LUẬN VĂN: Tiếp tục đổi mới quản lý ngân sách giáo dục - đào tạo ở nước ta hiện nay - Pdf 15


LUẬN VĂN:
Tiếp tục đổi mới quản lý ngân sách
giáo dục - đào tạo ở nước ta hiện nay
Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài

GD-ĐT; Thực trạng công tác điều hành ngân sách GD-ĐT và việc quản lý, sử dụng các
nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước.
Trong khuôn khổ luận văn cao học và đối tượng nghiên cứu trên đây, luận văn
giới hạn trong phạm vi quản lý kế hoạch ngân sách GD-ĐT, các giải pháp chủ yếu để tiếp
tục đổi mới quản lý ngân sách GD-ĐT (không nghiên cứu kế hoạch phát triển GD-ĐT).
Các khía cạnh khác liên quan sẽ được đề cập khi cần thiết.
4. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
+ Mục đích:
Luận văn nghiên cứu làm rõ thêm nội dung quản lý ngân sách giáo dục - đào tạo;
góp phần nâng cao chất lượng GD-ĐT ở nước ta trong điều kiện cơ chế thị trường.
+ Nhiệm vụ của luận văn:
- Hệ thống hóa và làm rõ thêm về lý luận vị trí của sự nghiệp GD-ĐT; Mối quan
hệ giữa GD-ĐT với sự phát triển kinh tế xã hội và nội dung quản lý ngân sách GD-ĐT.
- Phân tích tình hình và thực trạng quản lý ngân sách GD-ĐT ở nước ta, nhất là
những năm trong thời kỳ đổi mới gần đây.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý ngân sách GD-ĐT ở
nước ta hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận để nghiên cứu luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật
lịch sử và các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan
điểm đường lối chính sách tài chính, chính sách giáo dục nước ta.
Cùng với phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử dụng các
phương pháp nghiên cứu là kết hợp nghiên cứu lý thuyết với quan sát đánh giá thực tiễn,
đồng thời sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, hệ thống hóa, phân tích, so sánh từ
đó đề ra các giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới quản lý ngân sách GD-ĐT ở nước ta hiện
nay.
6. Kết cấu của luận văn

Chương 3: phương hướng, giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý
79
ngân sách giáo dục - đào tạo ở nước ta
3.1. Phương hướng tiếp tục đổi mới quản lý ngân sách giáo dục - đào
tạo ở nước ta
79
3.2. Giải pháp chủ yếu tiếp tục đổi mới quản lý ngân sách giáo dục - đào
tạo ở nước ta hiện nay
86
3.3. Các điều kiện để thực hiện có hiệu quả các giải pháp 95

Kết luận
99

danh mục tài liệu tham khảo
102
Chương 1
những vấn đề cơ bản về quản lý ngân sách
ngành giáo dục - đào tạo

1.1. sự nghiệp giáo dục - đào tạo trong phát triển kinh tế - xã hội của đất

phát triển hết sức phong phú cả về lý luận và thực tiễn như một qui luật phát triển của
thời đại. Các nước đang phát triển có thể rút ngắn thời kỳ công nghiệp hóa trên cơ sở đầu
tư phát triển mạnh nguồn lực con người. Sự đầu tư được hiểu trên cả ba mặt: chăm sóc
sức khỏe, nâng cao mức sống và phát triển sự nghiệp GD-ĐT. Trong đó đầu tư cho sự
nghiệp GD-ĐT là đầu tư có hiệu quả nhất.
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở đất nước ta đặt ra mục tiêu là đến năm
2020 về cơ bản sẽ trở thành một nước công nghiệp. Nhân tố quyết định thắng lợi của
công cuộc CNH, HĐH là nguồn lực con người Việt Nam được phát triển về số lượng và
chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao. Vì vậy, muốn đảm bảo tăng trưởng
về kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, củng cố an ninh quốc phòng, giữ vững an ninh
chính trị trước hết phải chăm lo phát triển nguồn lực con người, chuẩn bị lớp người lao
động có những phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai
đoạn mới. Để làm được điều này ngành GD-ĐT phải nhanh chóng đổi mới, phấn đấu đưa
nền giáo dục nước nhà đạt trình độ tiên tiến so với các nước trong khu vực trong vòng
một, hai thập kỷ tới.
1.1.2. Mối quan hệ giữa giáo dục - đào tạo với sự phát triển kinh tế - xã hội
Giáo dục - đào tạo đã và đang trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp, góp
phần không nhỏ vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Nhận thức đúng đắn vai
trò của GD-ĐT đã làm thay đổi thái độ của nhiều quốc gia đối với vấn đề phát triển giáo
dục. Nhiều quốc gia đã nhìn thấy nguy cơ tụt hậu của quốc gia mình, có một phần nguyên
nhân từ sự yếu kém về GD-ĐT. Vì vậy, xu hướng tăng cường phát triển GD-ĐT, coi nó
như một đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội đã trở thành một xu hướng có tính
chất toàn cầu trong giai đoạn hiện nay.
1.1.2.1. Giáo dục - đào tạo là động lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Trong sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, lao động là yếu tố chủ thể
của quá trình sản xuất. trong đó tri thức, kỹ năng của người lao động là yếu tố quyết định
sự phát triển của lực lượng sản xuất, là động lực thúc đẩy sự tiến bộ không ngừng của

định tính và định lượng của dân trí. Mặt định tính của dân trí được thể hiện ở chất lượng
học vấn mà người dân đã đạt được (học vấn đó có phù hợp với trình độ tri thức chung của
thế giới hay không). Mặt định lượng của dân trí được xác định qua các chỉ số như:
 Tỷ lệ người biết chữ so với tổng số dân
 Tỷ lệ thanh niên, nhi đồng dưới 23 tuổi được đi học
 Bình quân số năm học trung bình của một người dân
 Tỷ lệ trẻ 5 tuổi học mẫu giáo trước lúc vào tiểu học
 Tỷ lệ học sinh học trong độ tuổi 6- 11
 Tỷ lệ học sinh trung học các cấp, các ngành ở độ tuổi 11- 16
 Tỷ lệ sinh viên đại học ở độ tuổi 17- 23
Trong các chỉ tiêu trên, chỉ tiêu về tỷ lệ người biết chữ và số năm học trung bình
của một người dân là hai chỉ tiêu quan trọng nhất để xác định mặt định lượng của dân trí
[3].
Nhìn khái quát lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia trong thế kỷ
qua cũng cho thấy vị trí quan trọng hàng đầu của sự nghiệp phát triển GD-ĐT trong phát
triển kinh tế - xã hội.
Ngay những năm 20 của thế kỷ XX, nhà kinh tế học giáo dục lỗi lạc người Nga -
X.G.Strumilin đã rút ra kết luận quan trọng: Đầu tư cho giáo dục để phát triển nhân lực 1
đồng sẽ đem lại khả năng sinh lời 4 đồng cho nền kinh tế. Những năm 60 của thế kỷ XX,
một nhà kinh tế học giáo dục người Mỹ cùng cộng sự của mình nghiên cứu và đi tới kết
luận: Trong hai nguồn vốn cơ bản cho phát triển, cho công nghiệp hóa thì "Vốn người"-
Human Capital giữ vai trò quyết định so với "vốn vật chất"- Material Capital.
Thế giới hiện đại ngày nay cũng cung cấp nhiều bằng chứng thuyết phục: Không
có quốc gia nào phát triển cao mà trình độ nhân lực, học vấn dân tộc thấp. Tương tự,
không có quốc gia nào có trình độ nhân lực thấp kém lại phát triển cao. Cạnh tranh quốc
tế ngày nay thực chất là cạnh tranh về khoa học - công nghệ, cạnh tranh về nguồn nhân
lực có trình độ cao, mà khoa học - công nghệ và trình độ nhân lực lại phụ thuộc vào sự

Như vậy, để phát triển giáo dục, cần tạo ra mối quan hệ, liên hệ chặt chẽ giữa Đảng, Nhà
nước với giáo dục.
Tóm lại, giáo dục và kinh tế xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau.
Giáo dục là động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, nhưng muốn phát triển giáo
dục, cần phải có sự đảm bảo các điều kiện từ phía kinh tế - xã hội, một trong những
điều kiện đó là sự đầu tư của kinh tế - xã hội cho giáo dục.
1.1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục - đào tạo
Dân tộc ta có truyền thống văn hóa lâu đời, đó là truyền thống hiếu học, tôn sư
trọng đạo. Cổ nhân xưa vẫn thường dạy: "ấu bất học, Lão hà vi", điều này có thể nói rằng
không học hành thì chẳng thể làm được việc gì. Ngay từ sau Cách mạng tháng 8 năm
1945, thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì
lợi ích trăm năm trồng người", Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm tới GD-ĐT, đã
có nhiều chủ trương, biện pháp thúc đẩy ngành GD-ĐT phát triển, góp phần vào sự
nghiệp kháng chiến và xây dựng đất nước của dân tộc ta. Tư tưởng chỉ đạo của Đảng và
Nhà nước được thể chế bằng các văn bản có hiệu lực pháp lý cao như Hiến pháp 1946,
Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 và đặc biệt Hiến pháp 1992 đã ghi rõ: "Giáo dục và Đào
tạo được xác định là quốc sách hàng đầu" (Điều 35). Đến Hội nghị Ban chấp hành Trung
ương Đảng lần thứ 4 (khóa VII) năm 1993 đã ra Nghị quyết về "Tiếp tục đổi mới sự
nghiệp giáo dục - đào tạo" với bốn quan điểm:
- Giáo dục và đào tạo là quốc sách, là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản đảm
bảo việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước, phải coi
đầu tư cho giáo dục là hướng chính của đầu tư phát triển
- Mục tiêu giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài,
đào tạo những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp Mở
rộng qui mô đào tạo, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục, gắn học
với hành, tài với đức.
- Giáo dục - đào tạo gắn với yêu cầu phát triển đất nước và phù hợp với xu thế

- Các trường công lập phải giữ vai trò nòng cốt đi đôi với đa dạng hóa các loại
hình GD-ĐT.
- Thực hiện công bằng xã hội trong GD-ĐT
Nhận thức rõ vai trò của sự nghiệp GD-ĐT trong giai doạn hiện nay và để tăng
cường hiệu lực quản lý Nhà nước đối với sự nghiệp GD-ĐT, Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X (kỳ họp thứ 4) đã thông qua Luật giáo dục ngày
2/12/1998, có hiệu lực kể từ ngày 1/6/1999. Đây là văn kiện pháp lý hết sức quan trọng
liên quan tới mọi khía cạnh của lĩnh vực GD-ĐT, có tác động to lớn tới toàn xã hội, mọi
người dân Việt Nam
Quan điểm GD-ĐT là quốc sách hàng đầu đã được Đảng và Nhà nước ta khẳng
định từ nhiều năm qua. Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX tiếp tục khẳng định
GD-ĐT là quốc sách hàng đầu, phát triển GD-ĐT là một động lực quan trọng thúc đẩy sự
nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát
triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Nghị quyết Đại hội IX cũng đã chỉ ra
phương hướng phát triển GD-ĐT trong những năm tới là:
- Tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và
học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện "chuẩn hóa, hiện đại
hóa, xã hội hóa"
- Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao
năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề. Thực hiện phương châm "học đi đôi
với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với đời sống xã
hội".
- Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng hình thức chính qui và
không chính qui, thực hiện "giáo dục cho mọi người", "cả nước trở thành một xã hội học
tập".
Trong những năm tới quan điểm này cần phải được quán triệt sâu sắc hơn, phải
coi là kim chỉ nam xuyên suốt quá trình chỉ đạo, quản lý hoạt động giáo dục - đào tạo

tập trung vốn để đầu tư phát triển kinh tế và thỏa mãn các nhu cầu chung của Nhà nước,
của xã hội và cá nhân.
* Chức năng giám đốc là thuộc tính khách quan vốn có của tài chính, bắt nguồn
từ bản chất của tài chính. Chức năng giám đốc của tài chính bao gồm nhiều khía cạnh,
trong đó chủ yếu là quá trình kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tài chính nhằm làm tốt
toàn bộ quá trình phân phối GNP.
Để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình, Nhà nước cần nắm được một
lượng của cải vật chất nhất định được hình thành chủ yếu từ các nguồn thu mà các tổ
chức dân cư có nghĩa vụ phải nộp cho Nhà nước theo qui định của pháp luật. Từ các
nguồn thu đó mà quĩ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước được hình thành và nó được
gọi là quỹ ngân sách - đó là cơ sở vật chất đảm bảo cho Nhà nước tồn tại và hoạt động.
"Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước trong dự toán đã được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm
bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước".
Đối với GD-ĐT, tài chính có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của
hệ thống, nó vừa là phương tiện để hệ thống GD-ĐT duy trì và phát triển các hoạt động của
mình, vừa là công cụ để nhà nước và các cơ sở GD-ĐT thực hiện các chính sách, các mục
tiêu đã định.
Nước ta đang trong quá trình đổi mới theo hướng xây dựng nền kinh tế nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Đối với GD-ĐT vai trò của nguồn tài chính tập trung của nhà nước
(ngân sách nhà nước) có ý nghĩa quyết định và chủ đạo. Tính chất này thể hiện ở các mặt
sau đây:
- Ngân sách nhà nước (NSNN) là nguồn tài chính chủ yếu đảm bảo hoạt động
cho các cơ sở giáo dục và đào tạo, nhằm duy trì và phát triển hệ thống giáo dục đào tạo
theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
- Đầu tư từ nguồn NSNN để xây dựng cơ sở vật chất trường lớp, mua sắm trang

Trong những năm qua, chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục đào tạo có xu hướng
tăng lên, nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển ngành giáo dục đào tạo.
Chính vì vậy cần phải tích cực huy động các nguồn lực tài chính ngoài NSNN. Vai trò
của nguồn ngoài NSNN đầu tư cho giáo dục đào tạo thể hiện trên các mặt sau đây:
- Tăng nguồn đầu tư cho sự nghiệp GD-ĐT để nâng cấp cơ sở vật chất, cải thiện
đời sống cán bộ giáo viên nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo
- Khai thác các tiềm năng, sự đóng góp của các thành phần kinh tế, của cộng
đồng xã hội, trong khi nguồn NSNN còn hạn hẹp
- Tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục đào tạo chủ động hơn trong việc huy động
và sử dụng có hiệu quả sự đóng góp của cộng đồng xã hội
Các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục - đào tạo bao
gồm:
- Tiền học phí, lệ phí tuyển sinh, tiền đóng góp xây dựng trường sở của học sinh
và gia đình người học. Đây là nguồn thu tương đối ổn định theo chế độ chính sách qui
định của nhà nước. Cùng với nguồn NSNN, học phí và các khoản lệ phí có thể xác định
được căn cứ vào số lượng người học và mức thu theo qui định có phân biệt đối với từng
đối tượng, vùng miền và bậc học. Nguồn thu này có thể kế hoạch hóa được trong dự
toán thu chi ngân sách toàn ngành.
- Nguồn thu từ tài trợ của các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước, bằng tiền,
hiện vật hoặc công lao động. Đây là nguồn thu không thường xuyên nhưng là nguồn đóng
góp không nhỏ đối với đầu tư cho GD-ĐT.
- Nguồn thu từ các hợp đồng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ cho
các ngành kinh tế, thu từ các hợp đồng liên kết đào tạo.
1.2.2. Nội dung quản lý ngân sách giáo dục - đào tạo
Ngân sách nhà nước là bản tổng hợp các khoản thu chi bằng tiền của Nhà nước
cho một khoảng thời gian nhất định nào đó, thường là một năm. Có thể nói, năm được
dùng làm đơn vị thời gian chuẩn cho hoạt động của NSNN. ở hầu hết các nước trên thế

ngân sách sau 1 năm, rút ra những bài học bổ ích cho công tác lập ngân sách và chấp
hành ngân sách cho những chu trình tiếp theo.
Quản lý ngân sách GD-ĐT có những đặc điểm chính sau đây:
- Hầu hết các đơn vị thuộc ngành GD-ĐT được coi là các đơn vị hành chính sự
nghiệp. Đó là các đơn vị được trang trải mọi khoản chi phí để thực hiện nhiệm vụ chính
trị của mình từ nguồn NSNN theo nguyên tắc không
bồi hoàn một cách trực tiếp. Quản lý ngân sách GD-ĐT chủ yếu là quản lý
các nguồn kinh phí từ NSNN cấp hàng năm (các nguồn thu khác chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ).
- Kế hoạch NSNN giao hàng năm cho ngành GD-ĐT được tính theo năm tài chính
(năm dương lịch), nhưng khi tính toán để xây dựng dự toán ngân sách, phân bổ, điều hành
ngân sách lại phải tính đến năm học.
- Ngành GD-ĐT bao gồm nhiều bậc học, nhiều loại hình trường lớp (công lập,
bán công, dân lập, tư thục), nhiều loại hình đào tạo (chính qui, tại chức, đào tạo không
chính qui) với các cấp độ quản lý khác nhau, mức chi khác nhau. Đặc điểm này gây nhiều
khó khăn đối với công tác quản lý ngân sách GD-ĐT.
- Xã hội hóa GD-ĐT ngày càng mở rộng, ngoài nguồn thu chủ yếu từ ngân sách
nhà nước cấp hàng năm, các cơ sở GD-ĐT còn các nguồn thu khác từ học sinh, từ cộng
đồng xã hội, từ các tổ chức quốc tế đòi hỏi công tác quản lý ngân sách GD-ĐT phải kế
hoạch hóa được các nguồn thu khác, sử dụng một cách có hiệu quả đúng pháp luật.
Chi NSNN cho giáo dục và đào tạo bao gồm hai bộ phận:
- Chi cho giáo dục (Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông).
- Chi cho đào tạo (Dạy nghề, THCN, Cao đẳng, Đại học, Sau đại học).
Luật Ngân sách nhà nước đã phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách
trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương như sau:
- NSTW đảm nhận những nhiệm vụ chi cho các trường Đại học quốc gia, các
trường Đại học vùng, các trường Đại học, Cao đẳng trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo
và trực thuộc các Bộ ngành khác.

kỹ thuật, trường dạy nghề.
+ Chi đào tạo đại học tại chức, đào tạo sơ cấp ngắn hạn.
+ Chi cho trung tâm lao động hướng nghiệp dạy nghề.
+ Chi cho trung tâm giáo dục thường xuyên, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh.
+ Chi các trường dân tộc nội trú do tỉnh trực tiếp quản lý.
+ Chi cho các trường phổ thông (Tiểu học, THCS, THPT) và BTVH.
+ Chi cho nhà trẻ, mẫu giáo.
* Chi đầu tư và chi chương trình mục tiêu:
+ Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất các trường đại học, cao đẳng, THCN, phổ
thông, dạy nghề do tỉnh quản lý.
+ Đầu tư hỗ trợ cho các trường dân lập, bán công.
+ Đầu tư nhằm thực hiện các chương trình mục tiêu của tỉnh về GD-ĐT.
Việc phân định rõ ràng các khoản chi về GD-ĐT cho các cấp ngân sách có ý nghĩa
hết sức quan trọng nhằm tạo ra một trật tự, thứ tự ưu tiên đầu tư NSNN (gồm cả NSTW và
NSĐP) cho sự nghiệp GD-ĐT. Do tính chất phức tạp của chi đầu tư xây dựng cơ bản, nên
trong khuôn khổ luận văn này chỉ đi sâu phân tích chi thường xuyên và chi chương trình
mục tiêu.
1.2.3. Yêu cầu khách quan phải tiếp tục đổi mới quản lý ngân sách giáo dục -
đào tạo
Hòa chung trong không khí đổi mới của đất nước, toàn ngành GD-ĐT đang nỗ
lực phấn đấu, quyết tâm đổi mới, khắc phục những yếu kém về chất lượng và hiệu quả
đào tạo, từng bước đầu tư tăng cường cơ sở vật chất trường học, tăng cường công tác
quản lý giáo dục, quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
- Với đường lối phát triển kinh tế hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước đó
là phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Ngành giáo dục - đào tạo chủ trương

trình độ dân trí, yêu cầu cải cách giáo dục Bảng dưới đây cho thấy mức độ đầu tư cho
GD-ĐT ở một số nước trên thế giới qua số liệu công bố của UNDP:
Bảng 1.2: Đầu tư cho GD-ĐT ở một số quốc gia
Các nướcDân
số
(triệu
ngư
ời)
1998

GNP
(Tỷ
USD)
1998

GNP/đầ
u người
(USD)
1998
Tỷ lệ chi
công cộng
cho GD-ĐT
trong GNP
(%) 1995-
1997
Tổng chi
công cộng

còn hết sức nhỏ bé.
- Hàn Quốc
Ngay từ cuối thập kỷ 60, Hàn Quốc đã xác định phương châm: "Giáo dục - đào
tạo là chìa khóa mở cửa tiến vào tương lai" nên đất nước này đã thi hành một loạt các
biện pháp và chính sách có hiệu lực để thúc đẩy giáo dục- đào tạo, đẩy nhanh tốc độ ứng
dụng khoa học kỹ thuật và bồi dưỡng nhân tài. Chính vì vậy, nền kinh tế liên tục tăng
trưởng với tốc độ cao, thu nhập bình quân đầu người khá.
Để đạt được những thành quả về tăng trưởng kinh tế, một trong những biện pháp
được Chính phủ sử dụng là cải cách hệ thống giáo dục, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật, bồi dưỡng nhân tài phát triển các ngành sản xuất với khoa học kỹ thuật cao, do đó
họ không ngừng tăng đầu tư cho giáo dục và nghiên cứu khoa học. Từ giữa thập kỷ 60,
trong nhiều năm liền tốc độ tăng của ngân sách giáo dục đã vượt quá tốc độ tăng của
GDP. Căn cứ vào thống kê của Ngân hàng thế giới, tỷ lệ kinh phí giáo dục trong tổng chi
ngân sách của Chính phủ Hàn Quốc năm 1985 đứng ở vị trí 11 trong số 91 nước và khu
vực mà Ngân hàng thế giới đã tiến hành điều tra [29, 25].
Việc lập kế hoạch cấp phát NSNN cho GD-ĐT theo một quy trình khá chặt chẽ,
được tính toán chi tiết trên cơ sở cân đối tất cả nguồn thu và các khoản chi. Bộ Tài chính
và Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm lập kế hoạch chi và giám sát tài chính đối với mọi nội
dung đầu tư của giáo dục - đào tạo. Thông thường Bộ Tài chính ra một văn kiện quan
trọng, trong đó nêu ra các mục tiêu giới hạn, thứ tự ưu tiên dựa trên chiến lược phát triển
giáo dục - đào tạo, đồng thời đưa ra các giải pháp làm tăng nguồn lực Chấp hành ngân
sách có sự hợp tác của nhiều cơ quan và các cấp chính quyền. Việc cấp phát kinh phí
cũng được thực hiện ở cơ quan ngân khố thuộc ngân hàng Chính phủ.
Việc quản lý ngân sách giáo dục được thực hiện bằng một cơ quan giám sát và
kiểm tra của Chính phủ với các công cụ pháp lý khá đầy đủ là các đạo luật. Ngày
1/12/1980, Quốc hội Hàn quốc đã thông qua đạo luật là Luật thuế giáo dục, theo luật định
thì phải tiến hành thu thuế để đảm bảo cung cấp cho nhu cầu của kinh phí giáo dục- đào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status