanh nghiệp sản xuất sản phẩm được người tiêu dùng chấp nhận: rằng sản phẩm đó về
mặt khối lượng, giá trị sử dụng, chất lượng và giá cả đã phù hợp với nhu cầu thị hiếu của
người tiêu dùng.
Doanh thu bán hàng còn là nguồn vốn quan trọng để doanh nghiệp trang trải các
khoản chi phí về tư liệu lao động, đối tượng lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất
kinh doanh, để trả lương, thưởng cho người lao động, trích Bảo hiểm xã hội, nộp thuế
theo luật định…
Thực hiện doanh thu bán hàng là kết thúc giai đoạn cuối cùng của quá trình chu
chuyển vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất sau. Vì vậy việc thực hiện
tiêu thụ dễ dàng, nhanh chóng thu được tiền bán hàng và tăng doanh thu bán hàng.
- Giá bán sản phẩm: Trong trường hợp các nhân tố khác không đổi, việc thay đổi
giá bán có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng hay giảm doanh thu bán hàng. Thông
thường chỉ những sản phẩm, những công trình có tính chất chiến lược đối với nền kinh tế
quốc dân thì Nhà nước mới định giá, còn lại do quan hệ cung cầu trên thị trường quyết
định. Doanh nghiệp khi định giá bán sản phẩm hoặc giá dịch vụ phải cân nhắc sao cho
giá bán phải bù được phần tư liệu vật chất tiêu hao, đủ trả lương cho người lao động và
có lợi nhuận để thực hiện tái đầu tư.
1.2 Khái niệm, nội dung và vai trò của lợi nhuận:
1.2.1 Khái niệm:
Sau một thời gian hoạt động nhất định doanh nghiệp sẽ có thu nhập bằng tiền. Lợi
nhuận của doanh nghiệp là số chênh lệch giữa doanh thu thuần với trị giá vốn của hàng
bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp. Do đó, lợi nhuận phụ thuộc vào hoạt
động sản xuất kinh doanh và trình độ quản lý của doanh nghiệp.
- Lãi gộp là phần còn lại của doanh thu sau khi trừ chi phí khả biến, là phần đóng
góp dùng đảm bảo trang trải cho chi phí bất biến.
- Lợi nhuận trước thuế: là lợi nhuận đạt được trong quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh.
- Lợi nhuận sau thuế: là phần còn lại sau khi nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho
ngân sách Nhà nước, lợi nhuận sau thuế dùng để trích lập các quỹ đối với các doanh
nghiệp.
1.2.2 Nội dung của lợi nhuận:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tuỳ theo các lĩnh vực đầu tư khác nhau, lợi
nhuận cũng được tạo ra từ nhiều hoạt động khác nhau:
SVTH: Lại Ngọc Thạch Trang 6
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Ths Ngô Ngọc Cương
- Lợi nhuận về nghiệp vụ sản xuất kinh doanh: Là lợi nhuận có được từ hoạt động
sản xuất kinh doanh theo đúng chức năng của doanh nghiệp.
- Lợi nhuận từ hoạt động liên doanh liên kết.
- Lợi nhuận về hoạt động tài chính: Là các khoản thu về lãi tiền gửi, thu lãi bán
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận:
Trong quá trình hoạt động có rất nhiều nhân tố khách quan và chủ quan ảnh
hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Các nhân tố chủ yếu là:
- Khối lượng sản phẩm tiêu thụ: Sản phẩm, hàng hoá của doanh nghiệp có tiêu thụ
được mới xác định được lãi hay lỗ và lãi, lỗ ở mức độ nào. Sản phẩm, hàng hoá phải
được tiêu thụ ở một số lượng nào đó sẽ có lợi nhuận, khối lượng tiêu thụ càng nhiều thì
lợi nhuận đạt được càng lớn
- Giá thành sản xuất của sản phẩm: Giá thành sản xuất có vai trò to lớn trong
chiến lược cạnh tranh về giá. Giá thành sản xuất thấp cho phép doanh nghiệp áp dụng giá
bán thấp hơn đối thủ nhưng thu được lợi nhuận cao hơn. Giá thành sản xuất có tác động
ngược chiều với lợi nhuận, nếu giá thành thấp lợi nhuận sẽ cao hơn và ngược lại. Đối với
những ngành có số lao động nhiều, chi phí nhân công có ảnh hưởng không nhỏ đến lợi
nhuận của doanh nghiệp. Hiện nay, giá nhân công rẻ là một yếu tố thuận lợi của nước ta
trong việc tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, vì có thể tiêu thụ sản phẩm
với giá rẻ nhưng lợi nhuận không giảm.
- Giá bán sản phẩm: Trong sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp muốn tồn tại và
phát triển thì giá bán phải tương ứng với giá trị, nghĩa là giá cả sản phẩm phải đảm bảo
bù đắp được chi phí sản xuất và phải có lợi nhuận thoả đáng để tái đầu tư. Trong chính
sách giá của doanh nghiệp, giữa giá bán và khối lượng bán có mối quan hệ chặt chẽ, khi
khối lượng hàng hoá bán tăng thì giá bán có thể giảm và ngược lại.
- Kết cấu mặt hàng tiêu thụ: Mỗi loại sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp có
một chi phí sản xuất riêng, do đó có mức lợi nhuận riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như
mức độ cạnh tranh trên thị trường, giá bán, giá vốn, thuế,…rất khác nhau. Bởi vậy, khi
doanh nghiệp có cơ cấu hàng hoá kinh doanh thay đổi sẽ làm ảnh hưởng đến lợi nhuận
của doanh nghiệp.
- Thuế suất: Thuế suất do Nhà nước quy định, những thay đổi trong chính sách
thuế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, các doanh nghiệp cần nắm bắt kịp thời các sự
thay đổi này để có những biện pháp can thiệp kịp thời đảm bảo được lợi nhuận, hạn chế
tổn thất.
1.3 Quy trình đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh:
và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển
tiền tệ phản ánh đầy đủ các dòng thu và chi tiền và tương đương tiền của doanh nghiệp
trong một niên độ kế toán. Nó cung cấp thông tin về những dòng tiền vào, ra của doanh
nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ còn gọi là báo cáo ngân lưu, được tổng hợp bởi ba dòng
ngân lưu, từ ba hoạt động của doanh nghiệp:
Hoạt động kinh doanh
Hoạt động đầu tư
Hoạt động tài chính
SVTH: Lại Ngọc Thạch Trang 9
TÀI SẢN NGUỒN VỐN
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Ths Ngô Ngọc Cương
1.3.2 Áp dụng phương pháp phân tích
Phương pháp so sánh:
Đây là phương pháp đơn giản và được sử dụng nhiều nhất trong phân tích tài
chính. Phương pháp so sánh là phương pháp xem xét một chỉ tiêu phân tích bằng cách
dựa trên việc so sánh với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc).
So sánh giữa thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng
thay đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được thể hiện tốt
hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới
So sánh chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng loại trong tổng thể ở mỗi
bảng báo cáo.
So sánh theo chiều ngang để thấy đươc sự biến đổi cả về số tương đối và số
tuyệt đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp.
Phương pháp này thực hiện theo 3 nguyên tắc:
€ Tiêu chuẩn để so sánh
€ Điều kiện so sánh
€ Kỹ thuật so sánh
1.3.3: Tiến hành phân tích – đánh giá
1.3.3.1 Đánh giá tình hình doanh thu:
Doanh thu hoat động tài chính (DT-HĐTC)
Chi phí hoạt động tài chính (CP- HĐTC)
Chi phí quản lý doanh nghiệp (CPQL)
Lợi nhuận thuần hoạt động kinh doanh (LN-HĐKD)
Ta đánh giá tỷ trọng các nhân tố để có cái nhìn tổng quát về sự biến động các nhân tố tác
động đến lợi nhuận doanh nghiệp.
1.3.3.4 Đánh giá tình hình hoạt động qua tỷ số tài chính:
1.3.3.4.1 Tỷ số hoạt động:
Vòng quay hàng tồn kho
Số vòng quay hàng tồn kho phản ánh mối quan hệ giữa khối lượng
hàng hóa đã bán với hàng hóa dự trữ trong kho. Hệ số này thể hiện số lần hàng
hóa tồn kho bình quân được bán trong kỳ.
Đo lường mức doanh số bán liên quan đến mức độ tồn kho của các loại
hàng hóa, thành phẩm, nguyên vật liệu…
SVTH: Lại Ngọc Thạch Trang 11
Vòng quay hàng
tồn kho
=
Doanh thu thuần
Hàng tồn kho
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Ths Ngô Ngọc Cương
Đây là chỉ tiêu kinh doanh khá quan trọng vì dự trữ nguyên vật liệu là
để sản xuất, sản xuất hàng hoá là để tiêu thụ nhằm đạt mức doanh thu và lợi
nhuận cao trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường.
Quy mô tồn kho của một doanh nghiệp có thể lớn nhưng cũng có thể
nhỏ, điều đó phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp và thời
gian kinh doanh trong năm.
Tồn kho là toàn bộ các loại tài sản như: nguyên vật liệu trong khâu dữ
trữ, chi phí sản xuất dở dang trong khâu sản xuất và thành phẩm trong khâu
lưu thông.
doanh nghiệp thực hiện chính sách bán chịu và các khoản tạm ứng chưa thanh
toán, khoản trả trước cho người bán...
Doanh thu thuần là doanh số bán ra của doanh nghiệp trong năm sau
khi trừ đi các khoản giảm trừ trong năm như: chiết khấu, giảm giá, hàng bị trả
lại và thuế doanh thu.
Kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách bán chịu
của doanh nghiệp. Về nguyên tắc, tỷ số này càng thấp càng tốt, nếu kỳ thu tiền
bình quân của doanh nghiệp thấp thì hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
đó cao do vốn ít bị chiếm dụng trong khâu thanh toán. Nếu kỳ thu tiền bình
quân của doanh nghiệp quá cao thì sức cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ giảm
do các khoản phải thu quá lớn, điều đó có nghĩa chính sách bán chịu của doanh
nghiệp quá nhiều, điều mà thông thường chỉ doanh nghiệp có sức cạnh tranh
kém mới thực hiện chính sách này để tiêu thụ hàng hoá. Tuy nhiên, không thể
chỉ dựa vào chỉ số kỳ thu tiền trong kỳ mà kết luận tính hiệu quả về khả năng
thu hồi vốn mà cần phải xem xét thêm một số yếu tố khác như: đặc điểm
Ngành nghề kinh doanh, chiến lược phát triển, chính sách bán hàng của doanh
nghiệp...
Kỳ thu tiền bình quân phản ảnh tình hình bán hàng và thu tiền đối với
khách hàng của Công ty, xem xét xem chính sách bán hàng của Công ty đã
hợp lý chưa, có bị khách hàng chiếm dụng vốn không.
Hệ số trên về nguyên tắc càng thấp càng tốt; tuy nhiên phải căn cứ vào
chiến lược kinh doanh, phương thức thanh toán, tình hình cạnh tranh trong
từng thời điểm hay thời kỳ cụ thể.
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định:
SVTH: Lại Ngọc Thạch Trang 13
Kỳ thu tiền bình quân =
Các khoản phải thu * 360
Doanh thu thuần
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Ths Ngô Ngọc Cương
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định, vì thế hiệu quả
Doanh thu thuần
Tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng
tổng tài sản
=
Doanh thu thuần
Tổng tài sản bình quân
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Ths Ngô Ngọc Cương
1.3.3.4.2 Tỷ số sinh lợi:
Tỷ số lợi nhuận hoạt động:
Hệ số lợi nhuận hoạt động được tính bằng lợi nhuận trước thuế và lãi
vay (EBIT) chia cho doanh thu:
Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết lãnh đạo doanh nghiệp đã
thành công đến mức nào trong việc tạo ra lợi nhuận từ hoạt động của doanh
nghiệp. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động là một thước đo đơn giản nhằm xác
định đòn bẩy hoạt động mà một doanh nghiệp đạt được trong việc thực hiện
hoạt động kinh doanh của mình. Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cho biết một
đồng doanh thu có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế và lãi vay.
Hệ số biên lợi nhuận hoạt động cao có nghĩa là quản lý chi phí có hiệu quả hay
nghĩa là doanh thu tăng nhanh hơn chi phí hoạt động. Các nhà quản lý cần phải
tìm ra các nguyên nhân khiến hệ số lợi nhuận hoạt động cao hay thấp để từ đó
họ có thể xác định xem doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hay không, hoặc
xem giá bán sản phẩm đã tăng nhanh hơn hay chậm hơn chi phí vốn.
Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu-ROS (LN/DT):
Hệ số lãi ròng hay còn gọi là suất sinh lời của doanh thu gọi tắt là ROS
(Return on Sales), thể hiện một đồng doanh thu có khả năng tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận ròng. Hệ số này đặc biệt quan trọng đối với các giám đốc điều
hành do nó phản ánh khả năng của công ty trong việc kiểm soát các chi phí
hoạt động cũng như phản ánh tính hiệu quả của quá trình hoạt động sản xuất
kinh doanh. Ta có công thức:
quản lý. Bởi vì nó đo lường tính hiệu quả của đồng vốn của các chủ sở hữu
của công ty, đó là phần trăm lợi nhuận thu được của chủ sở hữu trên vốn đầu
tư của mình. Nói tóm lại nó đo lường tiền lời của mỗi đồng tiền vốn bỏ ra. Ta
có:
SVTH: Lại Ngọc Thạch Trang 16
Tỷ suất lợi nhuận / Tổng Tài sản =
Tổng lợi nhuận sau
thuế
Tổng tài sản sử dụng
Tỷ suất lợi nhuận /Vốn chủ sở hữu =
Tổng lợi nhuận sau
thuế
Vốn chủ sở hữu
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Ths Ngô Ngọc Cương
Để đánh giá chính xác biến động tăng giảm như trên là tích cực hay tiêu
cực ta cần nhìn ROE một cách toàn diện hơn, tức là đặt nó trong mối quan hệ
với ROA. Bởi vì vốn chủ sở hữu là một phần của tổng vốn, hình thành nên tài
sản do đó suất sinh lời của chủ sở hữu phụ thuộc vào suất sinh lời của tài sản.
Điều đó thể hiện qua đẳng thức sau:
SVTH: Lại Ngọc Thạch Trang 17
Tỷ suất lợi nhuận /Vốn chủ sở hữu = ROA x
TTS
VCSH
Khoá Luận Tốt Nghiệp GVHD: Ths Ngô Ngọc Cương
Chương 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN KIỂM ĐỊNH XÂY
DỰNG ĐÔNG DƯƠNG Á
2.1 Giới thiệu khái quát về công ty cổ phần tư vấn kiểm định xây dựng
Đông Dương Á:
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển