LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước Việt nam đã và đang trong một thời kỳ đổi mới kinh tế đầy sống
động. Công cuộc đổi mới này được bắt nguồn từ đại hội Đảng lần thứ VI (năm
1986). Đại hội VI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới toàn
diện cho nền kinh tế, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và liên tục đạt được
nhiều thành tựu rực rỡ. Đóng góp vào thành công này có nhiều yếu tố nhưng một
bộ phận vô cùng quan trọng phải kể đến là việc mở rộng và nâng cao hiệu quả
kinh tế đối ngoại.
Xuất nhập khẩu là lĩnh vực cần thiết không thể thiếu đối vối bất kỳ quốc
gia nào.Để tăng trưởng kinh tế nhanh chóng quốc gia cần đẩy mạnh hoạt động
xuất nhập khẩu bởi vì xuất khẩu sẽ thúc đẩy nền kinh tế trong nước còn nhập
khẩu sẽ đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục, có hiệu quả góp phần mở
rộng khả năng sản xuất và tiêu dùng, từng bước ổn định và nâng cao đời sống của
nhân dân.
Việt Nam tuy là một nước giàu tài nguyên nhưng vẫn chưa đảm bảo được
đầy đủ nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất trong nước. Nắm được thực trạng đó
ngay từ ngày đầu thành lập công ty Thương mại dịch vụ nhựa đã rất chú trọng vào
lĩnh vực nhập khẩu nguyên liệu nhựa, hoá chất nhựa. Công ty đã đầu tư rất lớn
vào lĩnh vực này và biến nó thành ngành kinh doanh chủ yếu của công ty nhằm
cung cấp đủ cho nhu cầu của các nhà máy, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm nhựa
trong toàn quốc.
Như vậy, nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu không những có ý nghĩa
quyết định đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu mà còn có ý
nghĩa to lớn về mặt xã hội.
1
Qua nhận thức về mặt lý luận tại trường đại học Kinh tế quốc dân cùng với
thời gian thực tập nghiên cứu tại công ty Thương mại dịch vụ nhựa, được sự
hướng dẫn tận tình của cô giáo Th.s Cao Thuý Xiêm và gợi ý của các cán bộ trong
công ty tôi xin mạnh dạn chọn đề tài: “Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu tại công ty Thương mại dịch vụ
nhựa”.
sản xuất hàng hoá. Hoạt động xuất nhập khẩu là cần thiết vì lý do cơ bản là khai
thác được lợi thế so sánh của nước xuất khẩu và mở rộng khả năng tiêu dùng của
nước nhập khẩu. Nhà kinh tế học người Anh David Ricardo đã chứng minh được
rằng, chuyên môn hoá quốc tế có lợi cho mọi quốc gia và gọi đó là quy luật lợi thế
tương đối hay lý thuyết về lợi thế so sánh. Lý thuyết này khẳng định, mọi nước
đều có lợi khi tham gia vào thương mại quốc tế. Một quốc gia hay các cá nhân có
thể nâng cao mức sống và thu nhập thực tế bằng cách chuyên môn hoá vào sản
3
xuất các hàng hoá mà quốc gia đó có thể sản xuất với hiệu quả sản xuất cao nhất
và xuất khẩu các hàng hoá đó đổi lấy hàng nhập khẩu từ quốc gia, khu vực khác.
Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật thì phạm vi chuyên môn hoá
ngày càng tăng. Chuyên môn hoá quy mô lớn làm cho chi phí sản xuất giảm và
hiệu quả kinh tế theo quy mô sẽ thực hiện. Từ đó nó mở rộng khả năng sản xuất
và tiêu dùng của mỗi quốc gia. Hoạt động nhập khẩu đã cho phép một quốc gia
tiêu dùng các mặt hàng với số lượng nhiều hơn mức có thể tiêu dùng so với danh
giới khả năng sản xuất và tiêu dùng trong nước khi thực hiện chế độ tự cung tự
cấp, không giao lưu buôn bán. Như vậy, hoạt động nhập khẩu làm cho mỗi quốc
gia có nhiều loại hàng hoá hơn, có thể cải thiện cuộc sống trong nước.
Ngoài ra, sự cần thiết của nhập khẩu còn được chứng minh qua việc nó góp
phần phát huy được thị hiếu của dân cư mỗi nước. Các nước có lực lương sản xuất
phát triển, có kỹ thuật công nghệ tiên tiến sẽ sản xuất ra nhiều loại hàng hoá khác
nhau, chất lượng tốt hơn và giá cả rẻ hơn các nước có ít nguồn lực và lực lượng
sản xuất kém phát triển. Nhưng nhu cầu của con người thì không có giới hạn. Chỉ
có thông qua con đường thương mại quốc tế các nước sẽ mua, nhập khẩu những
hàng hoá dịch vụ ở những thị trường có giá rẻ, chất lượng cao và bán, xuất khẩu
hàng hoá, dịch vụ trên thị trường có giá cả đắt. ở đây điều quan trọng hơn cho các
nước là không phải lúc nào cũng nhập khẩu được hàng hoá, dịch vụ giá rẻ và xuất
khẩu được giá đắt mà chính là các nước đã lợi dụng được lợi thế so sánh để trao
đổi quốc tế để sao cho cả hai bên đều có lợi.
Hoạt động nhập khẩu cũng có thể mang vào trong nước những trào lưu
Việt Nam sẽ tham gia vào thị trường cạnh tranh thế giới, điều này đòi hỏi sự năng
động, sáng tạo của từng doanh nghiệp.
5
-Nhập khẩu cũng làm đa dạng hoá mặt hàng, chủng loại, quy cách, mẫu mã
các loại hàng hoá góp phần cải thiện và nâng cao mức sống nhân dân. Nhập khẩu
máy móc thiết bị, đầu tư xây dựng là nơi thu hút hàng triệu lao động, vừa giải
quyết công ăn việc làm, hạn chế tệ nạn xã hội, đẩy mạnh sản xuất kinh doanh.
-Nhập khẩu bổ sung kịp thời những mặt mất cân đối của nền kinh tế, đảm
bảo phát triển nền kinh tế cân đối và ổn định.
-Nhập khẩu phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của mỗi doanh nghiệp,
mỗi tổ chức, mỗi cán bộ tham gia hoạt động nhập khẩu. Nhờ nhập khẩu mà các
luồng thông tin được khai thông, các mối quan hệ được sử dụng tích cực.
-Nhập khẩu tạo sự cạnh tranh của hàng hoá nội và hàng hoá ngoại, tạo ra
động lực cho các nhà sản xuất trong nước buộc phải không ngừng vươn lên để tồn
tại, tạo ra sự phát triển thực chất của sản xuất xã hội và thanh lọc các đơn vị sản
xuất yếu kém.
-Nhập khẩu có vai trò tích cực đến thúc đẩy xuất khẩu. Nhập khẩu giải
quyết tình trạng thiếu nguyên liệu trong nước, tạo đầu vào cho sản xuất. Nhập
khẩu hiện đại hoá công nghệ sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm đảm bảo tiêu
chuẩn quốc tế để xuất khẩu, đồng thời giảm các hao phí, tiết kiệm nguyên vật liệu
đầu vào, giảm giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trong
nước trên thị trường quốc tế.
Để phát huy vai trò của hoạt động nhập khẩu cần:
-Mở rộng sự tham gia của các thành phần kinh tế vào hoạt động dưới sự
quản lý của nhà nước.
-Coi trọng hiệu quả kinh tế xã hội trong hoạt động nhập khẩu, tức là không
chỉ vì mục đích chạy theo lợi nhuận mà bất chấp bỏ qua lợi ích xã hội.
-Đảm bảo nguyên tắc ngoại thương và quan hệ kinh tế với nước ngoài.
Trong hoạt động phải chú ý tạo uy tín không chỉ với các nước trong khu vực mà
với tất cả cácnước trên thế giới trên cơ sở tôn trọng, bình đẳng và cùng có lợi.
3.4. Nhập khẩu đổi hàng:
Nhập khẩu đổi hàng cùng trao đổi bù trừ là hai loại nghiệp vụ chủ yếu của
buôn bán đối lưu. Nó là một hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu, thanh
toán không dùng tiền mà là hàng hoá. ở đây mục đích nhập khẩu hàng hoá không
phải chỉ để thu lãi từ hoạt động nhập mà còn nhằm để xuất được hàng, thu được
lãi từ hoạt động xuất.
3.5. Nhập khẩu tái xuất:
Nhập khẩu tái xuất là hình thức nhập khẩu nhưng không phaỉ để tiêu thụ
trong nước mà để tái xuất sang nước thứ ba nhằm thoả mãn nhu cầu và lợi nhuận.
Những hàng nhập này không được qua chế biến ở nước tái xuất. Doanh nghiệp
nước tái xuất phải tính toán chi phí, ghép mối bạn hàng xuất và nhập để làm sao
cho thu được số tiền lớn hơn chi phí bỏ ra. Như vậy, nhập khẩu tái xuất luôn thu
hút ba bên: bên nhập khẩu, bên tạm nhập tái xuất và bên xuất khẩu. Hàng hoá
không nhất thiết phải chuyển qua nước tái xuất mà có thể chuyển qua nước thứ ba
(nước nhập khẩu). Tiền trả cho nước xuất khẩu do nước tái xuất thu được từ xuất
khẩu sang nước thứ ba. Nhiều khi bên tái xuất còn thu được lợi do thu nhanh trả
chậm.
II. Hiệu quả kinh doanh và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh
1. Hiệu quả kinh doanh
1.1.Khái niệm
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp đều phải xác định cho mình các
mục tiêu hoạt động kinh doanh cụ thể. Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi các doanh
nghiệp phải tự xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh thích hợp. Mục tiêu
8
bao trùm lâu dài của mọi doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận. Để đạt được mục
tiêu này, trước hết mọi doanh nghiệp phải xác định tính toán sao cho sử dụng hiệu
quả các nguồn lực đầu vaò để đạt được lợi nhuận tối đa. Như vậy, hiệu quả kinh tế
của hoạt động sản xuất kinh doanh luôn gắn liền với các yếu tố chi phí đầu vào và
kết quả đạt được. Mọi khái niệm hiệu quả kinh doanh được đưa ra đều chỉ ra mối
liên hệ giữa kết quả đạt được và chi phí đầu vào ở những khía cạnh khác nhau.
này lại không cho thấy được trình độ quản lý, trình độ sử dụng đầu vào của doanh
nghiệp.
Trong khi đó hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực
sản xuất. ở công thức (1) ta thấy khái niệm phạm trù hiệu quả kinh doanh bao gồm
kết quả (đầu ra) và chi phí (nguồn lực đầu vào) để đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Cả hai chỉ tiêu kết quả và chi phí đều được tính bằng cả hai đơn vị hiện vật và giá
trị. Tuy nhiên nếu tính bằng đơn vị hiện vật thì rất khó xác định do tính không
đồng nhất đơn vị đo lường . Vì vậy người ta thường tính hiệu quả theo đơn vị giá
trị mà biểu hiện là tiền tệ .
Như vậy , bản chất của hiệu quả kinh doanh chính là hiệu quả của lao động
xã hội , nó phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh doanh , phản ánh trình độ
sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình kinh doanh để đạt được mục tiêu lợi
nhuận . Đồng thời nó cũng là thước đo trình độ tiết kiệm yếu tố đầu vào, nguồn
lực xã hội . Tiêu chuẩn hiệu quả đặt ra là việc tối đa hoá kết quả hoặc tối thiểu
hoá chi phí dựa trên điều kiện nguồn lực sẵn có.
1.3. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh được coi như là một trong những công cụ để các nhà
quản trị thực hiện chức năng của mình. Việc xem xét và tính toán hiệu quả kinh
doanh không những chỉ cho biết việc sử dụng đạt được ở trình độ nào đó mà còn
cho phép các nhà quản trị phân tích và tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh. Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh có thể
10
được hiểu là tạo ra kết quả cao hơn trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc kết
quả tăng kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng việc sử dụng các nguồn lực đầu vào.
Chúng ta đều biết rằng các nguồn lực xã hội là một phạm trù khan hiếm:
càng ngày người ta càng sử dụng nhiều các nguồn lực sản xuất vào các hoạt động
sản xuất phục vụ các nhu cầu khác nhau của con người. Các nguồn lực sản xuất xã
hội ngày càng giảm thì nhu cầu của con người lại ngày càng đa dạng và tăng lên.
Điều này đòi hỏi các nhà sản xuất, kinh doanh phải biết tận dụng và sử dụng tiết
kiệm tối đa các nguồn lực đầu vào để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất. Để làm
nghiệp bảo toàn và phát triển vốn, hay nói cách khác nó là cơ sở để doanh nghiệp
thực hiện tái sản xuất mở rộng, cải tạo, hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật phục
vụ cho sản xuất kinh doanh góp phần tái sản xuất mở rộng, để cải thiện đời sống
nhân dân, tích luỹ cho ngân sách, tăng uy tín và thế lực của công ty trên thương
trường.
Đối với cá nhân thì nó là động cơ thúc đẩy, kích thích người lao động hăng
say lao động giúp cho năng suất lao động ngày một nâng cao. Qua đó hiệu quả
kinh doanh cũng sẽ được nâng cao.
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao hiệu quả hoạt động nhập khẩu
2.1. Các nhân bên trong doanh nghiệp
2.1.1. Nhân tố lao động
Đây là một trong những nhân tố quan trọng, quyết định đến hiệu quả thực
hiện các nhiệm vụ, công việc của công ty. Nếu công ty có đội ngũ cán bộ có năng
lực, có trình độ chuyên môn cao, nhiệt tình tích cực trong công việc thì sẽ đạt hiệu
quả cao trong kinh doanh.
12
Để có được đội ngũ lao động có trình độ, tinh thần, ý thức trách nhiệm
cao... thì buộc bản thân doanh nghiệp phải chăm lo đến việc đào tạo, bồi dưỡng và
nâng cao trình độ chuyên môn của lực lượng lao động. Bố trí sắp xếp lao động cả
về vật chất, tinh thần. Đó là những nhiệm vụ hàng đầu của mỗi doanh nghiệp để
có thể tạo dựng một đội ngũ lao động có hiệu suất cao.
2.1.2. Vốn kinh doanh
Công ty nếu có nguồn vốn lớn (đặc biệt là nguồn vốn lưu động) sẽ nắm bắt
kịp thời cơ hội kinh doanh, có khả năng kí kết những hợp đồng lớn, tạo sự tin
tưởng với đối tác, tạo sự vững vàng ổn định cho công ty mở rộng hoạt động kinh
doanh. Vì vậy, công ty nên tận dụng mọi khả năng huy động vốn để hoạt động
kinh doanh có hiệu quả.
2.1.3. Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin
Thông tin có vai trò vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Nếu thông tin nhanh chóng, kịp thời, chính xác là cơ sở vững chắc để
ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh. Các nhà sản xuất nước ngoài khi thâm nhập
vào thị trường nội địa cũng trở thành một đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp
trong nước. Họ cạnh tranh bằng giá cả, chất lượng, mẫu mã, uy tín... nhằm thu hút
khách hàng, từ đó tạo ra việc giảm doanh số bán hàng hoá của các doanh nghiệp
trong nước sản xuất một loại mặt hàng như các đối thủ cạnh tranh nước ngoài.
Để đảm bảo cạnh tranh tốt nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh
nghiệp thì ngay từ khâu lựa chọn lĩnh vực kinh doanh, doanh nghiệp nên có hướng
lựa chọn đúng đắn, tránh những ngành kinh doanh có mật độ doanh nghiệp tham
gia quá dầy để giảm bớt tốc độ cạnh tranh trên thị trường.
14
2.2.2. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là phương tiện so sánh về mặt giá trị chi phí sản xuất của
một doanh nghiệp nào đó với giá cả thị trường thế giới. Tỷ giá hối đoái có vai trò
nhất định đối với quá trình trao đổi ngang giá và cùng một loạt các nhân tố khác,
tác động tương quan giữa giá xuất khẩu và giá nhập khẩu tới khả năng cạnh tranh
của công ty.
Trong trường hợp tỷ giá hối đoái giảm xuống, có nghĩa là đồng bản tệ có
giá trị thấp hơn so với đồng ngoại tệ. Nếu không có các yếu tố khác ảnh hưởng sẽ
làm cho hàng nhập khẩu trở nên đắt hơn, bởi vì người nhập khẩu sẽ phải dùng đơn
vị đồng tiền nội tệ hơn để mua cùng một khối lượng hàng hoá nhập khẩu. Việc
giảm tỷ giá hối đoái tác động trực tiếp tới hiệu quả hoạt động nhập khẩu. Bởi vì
với việc tăng chi phí đồng tiền trong nước để mua hàng hoá tiêu dùng hay nguyên
liệu sản xuất ở nước ngoài, các nhà nhập khẩu buộc phải tăng chi phí kinh doanh.
Đây là nguyên nhân làm giảm hiệu quả kinh doanh. Hơn nữa nếu tăng chi phí sẽ
làm giảm cầu trên thị trường và khách hàng sẽ chuyển sang thay thế dùng hàng
khác dẫn tới hàng hoá, nguyên vật liệu sẽ bị ứ đọng, giảm hiệu quả kinh doanh.
Xét về hiệu quả kinh tế xã hội, việc giảm tỷ giá hối đoái sẽ khuyến khích xuất
khẩu do các nhà xuất khẩu sẽ được nhận lãi do đổi ngoại tệ lấy đồng bản tệ bị rẻ
đi, đồng thời có khả năng bán hàng với mức giá thấp hơn giá cả trên thị trường thế
giới. Điều này dẫn đến khuyến khích trong nước tạo việc làm và cải thiện cán cân
mô sản xuất kinh doanh. Hạn ngạch cho biết trước số lượng hàng nhập khẩu để
các doanh nghiệp có thể tự chủ đưa ra các chiến lược kinh doanh cụ thể nhằm
nâng cao hiệu quả kinh doanh.
16
2.2.4. Thuế nhập khẩu:
Có nhiều cách đánh thuế khác nhau như: tính và thu một số tiền nào đó đối
với mỗi đơn vị hàng hoá hoặc tính theo tỷ lệ phần trăm (%) đôí với tổng giá trị
hàng hoá hay là kết hợp cả hai cách đó. Thuế quan nhập khẩu là loại thuế mà
người mua trong nước phải trả cho những hàng hoá nhập khẩu một khoản lớn hơn
mức mà người xuất khẩu nhận được.
Mục đích của việc đánh thuế nhập khẩu là để góp phần vào việc phát triển
và bảo vệ sản xuất, hướng dẫn tiêu dùng trong nước và góp phần tạo nguồn thu
cho ngân sách Nhà nước. Thuế nhập khẩu còn có vai trò quan trọng trong việc bảo
hộ các ngành công nghiệp non trẻ, chưa có khả năng cạnh tranh trên thị trường
quốc tế. Do phải đóng một khoản thuế nhập khẩu nên giá trị của hàng hoá trong
nước cao hơn mức giá nhập khẩu và chính người tiêu dùng trong nước phải gánh
chịu thuế này. Điều này đã đưa đến tình trạng giảm mức cầu của người tiêu dùng
đối với hàng nhập khẩu và hạn chée mức nhập khẩu.
2.2.5. Ảnh hưởng của hệ thống tài chính ngân hàng:
Hiện nay, hệ thống ngân hàng đang ngày càng khẳng định được vai trò của
nó trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt trong các hoạt động ngoại thương. Sự
phát triển nhanh chóng, hiện đại của tài chính ngân hàng có tác dụng rất lớn tới
việc quản lý, cung cấp vốn, thanh toán của doanh nghiệp. Các quan hệ uy tín,
nghiệp vụ thanh toán liên ngân hàng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tham
gia hoạt động xuất nhập khẩu bảo đảm về mặt lợi ích. Đồng thời, do có lòng tin
với ngân hàng mà các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu có thể được ngân
hàng đứng ra bảo lãnh, cho vay với lượng vốn lớn kịp thời, tạo điều kiện cho
doanh nghiệp nắm bắt được những cơ hội làm ăn hấp dẫn.
2.2.6. Ảnh hưởng của hệ thống giao thông vận tải và liên lạc:
17
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chính là mục tiêu cao nhất mà các
doanh nghiệp hướng tơí. Vì vậy, nó đòi hỏi các doanh nghiệp luôn luôn phải nỗ
lực, phấn đấu, phát huy hết khả năng để đạt được mục tiêu đó.
3. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh:
3.1. Nhóm chỉ tiêu tổng hợp:
3.1.1. Chỉ tiêu phản ánh số lượng
-Lợi nhuận
Lợi nhuận là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh
trong một thời kỳ nhất định. Đây là chỉ tiêu cơ bản nhất trong đánh giá hiệu quả
hoạt động kinh doanh.
Lợi nhuận của hoạt động kinh doanh được tính như sau:
LN = TR - TC
Trong đó:
TR : Tổng doanh thu từ hoạt dộng kinh doanh
TC : Tổng chi phí để thực hiện hoạt động kinh doanh
Nếu ta mang lợi nhuận để so sánh với chi phí kinh doanh, doanh thu hay
vốn kinh doanh thì sẽ biết một đồng chi phí bỏ ra thu được bao nhiêu đồng lợi
nhuận.
19
- Chỉ tiêu năng suất lao động:
Chỉ tiêu năng suất biểu hiện trực tiếp hiệu quả sử dụng yếu tố lao động trong
việc thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh. Chỉ tiêu này được tính theo công thức:
T
Q
W
=
Trong đó : W : Năng suất lao động trong thời kỳ
Q : Khối lượng sản xuất trong kỳ
T : Số lượng lao động bình quân trong kỳ hoặc thời gian công
%100
×=
TR
LN
D
R
Trong đó : LN là tổng lợi nhuận trong một thời kỳ nhất định
TR là tổng doanh thu từ hoạt đọng kinh doanh hàng hoá và
dịch vụ trong thời kỳ đó.
Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi
nhuận.
Ví dụ : Giả sử tổng doanh thu từ hoạt động nhập khẩu của công ty trong
một năm là 100 đồng và tổng lợi nhuận thu được từ hoạt động nhập khẩu trong
thời kỳ đó là 3 đồng.
03.0%100
100
3
=×=
R
D
Tức là trong một đồng doanh thu của công ty có 0,03 đồng lợi nhuận
- Tỷ suất lợi nhuận theo vốn:
Đối với đơn vị kinh doanh nhập khẩu thì chủ yếu là vốn lưu động.
Tỷ suất lợi nhuận theo vốn được tính theo công thức:
%100
×=
LD
- Số vòng lưu chuyển vốn lưu động được tính như sau
TR
V
K
LD
=
Trong đó : TR là tổng doanh thu từ hoạt dộng kinh doanh.
VLĐ là tổng số vốn bình quân sử dụng trong một thời kỳ nào đó.
Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ. Nếu số
vòng quay tăng, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại.
- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động ( HĐN )
TR
V
H
LD
DN
=
Hệ số này càng nhỏ, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao, số vốn tiết kiệm
được càng nhiều. Qua chỉ tiêu này ta biết được để có một đồng luân chuyển thì
cần mấy đồng vốn lưu động.
b) Hiệu quả sử dụng lao động
22
Năng suất Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
lao động Tổng số lao động bình quân trong kỳ
Lợi nhuận bình quân Lợi nhuận trong kỳ
tính cho một lao động Tổng số lao động bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh lợi nhuận mà một lao động làm ra trong một kỳ, chỉ
tiêu này càng lớn phản ánh hiệu quả sử dụng lao động càng cao.
421/CNn-TCCB ngày 1/12/1987 đổi tên Công ty tạp phẩm thành Liên hiệp các xí
nghiệp Nhựa và tạp phẩm. Cuối năm 1989, một số đơn vị thành viên chuyển sự
quản lý sang cơ quan chức năng khác, chỉ còn lại Liên hiệp sản xuất- xuất nhập
khẩu Nhựa hoạt động theo Nghị định 27/HĐBT ngày 22/2/1988. Ngày 15/3/1993
Bộ Cộng nhẹ đã ra quyết định chuyển đổi Liên hiệp sản xuất - xuất nhập khẩu
24
Nhựa thành Tổng Công ty Nhựa Việt Nam. Cuối năn 1997, Công ty Thương mại
dịch vụ Nhựa đã chính thức được thành lập trên cơ sở trước đây là chi nhánh phía
Bắc của Tổng Công ty Nhựa Việt Nam.
2.Đặc điểm chủ yếu của công ty
Công ty Thương mại dịch vụ nhựa là doanh nghiệp chuyên kinh doanh các
loại hàng hoá và dịch vụ nhựa, được Nhà nước cấp vốn 100% kinh doanh, có
quyền tự chủ kinh doanh theo phân cấp của Tổng Công ty và tuực hiện các chức
năng cơ bản như một doanh nghiệp thương mại.
2.1. Cơ cấu tổ chức và quản lý hoạt động kinh doanh
Công ty Thương mại dịch vụ Nhựa tiêu biểu cho loại hình doanh nghiệp
vừa và nhỏ với bộ máy gọn nhẹ, đảm bảo phục vụ cho yêu cầu và nhiệm vụ của
Tổng Công ty Nhựa Việt Nam đề ra, tạo lập năng lực hoạt động của công ty, thúc đẩy
kinh doanh phát triển tiết kiệm chi phí và nâng cao hiệu quả kinh tế. Mô hình tổ chức
hoạt động kinh doanh của công ty được xây dựng theo cơ cấu trực tuyến chức năng
Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý:
25
GIÁM ĐỐC
Phòng
h nh à
chính
Phòng
kinh
doanh