Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả trong luận văn đều là trung thực xuất phát từ tình hình
thực tế của đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
Đỗ Thị Phương
SV: Đỗ Thị Phương Lớp:CQ47/11.14
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
BCTC báo cáo tài chính
CSH Chủ sở hữu
DTT Doanh thu thuần
Đvt đơn vị tính
HTK Hàng tồn kho
KPTh khoản phải thu
KPtr khoản phải trả
LN Lợi nhuận
LNST Lợi nhuận sau thuế
Ngđ nghìn đồng
NVDH Nguồn vốn dài hạn
NVNH Nguồn vốn ngắn hạn
TSDH Tài sản dài hạn
TSLĐ Tài sản lưu động
TSNH Tài sản ngắn hạn
VCĐ Vốn cố định
VCSH Vốn chủ sở hữu
VKD Vốn kinh doanh
SV: Đỗ Thị Phương Lớp:CQ47/11.14
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
VẤN XÂY DỰNG MINH VIỆT
2.1 GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN XÂY
DỰNG MINH VIỆT
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty cổ phần tư vấn xây dựng
Minh Việt
2.1.2 Mục tiêu, nội dung hoạt động của công ty cổ phần tư vấn xây dựng Minh
Việt
2.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý
2.1.3.1 Đặc điểm tổ chức quản lý và bộ máy kế toán của công ty
2.1.3.2 Quy trình công nghệ
2.1.3.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh
2.1.4 Những thuận lợi và khó khăn của công ty cổ phần tư vấn xây dựng Minh
Việt
2.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ
VẤN XÂY DỰNG MINH VIỆT
2.2.1 Đánh giá thực trạng tình hình tạo lập và sử dụng vốn
2.2.1.1 Đánh giá tình hình nguồn vốn của công ty
2.2.1.2 Đánh giá tình hình sử dụng vốn của công ty
2.2.1.3 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
2.2.1.4 Đánh giá tình hình công nợ và khả năng thanh toán của công ty
2.2.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
2.2.2.1 Phân tích hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn
2.2.2.2 Phân tích hiệu quả sử dụng từng loại vốn
2.2.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty
SV: Đỗ Thị Phương Lớp:CQ47/11.14
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
2.3 KHÁI QUÁT CHUNG TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN TƯ VẤN XÂY DỰNG MINH VIỆT NĂM 2012
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN
hình kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng thanh toán, hiệu quả sử dụng vốn
và khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Đánh giá tình hình tài chính là việc làm
thường xuyên và vô cùng cần thiết đối với cả doanh nghiệp và các đối tượng bên
ngoài có quan hệ kinh tế và pháp lý với doanh nghiệp.
Xuất phát từ ý nghĩa to lớn của việc phân tích tình hình tài chính và đánh
giá thực trạng tài chính của doanh nghiệp, trong thời gian thực tập tại công ty cổ
phần tư vấn xây dựng Minh Việt, được sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của
thầy giáo TS.Bùi Văn Vần, cùng các cô chú, anh chị phòng kế toán tài chính của
công ty, em đã lựa chọn đề tài:“ Đánh giá thực trạng tài chính của doanh
SV: Đỗ Thị Phương 6 Lớp:CQ47/11.14
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
nghiệp và các giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh tại công ty cổ phần tư vấn xây dựng Minh Việt”
SV: Đỗ Thị Phương 7 Lớp:CQ47/11.14
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
CHƯƠNG 1 : LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
1.1-LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ PHÂN TÍCH
TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP.
1.1.1 Khái quát về tài chính doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất,
cung ứng hàng hóa cho người tiêu dùng qua thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Quá trình hoạt động của doanh nghiệp cũng là quá trình tạo lập, phân phối
và sử dụng quỹ tiền tệ hợp thành hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Trong
quá trình đó làm phát sinh và tạo sự vẫn động của dòng tiền vào, dòng tiền ra gắn
liền với hoạt động đầu tư và hoạt động kinh doanh thường xuyên hàng ngày của
doanh nghiệp.
Xét về hình thức, tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo
lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động doanh nghiệp.
Xét về bản chất, tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình
hình thu chi hàng ngày, các báo cáo tài chính, tình hình thực hiện các chỉ tiêu tài
chính cho phép kiểm soát được tình hình hoạt động của doanh nghiệp.Mặt khác,
cần tiến hành định kỳ phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp
- Thực hiện kế hoạch hóa tài chính: các hoạt động tài chính của doanh nghiệp cần
được dự kiến trước thông qua việc lập kế hoạch tài chính. Có kế hoạch tài chính
tốt thì thì doanh nghiệp mới có thể đưa ra các quyết định tài chính thích hợp
nhằm đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp.
1.1.2 Khái quát về phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là tổng thể các phương pháp được sử
SV: Đỗ Thị Phương 9 Lớp:CQ47/11.14
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
dụng để đánh giá tình hình tài chính đã qua và hiện nay, giúp cho nhà quản lý
đưa ra được quyết định quản lý chuẩn xác và đánh giá được doanh nghiệp, từ đó
giúp những đối tượng quan tâm đi tới những dự đoán chính xác về mặt tài chính
của doanh nghiệp, qua đó có các quyết định phù hợp với lợi ích của chính họ.
Có rất nhiều đối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kinh tế tài chính của
doanh nghiệp và mỗi đối tượng lại quan tâm theo mỗi giác độ khác nhau. Do đó
đối với mỗi đối tượng thì phân tích tài chính doanh nghiêp cũng nhằm các mục
tiêu khác nhau.Cụ thể:
- Đối với nhà quản lý doanh nghiệp:
+ Tạo ra những chu kỳ đều đặn để đánh giá hoạt động quản lý trong giai
đoạn đã qua, việc thực hiện cân bằng tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh
toán…
+ Hướng các quyết định của ban giám đốc theo chiều hướng phù hợp với
tình hình thực tế của doanh nghiệp như quyết định đầu tư, tài trợ, phân phối lợi
nhuận…
+ Phân tích tài chính doanh nghiệp là cơ sở cho những dự đoán tài chính.
+ Phân tích tài chính doanh nghiệp là công cụ để kiểm tra, kiểm soát hoạt
động, quản lý trong doanh nghiệp.
- Đối với các nhà đầu tư: phân tích tài chính doanh nghiệp đối với các nhà
chú ý tới điều kiện so sánh cũng như kỹ thuật so sánh.
* Về điều kiện so sánh:
- Phải có ít nhất hai đại lượng hoặc hai chỉ tiêu so sánh.
- Các đại lượng, chỉ tiêu phải có cùng nội dung kinh tế và phải có cùng
một tiêu chuẩn biểu hiện.
SV: Đỗ Thị Phương 11 Lớp:CQ47/11.14
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
* Về kỹ thuật so sánh:
- So sánh về số tuyệt đối: Là việc xác định chênh lệch giữa trị số của chỉ
tiêu kỳ phân tích với chỉ tiêu kỳ gốc.
- So sánh về số tương đối: Là xác định tỷ lệ phần trăm số tăng (giảm) giữa
số thực tế với kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích.
1.2.1.2 Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài
chính trong các quan hệ tài chính. Sự biến đổi của các tỷ lệ là sự biến đổi các đại
lượng tài chính. Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ yêu cầu cần phải xác định các
ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu.
Thông thường các tỷ lệ tài chính được phân theo nhóm tỷ lệ đặc trưng, bao
gồm: Nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán, nhóm tỷ lệ về cơ cấu vốn, nhóm tỷ lệ
về năng lực hoạt động kinh doanh, nhóm tỷ lệ về khả năng sinh lời. Khi sử dụng
phương pháp này để phân tích cần lưu ý các điểm sau:
- Phải tồn tại ít nhất hai đại lượng( chỉ tiêu) cần phân tích. Các đại lượng này phải
thống nhất về nội dung kinh tế, phương pháp và đơn vị tính.
- Tùy thuộc vào mục đích, đối tượng phân tích mà có các tiêu thức phân tích
1.2.1.3 Phương pháp phân tích mối quan hệ tương tác giữa các hệ số tài chính.
Mức sinh lời của vốn chủ sở hữu của một doanh nghiệp là kết quả tổng
hợp của hàng loạt các biện pháp và quyết định quản lý của doanh nghiệp, để thấy
sự tác động của mối quan hệ giữa việc tổ chức,sử dụng vốn và tổ chức tiêu thụ
sản phẩm tới mức sinh lời của doanh nghiệp người ta đã xây dựng hệ thống các
chỉ tiêu mà trong hệ thống báo cáo tài chính chưa trình bày một cách rõ ràng, cụ
SV: Đỗ Thị Phương 13 Lớp:CQ47/11.14
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
thể, trình bày khái quát đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, nội dung một số
chế độ kế toán được doanh nghiệp lựa chọn để áp dụng, tình hình và lý do biến
động của một số đối tượng tài sản, nguồn vốn quan trọng, phân tích một số chỉ
tiêu tài chính quan trọng và kiến nghị quan trọng của doanh nghiệp…
* Ngoài ra, để phân tích tình hình tài chính kế toán trong doanh nghiệp,
người phân tích còn sử dụng các thông tin phi tài chính không thể thiếu để phân
tích tình hình tài chính doanh nghiệp. Đây là nguồn thông tin bao gồm các thông
tin chung về kinh tế, chính sách thuế, chính sách tiền tệ, đặc điểm ngành, môi
trường pháp lý, hình thức tổ chức của doanh nghiệp, chất lượng nhân sự…
1.3 NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP XÉT TRÊN GÓC
ĐỘ QUẢN TRỊ
1.3.1 Đánh giá tình hình huy động tạo lập và sử dụng vốn
1.3.1.1 Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn
Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn cho phép lắm được tổng
quát diễn biến thay đổi của nguồn vốn và sử dụng vốn, từ đó có thể định hướng
cho việc huy động và sử dụng vốn cho các kỳ tiếp theo. Mỗi sự thay đổi của từng
khoản mục trong bảng cân đối kế toán sẽ được xem xét và phản ánh theo cách:
- Sử dụng vốn tương ứng với tăng tài sản, giảm nguồn vốn.
- Diễn biến nguồng vốn tương ứng với tăng nguồn vốn. giảm tài sản.
Sắp xếp các khoản mục đó dưới hình thức một bảng cân đối, từ đó đánh
giá tổng quát số vốn tăng hay giảm của doanh nghiệp trong kỳ đã được sử dụng
vào mục đích gì và các nguồn phát sinh dẫn đến việc tăng hoặc giảm nguồn đó.
Riêng đối với tài sản có các khoản mục thể hiện băng bút đỏ (số âm) thì khi đưa
vào bảng phân tích sẽ ngược lại nguyên tắc trên.
1.3.1.2 Đánh giá tình hình tạo lập vốn
SV: Đỗ Thị Phương 14 Lớp:CQ47/11.14
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
như từng thời kỳ giai đoạn khác nhau của doanh nghiệp.
+ Hệ số vốn chủ sở hữu:
Vốn chủ sở hữu
Hệ số vốn chủ sở hữu = = 1- Hệ số nợ
Tổng nguồn vốn
Hệ số này phản ánh bình quân trong một đồng vốn kinh doanh doanh
nghiệp đang sử dụng có mấy đồng vốn chủ sở hữu. Hệ số này cao chứng tỏ
doanh nghiệp có khả năng tự chủ cao về mặt tài chính, không bị ràng buộc hay
chịu sức ép nặng của các khoản vay nợ. Tuy nhiên, hệ số này ở mức quá cao mà
không mạnh dạn đi vay vốn sẽ không tận dụng và phát huy được tác dụng của
đòn bẩy tài chính.
1.3.1.3 Đánh giá tình hình phân bổ và sử dụng vốn.
Trên cơ sở nguồn vốn đã huy động được doanh nghiệp sẽ tiến hành phân
bổ vốn vào các khâu tương ứng. Để có nhận xét chính xác về việc sử dụng vốn
của doanh nghiệp trong kỳ có hợp lý không ta cần xem xét vốn trong kỳ đã được
phân bổ vào đâu, tỷ lệ vốn từng khâu là bao nhiêu, nhiều hay ít, tăng hay giảm
giữa các kỳ, tỷ lệ này được coi là hợp lý hay chưa đó chính là mục tiêu của phân
tích đánh giá tình hình sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Để tiến hành những
phân tích đánh giá trên cần tập trung vào những nội dung sau:
-Thứ nhất: Xem xét cơ cấu và sự biến động của tổng tài sản cũng như từng
loại tài sản. Thông qua việc tính toán tỷ trọng của từng loại, so sánh giữa cuối kỳ
và đầu kỳ cả về số tuyệt đối và tương đối. Cần tập trung vào một số loại tài sản
quan trọng như:
Sự biến động tài sản tiền và các khoản tương đương tiền ảnh hưởng đến
SV: Đỗ Thị Phương 16 Lớp:CQ47/11.14
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
khả năng ứng phó đối với các khoản nợ đến hạn.
Sự biến động của hàng tồn kho chịu ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất
kinh doanh, từ khâu dự trữ sản xuất đến khâu bán hàng.
Sự biến động của các khoản phải thu chịu ảnh hưởng của công tác thanh
phải thu không có khả năng thu hồi và các khoản phải trả không có khả năng
thanh toán. Để nhận biết được điều đó cần phân tích tình hình công nợ để thấy
được tính chất hợp lý của các khoản công nợ.
Xét về tổng thể, trong mối quan hệ giữa các khoản công nợ phải thu và
các khoản công nợ phải trả thì nếu các khoản công nợ phải thu lớn hơn thì khi đó
doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn. Ngược lại, nếu công nợ phải thu nhỏ hơn công
nợ phải trả thì doanh nghiệp đang đi chiếm dụng vốn của người khác. Chiếm
dụng và bị chiếm dụng vốn là điều bình thường, song nhất thiết phải xem xét
tính chất hợp lý của từng khoản công nợ để có giải pháp quản lý phù hợp tránh
hiện tượng dây dưa, lòng vòng khó đòi. Để phân tích tình hình công nợ ta thực
hiện việc so sánh giữa các khoản đi chiếm dụng và các khoản bị chiếm dụng cuối
kỳ so với đầu kỳ về cả số tuyệt đối và tương đối.
*Về khả năng thanh toán:
Khả năng thanh toán của doanh nghiệp biểu hiện ở số tiền và tài sản mà
doanh nghiệp hiện có thể trang trải các khoản công nợ của doanh nghiệp. Nó là
một trong những chỉ tiêu đầu tiên được xét tới để đánh giá sự lành mạnh về mặt
tài chính của một doanh nghiệp. Để đánh giá khả năng thanh toán của doanh
nghiệp thông thường người ta sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn (hiện thời)
Tài sản ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn =
SV: Đỗ Thị Phương 18 Lớp:CQ47/11.14
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Tổng nợ ngắn hạn
Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để trang trải
các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số nợ này có giá trị càng cao càng chứng tỏ khả năng
thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng lớn. Tuy nhiên nếu quá cao thì
điều này là không tốt vì nó phản ánh doanh nghiệp đầu tư quá mức vào tài sản
ngắn hạn so với nhu cầu của doanh nghiệp gây lãng phí vốn. Để đánh giá khả
năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp là tốt hoặc xấu thì ngoài việc dựa
cực hơn và ngược lại hệ số thanh toán lãi vay càng thấp thì khả năng thanh toán
lãi nợ vay của doanh nghiệp càng thấp. Tuy nhiên, khả năng thanh toán lãi vay
còn phụ thuộc vào mức độ sử dụng nợ vay ( mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính),
khả năng sinh lời của doanh nghiệp(ROA
E
)…
*Đánh giá chính sách tài trợ của doanh nghiệp:
Nguồn vốn thường xuyên = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn
Hoặc Nguồn vốn thường xuyên = Giá trị tổng tài sản – Nợ ngắn hạn
SV: Đỗ Thị Phương 20 Lớp:CQ47/11.14
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Nếu tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn là điều hợp lý (doanh nghiệp
dùng một phần nợ dài hạn tài trợ cho tài sản ngắn hạn) vì dấu hiệu này thể hiện
doanh nghiệp giữ vững mối quan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn
hạn, sử dụng đúng mục đích nợ ngắn hạn. Đồng thời nó cũng thể hiện sự hợp lý
trong chu chuyển tài sản ngắn hạn và kỳ thanh toán nợ ngắn hạn. Tuy nhiên, khi
dùng nợ dài hạn tài trợ cho tài sản ngắn hạn cần chú ý đến việc lãng phí chi phí
vay nợ dài hạn.
Nếu tài sản ngắn hạn nhỏ hơn nợ ngắn hạn (doanh nghiệp sử dụng một
phần nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn). Mặc dù nợ ngắn hạn có thể
có được là do chiếm dụng hợp pháp hoặc có mức lãi thấp hơn lãi nợ dài hạn
nhưng vì chu kỳ luân chuyển tài sản khác với chu kỳ thanh toán cho nên dễ dẫn
đến vi phạm nguyên tắc tín dụng và đưa đến một hệ quả tài chính xấu hơn.
Nếu tài sản dài hạn lớn hơn nợ dài hạn và phần thiếu hụt được bù đắp từ
vốn chủ sở hữu thì đó là điều hợp lý vì nó thể hiện doanh nghiệp sử dụng đúng
mục đích nợ dài hạn và cả vốn chủ sở hữu. Nếu phần thiếu hụt được bù đắp bởi
nợ ngắn hạn thì là điều bất hợp lý.
1.3.2 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp thể hiện thông qua năng lực tạo ra
giá trị sản xuất doanh thu và khả năng sinh lời của vốn, là vấn đề then chốt gắn
DT thuần
Vòng quay vốn lưu động =
VLĐ bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ VLĐ quay được mấy vòng, có nghĩa là cứ
đầu tư bình quân 1 đồng vốn lưu động sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
SV: Đỗ Thị Phương 22 Lớp:CQ47/11.14
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
thuần. Nếu chỉ tiêu này càng lớn hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao vì
hàng hóa tiêu thụ nhanh, vật tư hàng hóa tồn kho thấp Do đó, doanh nghiệp
cần xem xét kỹ có thể cân nhắc một mức dự trữ vốn lưu động ở các khâu thích
hợp vừa đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh vừa tiết kiệm vốn nhằm
mang lại hiêu quả cao nhất.
+ Kì luân chuyển vốn lưu động:
Số ngày trong kỳ
Kỳ luân chuyển VLĐ =
Số vòng quay vốn lưu động
Chỉ tiêu này phản ánh trung bình một vòng quay VLĐ hết bao nhiêu ngày.
Để đánh giá chi tiết hơn hiệu quả sử dụng VLĐ ta có thể đi sâu phân tích
hiệu quả sử dụng của các bộ phận cấu thành chủ yếu của VLĐ là HTK và các
khoản phải thu:
-Số vòng quay HTK:
HTK là vốn dự trữ hàng hóa cần thiết của doanh nghiệp, Do đó, số vòng
quay HTK là một chỉ tiêu khá quan trọng để đánh giá hiệu suất hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Giá vốn hàng bán
Số vòng quay hàng tồn kho =
HTK bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển
trong kỳ. Chỉ tiêu này càng cao thì việc kinh doanh được đánh giá càng tốt. Nó
phụ thuộc vào mức độ đầu tư vào HTK của doanh nghiệp, tình hình thực hiện kế
tham gia vào sản xuất kinh doanh có thể làm ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
SV: Đỗ Thị Phương 24 Lớp:CQ47/11.14
Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính
Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cố định càng cao. Khi sử
dụng chỉ tiêu này phải kết hợp với tình hình cụ thể của doanh nghiệp mới có thể
đánh giá một cách chính xác được.
1.3.3 Đánh giá khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời vừa là động cơ kinh doanh vừa là cơ sở để mỗi doanh
nghiệp tồn tại và phát triển. Tạo ra, duy trì và gia tăng khả năng sinh lời là mong
muốn của tất cả các chủ thể có lợi ích gắn với doanh nghiệp. Do vậy, thông tin
về khả năng sinh lời là mối quan tâm chủ yếu của hầu hết các chủ thể quản lý có
liên quan đến doanh nghiệp. Để đánh giá khả năng sinh lời người ta thường sử
dụng các chỉ tiêu:
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (hệ số lãi ròng)
Trong quá trình tiến hành những hoạt động kinh tế, doanh nghiệp mong
muốn lấy thu bù chi và có lãi, bằng cách so sánh kết quả với doanh thu thuần, ta
sẽ thấy khả năng sinh lời từ hoạt động của doanh nghiệp. Một cách chung nhất
khả năng sinh lời từ hoạt động được tính bằng tỷ lệ lợi nhuận trên DTT.
LN sau thuế(trước thuế) trong kỳ
Tỷ suất lợi nhuận doanh thu =
(ROS) DTT trong kỳ
Phản ánh trong 1 đồng doanh thu mà doanh nghiệp thực hiện được trong
kỳ có mấy đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này giúp ta đánh giá được khả năng tạo ra lợi
nhuận và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, chỉ tiêu thay đổi có thể do chi
phí hoặc giá bán sản phẩm thay đổi. Nhìn chung, chỉ tiêu này càng cao càng tốt,
nhưng không phải lúc nào giá trị của nó cao cũng là tốt. Nếu nó cao do chi phí
giảm thì tốt nhưng nếu cao do giá bán tăng lên trong bối cảnh thị trường tiêu thụ
không thay đổi thì chưa phải là tốt vì có thể giảm tính cạnh tranh của doanh
nghiệp trong tương lai.
SV: Đỗ Thị Phương 25 Lớp:CQ47/11.14