LUẬN VĂN: Phát triển kinh tế nông nghiệp
ở tỉnh Kiên Giang
mở đầu
tác động vào thiên nhiên không đúng quy luật đã ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng
trưởng kinh tế- xã hội trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, đặc biệt là khu vực nông nghiệp.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên và qua những kết quả cũng như kinh nghiệm
thực hiện nhiều dự án cho thấy việc điều tra, nghiên cứu cơ sở khoa học của những thành
tựu cũng như tồn tại trong khai thác, sản xuất nông nghiệp, tài nguyên, môi trường của
tỉnh Kiên Giang là rất cần thiết, nhằm cung cấp những luận cứ khoa học, để định hướng
quy hoạch và phát triển vùng nông nghiệp, nông thôn một cách bền vững.
Đồng thời, phát triển kinh tế nông nghiệp là nhằm ổn định và phát triển kinh tế -
xã hội đất nước nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng, khắc phục sự cách biệt giữa
thành thị và nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo. Trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nền kinh tế phát triển rất nhanh, nếu chỉ chú trọng phát triển kinh tế ở thành
thị thì sự phân hóa giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn diễn ra rất nhanh, khoảng cách
về mức sống ngày càng lớn, tạo ra sự bất ổn cả về kinh tế lẫn xã hội.
Kinh tế nông nghiệp là một lãnh vực sản xuất ra những sản phẩm tất yếu cho xã
hội, mà khu vực thành thị không thay thế được, chẳng hạn như lương thực, thực phẩm,
nguyên liệu nông nghiệp
Phát triển kinh tế nông nghiệp là cần thiết vì nó là nơi vừa cung cấp nguyên liệu,
vừa là thị trường cho phát triển công nghiệp thành thị.
Phát triển kinh tế nông nghiệp còn nhằm giải quyết việc làm, hạn chế làn sóng di
dân ra các đô thị, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái
Nói chung, phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Kiên Giang là một
vấn đề cấp thiết, nổi lên hàng đầu, là một chiến lược lớn nhằm phát triển kinh tế - xã hội
trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thực hiện tốt Nghị quyết 06/NQ-TW của
Bộ Chính trị về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn.
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài "Phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh
Kiên Giang" làm luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu
trình đổi mới đất nước. Địa bàn nghiên cứu: tỉnh Kiên Giang.
5. Những đóng góp mới về khoa học
Trên cơ sở vận dụng lý luận chung vào việc phân tích tình hình cụ thể ở một lĩnh
vực địa phương, để từ đó nhận định, đánh giá và đề xuất những định hướng, giải pháp có
tính khả thi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp, trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
6. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
6.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin và
những công trình nghiên cứu khoa học có nội dung gần gũi với đề tài làm cơ sở lý luận,
đặc biệt là Nghị quyết 06/NQ-TW ngày 10 tháng 11 năm 1998 của Bộ Chính trị về một
số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn.
6.2. Phương pháp nghiên cứu
Vận dụng những phương pháp chung của kinh tế chính trị, phương pháp khảo sát
thực tế, phân tích, tổng hợp, so sánh, để rút ra kết luận.
6.3. ý nghĩa của luận văn
Luận văn nhằm đóng góp những cơ sở khoa học về đánh giá tình hình, rút ra
nguyên nhân, đề xuất những định hướng và giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp ở
tỉnh Kiên Giang, để hoạch định các chính sách và phương pháp tổ chức, quản lý của Nhà
nước đối với lĩnh vực này tốt hơn.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1
VAI Trò Của kinh tế NÔNG Nghiệp
Đối Với Phát Triển KINH Tế -Xã Hội ở Tỉnh KIÊN GIANG
1.1. Nhận thức lý luận thực tiễn về kinh tế nông nghiệp và vai trò của Kinh tế
nông nghiệp
nuôi bao gồm việc nuôi súc vật lớn có sừng, cừu, lợn, gia cầm
Trong nông nghiệp ruộng đất là một trong những tư liệu sản xuất chủ yếu. Đặc
điểm của ruộng đất với tư cách tư liệu sản xuất là: nếu sử dụng ruộng đất đúng đắn, thì độ
phì của đất không bị cạn kiệt, mà tăng lên. Đặc trưng cho nông nghiệp là tính chất thời vụ
của những công việc quan trọng nhất về sản xuất, sản phẩm, là sự tách rời khá lớn giữa
thời gian sản xuất và thời kỳ làm việc do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp tạo nên.
Nông nghiệp truyền thống Việt Nam là một nền nông nghiệp thâm canh lúa nước
và trồng màu, nay đã phân chia thành nhiều ngành sản xuất. Từ Cách mạng tháng Tám
năm 1945 đến nay, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những tiến bộ quan trọng: sản
xuất nông nghiệp trở nên phong phú và đa dạng, phát huy được tiềm năng của các vùng
tự nhiên đồng bằng, trung du, miền núi, bộ giống cây (nhất là lúa và giống cây lương
thực) và vật nuôi được cải biến; hệ thống thủy lợi phát triển; phân bón và thuốc trừ sâu
được cung cấp tương đối đầy đủ. Sản lượng và năng suất trồng trọt và chăn nuôi đều tăng
rõ rệt.
- Khái niệm kinh tế nông nghiệp: Kinh tế nông nghiệp là một ngành kinh tế của
quốc dân có chức năng phân tích ảnh hưởng của các quy luật kinh tế trong nông nghiệp,
áp dụng những thành tựu kinh tế vào thực tế lãnh đạo các cơ sở nông nghiệp, tạo điều
kiện phát triển lực lượng sản xuất.
Kinh tế nông nghiệp còn là một môn khoa học nghiên cứu những vấn đề kinh tế
của sản xuất nông nghiệp: mối quan hệ giữa người và người, tác động và sự vận dụng cụ
thể các quy luật kinh tế về sản xuất và phân phối sản phẩm trong nội bộ ngành nông
nghiệp.
Kinh tế nông nghiệp theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp: Nông nghiệp theo nghĩa rộng
(bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp) theo nghĩa hẹp nó là một ngành trực tiếp trồng
trọt lương thực, chăn nuôi. ở luận văn này nông nghiệp được nghiên cứu theo nghĩa rộng
của nó.
1.1.2. Vấn đề nông nghiệp trong một số lý thuyết kinh tế
Lý luận về địa tô của Mác là một chỉ dẫn về một nền nông nghiệp phát triển không chỉ
tăng quy mô diện tích mà bằng thâm canh cao. Tư bản kinh doanh trong lĩnh vực nông
nghiệp, đã biến hầu hết nông phẩm thành những thương phẩm trong trao đổi hàng hóa đạt
đến nền nông nghiệp của kinh tế thị trường.
- Học thuyết kinh tế của V.I.Lênin
Lênin là người kế thừa học thuyết Mác và phát triển trong điều kiện lịch sử mới.
- Trong tác phẩm "Chủ nghĩa tư bản phát triển ở Nga" phân tích sự giải thể của
công xã nông thôn dẫn đến một sự phân hóa và phân tầng xã hội của nông thôn, tới sự
mở rộng sản xuất hàng hóa và do đó tới chủ nghĩa tư bản.
Tư tưởng cơ bản của Lênin ở đây là nhấn mạnh tới tầm quan trọng của sự giải thể
nền sản xuất truyền thống và sản xuất hàng hóa là con đường dẫn đến phát triển. Ông còn
nhấn mạnh đến sự xuất hiện một thứ chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp tức là phát triển
một nền nông nghiệp thương phẩm.
- Sau Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại, đất nước Xô viết bắt tay vào xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Nhưng nội chiến lại xảy ra. Chính sách "Cộng sản thời chiến" được
thực thi trong thời gian này, đặc điểm nổi bật là dùng chính sách "trưng thu lương thực".
Nội chiến kết thúc nước Nga rơi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng
đặc biệt là ngành nông nghiệp bị giảm sút rất nhiều so với trước chiến tranh. Là người rất
nhạy cảm về chính trị và kinh tế, đã sớm nhận ra sự suy sụp không tránh khỏi của nền
kinh tế nếu cứ duy trì "chính sách cộng sản thời chiến". Mùa xuân 1921 Người đã đề ra
"chính sách kinh tế mới" hay mô hình NEP như một chiến lược quá độ dần dần sang chủ
nghĩa xã hội.
+ Về tư tưởng: Nhanh chóng khắc phục sự khủng hoảng kinh tế và chính trị của
nước Nga lúc này. Khơi dậy tính năng động trong nông nghiệp và nông dân sau đó đến
tiểu thủ công nghiệp và các ngành kinh tế khác qua động lực lợi ích kinh tế, chuyển chế
độ trưng thu lương thực sang chế độ thuế lương thực.
+ Về biện pháp:
Nhà nước vào nền kinh tế. Những biện pháp can thiệp của Nhà nước làm cho cơ chế linh
hoạt vốn có của thị trường bị sơ cứng. Sự phục hồi của trường phái tự do kinh doanh,
trường phái thể chế đã phê phán mạnh mẽ lý thuyết của Keynes và giúp cho chủ nghĩa tư
bản thích ứng với bước phát triển mới của nó. ở đây chúng ta lưu ý tới trường phái thể
chế mới vì đối tượng nghiên cứu của nó khác hẳn các trường phái lý thuyết kinh tế tư bản
khác. Trường phái này đưa yếu tố "thể chế ", yếu tố "kết cấu" vào trong quá trình phân
tích xã hội tư bản. Trường phái này cho rằng hệ thống kinh tế chỉ là một bộ phận của tổng
hợp nhiều thể chế trong nền văn hóa của con người, do đó nghiên cứu giải quyết vấn đề
phát triển phải nghiên cứu cả tổng thể thể chế xã hội. Vai trò của Nhà nước trong đời
sống kinh tế là kế hoạch hóa, kiểm soát nền kinh tế bằng các chính sách để khắc phục
những khuyết tật của thị trường.
Như vậy kinh tế học hiện đại không trực tiếp đề cập tới vấn đề nông nghiệp trong
phát triển kinh tế nhưng trong các luận điểm của nó đã chỉ ra cách thức để phát triển đó là
nền kinh tế thị trường có sự can thiệp của Nhà nước ở một mức độ nhất định. Việc
chuyển sang kinh tế thị trường ở những nước kinh tế kém phát triển, trong đó nông
nghiệp là nền tảng thì vai trò của Nhà nước đặc biệt quan trọng. Những thay đổi thể chế
trong lĩnh vực nông nghiệp là hết sức cần thiết để gạt bỏ những vật cản bám rễ sâu trong
các xã hội này. Thực tiễn lịch sử cho thấy những bài học thành công trong việc chuyển
nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển trở thành các nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa
chính là từ những bước khởi đầu của sự thay đổi chính sách đối với nông nghiệp.
Tóm lại: Trên đây là những tư tưởng cơ bản của các lý thuyết kinh tế. Các lý
thuyết kinh tế kể trên có những quan điểm khác nhau về vai trò của nông nghiệp trong
phát triển kinh tế:
- Hầu hết các quan điểm đều cho rằng kinh tế nông nghiệp có vai trò quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế, do đó muốn phát triển kinh tế xã hội cần phải chú ý tới
phát triển kinh tế nông nghiệp.
Trong số những lý thuyết đó còn có thuyết phân tích sâu hơn: cách làm thế nào
giữa kinh tế với chính trị ở nông thôn, giữa công nghiệp với nông nghiệp.
- Lần thứ nhất, với chính sách "hy sinh" nông nghiệp (kèm giá nông sản thấp hơn
giá thành) để thực hiện công nghiệp hóa, làm cho mức sống nông thôn giảm sút, nên đã
gây ra làn sóng di dân từ nông thôn ra thành thị (khoảng 1,3 triệu người) từ 1955-1960.
Bối cảnh đó đã là nhân tố đưa đến cuộc đảo chính quân sự của Pắc Chung Hy (5-1961).
Chính quyền mới đã thi hành nhiều chính sách có lợi cho nông nghiệp nông thôn, chủ
yếu là về tài chính tín dụng, nên đã ổn định nông nghiệp nông thôn và tạo ra thị trường
nội địa rộng lớn cho công nghiệp hóa, cải thiện đời sống cho hàng chục triệu nông dân.
- Lần thứ hai, khi chuyển hướng thực hiện chiến lược công nghiệp hóa hướng về
xuất khẩu, chính quyền thực hiện trả lương thấp cho công nhân và trở lại kìm giá nông
sản, hạ thấp mức sống của nông dân nông thôn. Vì vậy, một làn sóng mới chừng 1,4 triệu
cư dân nông thôn lại đổ ra thành thị, gây nhiều khó khăn cho đô thị. Bối cảnh đó đã thúc
đẩy một cuộc nổi dậy tự phát của dân chúng vào tháng 8-1971.
Do sức ép bên trong và bên ngoài (quan hệ Nam - Bắc Triều Tiên) Chính phủ
buộc phải trở lại vấn đề nông nghiệp nông thôn với "Chương trình phát triển nông thôn"
gồm bốn nội dung chính:
+ Tăng vốn vay cho nông dân (từ 1,3 tỷ Won năm 1969 lên 78 tỷ Won năm
1974;
+ Mua ngũ cốc với giá cao ở nông thôn và bán giá hạ cho thành thị;
+ Thay giống lúa cũ bằng giống lúa mới năng suất cao;
+ Khuyến khích xây dựng hợp tác xã sản xuất và đội lao động sửa chữa đường
xá, cầu cống, nhà ở.
Chính sách này có những kết quả tích cực, nhưng sau đó đã bộc lộ nhược điểm
trợ giá mua lúa gạo cao đã gây ra thâm hụt ngân sách lớn, xây dựng hợp tác xã và đội lao
động theo mệnh lệnh hành chính khiến nông dân bất mãn. Đó là bối cảnh gây ra tình hình
chính trị - xã hội căng thẳng, đưa đến cuộc đảo chính quân sự của Chun Đô Hoan vào 12-
1979. Tiếp đó, chịu sức ép của chính sách ngoại thương với Mỹ, đã làm cho nông nghiệp
Như vậy bài học của Thái Lan cũng xoay quanh mối quan hệ nông nghiệp với
công nghiệp, nông thôn với đô thị. Mối quan hệ này giải quyết như thế nào tùy thuộc vào
giai cấp cầm quyền. Do đó, vấn đề hệ thống chính trị phải trở thành nhân tố bên trong của
sự phát triển, chứ không phải là nhân tố bên trên, bên ngoài.
* Kinh nghiệm Đài Loan
Do địa vị chính trị đặt ra, đòi hỏi chính quyền Đài Loan tìm ra chính sách kinh tế
- xã hội phù hợp để tồn tại. Sức ép đó có lẽ là động lực quan trọng để Đài Loan trở thành
mô hình giải quyết quan hệ giữa công nghiệp hóa với nông nghiệp - nông thôn thành công
hơn cả trong số những nước công nghiệp mới. Chỉ trong vòng 3 thập kỷ, Đài Loan đã từ
một vùng nông nghiệp kém phát triển trở thành một trong mấy "con rồng" châu á. Từ
năm 1952-1990, sản lượng nông nghiệp tăng 4,5 lần, về giá trị tăng từ 700 triệu USD lên
12 tỷ USD, riêng nông sản xuất khẩu tăng từ 114 triệu USD lên hơn 4 tỷ USD.
- Đem lại ruộng đất cho nông dân, tạo điều kiện hình thành các trang trại gia đình
quy mô nhỏ. Đến năm 1991, tổng số trang trại lên đến 823.256 với quy mô trung bình là
1,08 ha.
Đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp và công nghiệp hóa nông thôn. Nhờ đó nông
dân có tích lũy để thực hiện nền nông nghiệp đa canh, đồng thời mấy chục vạn lao động
nông nghiệp đã làm ngành nghề khác. Nhờ cơ sở nông nghiệp nông thôn phát triển đã tạo
môi trường vì điều kiện cho sản lượng công nghiệp tăng 50 lần từ 1952-1990.
- Đầu tư cho kết cấu hạ tầng kỹ thuật và cả hạ tầng xã hội để phát triển nông
nghiệp nông thôn. Nhờ đó kinh tế thị trường nông thôn rộng khắp, điều kiện sản xuất và
sinh hoạt ở nông thôn khác trước, giáo dục bắt buộc từ 6-9 năm, tỷ lệ tăng dân số giảm
dần (từ 3,2% năm 1962 xuống 1,5% năm 1985).
- Chú ý phát triển đồng đều giữa các vùng trong nước, không tập trung quá mức
vào các khu công nghiệp và đô thị. Tính đến đầu thập kỷ 80, Đài Loan chỉ có 17,7% cơ
sở công nghiệp đặt ở 5 thành phố lớn (trái lại, ở Thái Lan trên 80% cơ sở công nghiệp tập
trung ở Băng Cốc ), 42% đặt ở vùng phụ cận, 32% đặt ở nông thôn. Đó là một không
* Bài học về phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn ở các nước XHCN trước
đây
Nét nổi bật và phổ biến trong chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp nông
thôn ở các nước này là đưa nông dân đi vào con đường hợp tác hóa dưới dạng các hình
thức nông trang, nông trường, hợp tác xã hay công xã nhân dân tùy theo mỗi nước.
Mục đích giống nhau của các hình thức ấy là xóa bỏ mọi hình thức bóc lột trong
nông nghiệp nông thôn và ngăn chặn sản sinh mầm mống tư bản chủ nghĩa. Từ mục đích
ấy để giải quyết vấn đề quan hệ sản xuất trong nông thôn: Chuyển từ sở hữu cá thể và tư
nhân hoàn toàn sang sở hữu tập thể ruộng đất và công cụ sản xuất; thực hiện chủ nghĩa
bình quân trong phân phối nhằm ngăn chặn phân hóa giàu nghèo; áp dụng thể chế quản lý
do trên quyết định.
Về mặt xã hội: vai trò nhà nước có ý nghĩa quyết định về mặt giáo dục, y tế, công việc
làm, nhà ở Nhờ đó tỷ lệ người biết chữ trong nông thôn gần như đạt 100%, số người được
học lên các cấp, kể cả đại học ngày càng nhiều. Sức khỏe được chăm sóc, hầu hết miễn phí.
Nhìn chung, nông thôn không có tình trạng đói nghèo, nhưng cũng không có người giàu. Đời
sống nông thôn ổn định, chầm chậm trôi đi, lặp đi lặp lại những kinh nghiệm đã biết.
Sai lầm cơ bản trong chính sách này là ở: Thay đổi quan hệ sản xuất nhưng
không dựa trên sự liên tục giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất. Hình thức quan hệ
sản xuất ấy đến lúc không phù hợp, đã trở thành cản trở nông nghiệp nông thôn phát
triển, mặc dù có một số nước đã công nghiệp hóa nông nghiệp.
- Giải quyết vấn đề xã hội đã kéo dài đến mức không gắn liền với phát triển kinh
tế. Vì vậy cơ cấu xã hội dân cư đến lúc không gắn với kết quả của chuyển dịch cơ cấu và
phân công lao động trong kinh tế thị trường.
- Phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn hầu như chỉ là công việc của nhà nước
chứ không còn là sự nghiệp của nhân dân. Vì thế mặc dù có lúc được phúc lợi bao cấp
tốt, học hành nhiều, nhưng mức sống lại thấp. Chế độ bao cấp kinh tế và giáo dục tư
tưởng đã tạo ra tính thụ động theo kế hoạch có sẵn, và tâm lý chịu ổn bề trên.
bản nhất và lớn nhất của tiêu dùng xã hội, nông nghiệp tác động trực tiếp tới trạng thái
chính trị - xã hội. Mặt khác, nó là khu vực kinh tế cung cấp 50% toàn bộ thu nhập quốc
dân, và thu nhập của 80% dân số nước ta phụ thuộc vào nông nghiệp. Chính vì vậy, sự
thịnh, suy của kinh tế nông nghiệp tác động mạnh mẽ tới tâm trạng chính trị của đa số
dân cư.
Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp để nó có thể cung cấp lương thực - thực phẩm
nuôi sống toàn bộ dân cư, đồng thời có sản phẩm thặng dư xuất khẩu là một giải pháp có
ý nghĩa to lớn cả về kinh tế, chính trị, xã hội. Thực tế ở nước ta và các nước khác nông
nghiệp đều là cơ sở kinh tế cho sự ổn định xã hội - tiền đề quan trọng của sự phát triển và là
bước đi ban đầu cho mọi sự phát triển.
Về vai trò của nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VII của Đảng cũng khẳng định: "Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn
với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn
mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế - xã hội". Song, phải
thấy rằng, đề cao tuyệt đối nông nghiệp cũng sai lầm như coi nhẹ nông nghiệp và đều làm
suy yếu nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp và dịch vụ mới có thể tạo nên sự phát triển
mạnh và mức tăng trưởng cao. Điều cần khẳng định ở đây là, trong tình trạng lạc hậu
hiện nay của nước ta, phải biết dựa vào nông nghiệp để xác lập những điều kiện ban đầu
cho sự phát triển. Về tầm cỡ quốc gia, theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới,
muốn công nghiệp hóa nhanh và phát triển kinh tế thành công, trước hết phải có nền nông
nghiệp mạnh mới đảm bảo tăng trưởng kinh tế, tạo sự phát triển công bằng xã hội, giải
quyết vấn đề về nghèo đói, di cư và nhiều vấn đề khác. Đối với tỉnh Kiên Giang, kinh tế
nông nghiệp phát triển có tác động trên nhiều mặt:
Một là, kinh tế nông nghiệp đã đóng góp rất lớn vào quá trình phát triển kinh tế
của tỉnh Kiên Giang
Kiên Giang với diện tích 6.224,5km
2
, trong đó trên 98% diện tích thuộc khu vực
nông nghiệp. Hiện nay có 80% dân số và 79,8% lao động sống ở vùng nông nghiệp với
sản xuất chính là nông - lâm nghiệp, khai thác và nuôi trồng thủy sản, ngoài ra khu vực
8
38.81
6
159.27
7
218.46
1
76.22
4
Giá trị (triệu USD) 4,65 4,80 5,83 11,0 43,4 51,9 19,4
Giá bán trung bình
(USD/ tấn)
240 208 190 283 272 238 255
Nhìn chung, lao động xuất nhập khẩu nông sản trong thời gian qua có nhiều cố
gắng nhưng vẫn còn nhiều tồn tại, yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu so với sản lượng hàng
hóa của tỉnh (chỉ xuất được khoảng 20% lượng hàng hóa của tỉnh). Mặt khác, một số sản
phẩm nông sản có khối lượng hàng hóa lớn nhưng chưa xuất khẩu được như tiêu, hạt
điều, hột vịt muối, nước dứa cô đặc và đóng hộp. Hàng tư liệu và vật tư phục vụ sản xuất
nông nghiệp như máy móc phân bón, thuốc trừ sâu nhập khẩu còn hạn chế.
Ba là, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn, một bộ phận
lao động của xã hội
Năm 1998 dân số tỉnh Kiên Giang là 1.491.998 người, trong đó số dân sống ở
vùng nông thôn là 1.187.367 người chiếm tỷ lệ 79,58%, nguồn lao động 870.625 người
chiếm 58,32% so với số dân toàn tỉnh (trong đó nguồn lao động khu vực nông thôn có
732.334 người chiếm 84,15% lao động).
Theo kết quả điều tra lao động việc làm năm 1997 cho thấy chất lượng lao động
của tỉnh còn thấp, nhất là khu vực nông thôn tỷ lệ lao động không có chuyên môn kỹ
động trí tuệ và khoa học kỹ thuật) càng lớn mạnh càng có khả năng khống chế, hạn chế
được các mặt bất lợi của đất và nước. Đồng thời con người phải bảo vệ quỹ đất nông
nghiệp, nguồn nước và mở rộng diện tích rừng. Đó là điều kiện làm cơ sở cho việc bảo vệ
làm giàu môi trường sinh thái bền vững.
Chương 2
Thực Trạng KINH Tế NÔNG Nghiệp ở KIÊN GIANG
Những NĂM QUA Và Một Số Vấn Đề Đặt RA
Cần Giải Quyết
2.1 Đặc điểm tự nhiên- xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế nông
nghiệp ở tỉnh Kiên Giang
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên kinh tế-xã hội ở tỉnh Kiên Giang
a) Ranh giới và vị trí tỉnh Kiên Giang
Tỉnh Kiên Giang nằm ở phía Tây Bắc vùng đồng bằng sông Cửu Long, ranh giới
hành chính được xác định như sau:
* Phía Bắc giáp nước Cộng hòa nhân dân Campuchia.
* Phía Nam giáp các tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu.
* Phía Đông giáp các tỉnh An Giang, Cần Thơ.
* Phía Tây giáp Vịnh Thái Lan.
Theo ranh giới này, Tỉnh Kiên Giang có diện tích tự nhiên 6.224,5 km
2
, bao gồm 2
huyện đảo (Phú Quốc, Kiên Hải) và 11 huyện thị ở đất liền (thị xã Rạch Giá, Hà Tiên, các
huyện: Kiên Lương, Hòn Đất, Tân Hiệp, Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, An
Minh, Vĩnh Thuận), trải rộng trên 4 vùng sinh thái: Tứ giác Long Xuyên, Tây sông Hậu, bán
đảo Cà Mau và hải đảo.
Tỉnh có trên 200 km bờ biển ở đất liền, 105 hòn đảo, 56,8 km đường biên giới quốc
bằng sông Cửu Long. Hạn chế rõ nét trong chế độ mưa ở đây là trong thời kỳ đầu của
mùa mưa thường hay gặp hạn. Hạn đầu vụ ít ảnh hưởng với các vùng phù sa được tưới
nhưng lại rất nghiêm trọng với đất mặn, đất phèn nằm ở cuối nguồn nước ngọt. Mưa
nhiều trong thời kỳ cuối mùa mưa cũng có tác hại do gây ngập úng, nhất là gặp các năm
lũ lớn thì tác hại của mưa nhiều trong thời kỳ này càng rõ. Vì vậy để tăng vụ và sản xuất
ổn định cần phải đặc biệt coi trọng biện pháp cung cấp nước vào mùa khô và tiêu tưới
trong mùa lũ.
* Nguồn nước - thủy văn:
+ Nguồn nước:
Nước mặt:
- Sông Hậu là nguồn cung cấp nước mặt chủ yếu cho Kiên Giang, theo số liệu
của Phân viện khảo sát và quy hoạch thủy lợi Nam bộ lưu lượng sông Hậu đo tại đầu
nguồn (Châu Đốc) và cuối nguồn (Cần Thơ) như sau:
Bảng 1: Lưu lượng nước sông Hậu tại Châu Đốc và Cần Thơ
Chỉ tiêu Đơn vị Châu Đốc Cần Thơ
Lưu lượng trung bình
Lưu lượng nhỏ nhất
Lưu lượng lớn nhất
m
3
/s
m
3
/s
m
3
/s
2.400
300
An Biên
1992
1992
1992
1992
1992
1992
1991
6,2
6,8
6,7
3,5
3,6
4,0
7,0
6,4
7,4
6,2
5,3
0,4
0,3
30,0
3,2
3,9
3,0
4,0
1,6
0,7
23,8
8,6
0,6
0,5
0,4
0,5
+ Vùng bán đảo Cà Mau thường bắt đầu bị xâm nhập mặn từ cuối tháng 11, thời
kỳ từ cuối tháng 12 đến đầu tháng 5 hầu hết các kênh rạch trong vùng bị nhiễm mặn.
+ Vùng tứ giác Long Xuyên và Tây sông Hậu xâm nhập mặn diễn ra từ tháng 4
đến tháng 6 đầu tháng 7, trong đó tháng 4 có tần suất lớn và mức độ nặng nhất, trong
những năm bình thường mặn xâm nhập sâu từ
7 - 8km (tính từ cửa kênh). ứng năm hạn nặng nước mặn xâm nhập vào sâu từ 11 - 12
km.
Nguồn nước ngầm:
Theo số liệu của chương trình cấp nước đô thị Kiên Giang, trong phạm vi của
tỉnh có 7 phức hệ chứa nước:
(1) Phức hệ chứa nước các trầm tích Hôloxem (Q.IV)