LUẬN VĂN:
Nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở
tỉnh Bắc Ninh
Ninh" làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đã có nhiều công
trình khoa học, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn. Kết quả
nghiên cứu của các công trình này là:
+ Làm rõ quan niệm, nội dung và biện pháp để công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn.
+ Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở các vùng
khác nhau trong nước.
+ Vấn đề sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn ở nước ta nói chung.
Các công trình tiêu biểu mà tác giả được biết:
- Nguyễn Văn Bích: "Đổi mới và phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa" Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 1996.
- Tiến sĩ Lê Mạnh Hùng (chủ biên): "Thực trạng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn Việt Nam", Nxb Thống kê, Hà Nội, 1998.
- GS.TS Nguyễn Đình Phan, GS.TS Trần Minh Đạo và TS Nguyễn Văn Phúc
(đồng chủ biên): "Những biện pháp chủ yếu thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng" Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
Vấn đề con người - nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung
và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng đã có nhiều tác giả
nghiên cứu ở các góc độ khác nhau. Một số công trình, tác phẩm nghiên cứu mà tác giả
được biết đó là:
- Nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án Tiến sĩ của Trần
Kim Hải.
- Vai trò Nhà nước trong tạo tiền đề nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Quý Tình.
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn đối với nguồn nhân lực.
- Đánh giá thực trạng về nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh.
- Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp phát triển và sử dụng nguồn nhân lực đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
* Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài luận văn thuộc chuyên ngành kinh tế chính trị, nên việc nghiên cứu đối
tượng này được tiến hành dưới góc độ:
+ Coi nguồn nhân lực là một trong số các nguồn lực sản xuất. Sử dụng nguồn
nhân lực được xem xét và phân tích trong mối quan hệ ràng buộc với các yếu tố khác
trong quá trình sản xuất, đó là: Đất đai, vốn, tài nguyên, thị trường, công nghệ và các
nguồn lực khác trong nông nghiệp, nông thôn.
+ Xem xét mối quan hệ tương tác giữa quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
với vấn đề sử dụng lao động và tạo việc làm cho người lao động.
+ Mốc thời gian để lấy số liệu, tư liệu minh họa chủ yếu từ năm 2000 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí
Minh; đường lối, quan điểm, những tổng kết kinh nghiệm của Đảng và chính sách, pháp
luật của Nhà nước; kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học có nội dung
gần gũi với đề tài.
- Về phương pháp nghiên cứu: vận dụng phương pháp chung của kinh tế chính trị như: phương pháp trừu tượng hóa khoa học, kết hợp lôgíc với lịch sử, kết hợp lý luận với
thực tiễn; đồng thời khảo sát thực tế, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa vấn đề,
rút ra kết luận.
xã hội năm 1991 của Đảng. Chỉ có đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát
triển kinh tế tri thức mới có thể đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền
tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản đã trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại. Tuy vậy, trong những năm đầu thế kỷ XXI, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước
ta trước hết và chủ yếu là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là vấn đề rộng lớn và
phức tạp, vì thế cho đến nay vẫn còn có những quan niệm ít nhiều chưa thống nhất. * Một số nhà nghiên cứu cho rằng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và
nông thôn là vấn đề khoa học bao gồm 4 nội dung khác nhau nhưng có quan hệ mật thiết
với nhau. Đó là: Công nghiệp hóa nông nghiệp; công nghiệp hóa nông thôn; hiện đại hóa
nông nghiệp; hiện đại hóa nông thôn.
Công nghiệp hóa nông nghiệp, theo tác giá Chu Hữu Quý và Nguyễn Kế Tuấn là:
Quá trình chuyển biến từ nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, lạc hậu, phân
tán sang nền nông nghiệp sản xuất lớn với trình độ chuyên canh và thâm canh
cao, tiến hành sản xuất và quản lý sản xuất - kinh doanh với trình độ trang bị
công nghiệp và công nghệ tiên tiến, áp dụng rộng rãi thủy lợi hóa, cơ khí hóa,
hóa học hóa, điện khí hóa, sinh học hóa cao hơn và bước đầu áp dụng cả tin
học hóa, tự động hóa [47, tr. 26].
Cũng theo các tác giả trên thì phạm vi, tính chất của công nghiệp hóa nông thôn
sâu rộng hơn nhiều, thể hiện qua ba điểm:
Thứ nhất, nó là quá trình biến đổi không phải trong từng ngành sản xuất hay từng
lĩnh vực xã hội đơn lẻ, mà là một quá trình biến đổi toàn diện trong một khu vực xã hội
rộng lớn là nông thôn, bao quát mọi hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị tại đó.
Thứ hai, nó phải phát triển một nền nông nghiệp dồi dào làm nền tảng, một nền
sản xuất công nghiệp ngày càng tiên tiến, một hệ thống dịch vụ đầy đủ và hữu hiệu.
Thứ ba, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn cùng với các
ngành kinh tế phát triển, một hệ thống hạ tầng cơ sở kinh tế và xã hội dần dần được hoàn
chỉnh theo hướng hiện đại hóa, các lĩnh vực hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế được nâng
nghiệp nông thôn và do đó phát triển công nghiệp nông thôn là một trong những nội dung
quan trọng của công nghiệp hóa nông thôn, mặt khác công nghiệp hóa nông thôn bao
hàm cả công nghiệp hóa nông nghiệp. Mặc dù vậy cũng không nên chỉ dùng thuật ngữ
công nghiệp hóa nông thôn và mà không nói đến công nghiệp hóa nông nghiệp. Vì trong quá trình công nghiệp hóa nông thôn thì vấn đề công nghiệp hóa nông nghiệp vừa là quan
trọng, vừa như là một thách thức.
Hai là, công nghiệp hóa nông thôn đúng hướng tất yếu phải góp phần thúc đẩy
các chỉ tiêu về kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh của toàn vùng tăng với tốc độ
ngày càng nhanh và cao hơn so với vùng nông thôn đó trong điều kiện không được công
nghiệp hóa. Đồng thời làm thay đổi cơ cấu về tỷ lệ đóng góp của các ngành vào GDP và
thu nhập. GDP của các vùng nông thôn được công nghiệp hóa phải có tỷ trọng cao của
phần đóng góp từ công nghiệp và dịch vụ, do đó phần đóng góp của nông nghiệp ngày
càng giảm đi về tỷ lệ, nhưng quy mô tuyệt đối ngày càng tăng về cơ cấu và thu nhập của
dân cư cũng có kết quả tương tự.
Hiện đại hóa nông nghiệp bao gồm tất cả những hoạt động có liên quan đến việc
ứng dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ tiên tiến vào sản xuất kinh doanh các sản
phẩm nông nghiệp nhằm góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của chúng,
đồng thời thỏa mãn tốt hơn các nhu cầu của xã hội, của thị trường về các sản phẩm nông
nghiệp. Đặc trưng nổi bật của hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình không ngừng nâng
cao trình độ khoa học - kỹ thuật - công nghệ, trình độ tổ chức và quản lý sản xuất nông
nghiệp. Đây cũng là quá trình cần được thực hiện một cách liên tục vì luôn có những tiến
bộ kỹ thuật mới xuất hiện và được ứng dụng trong sản xuất.
Hiện đại hóa nông thôn là quá trình liên tục nâng cao trình độ khoa học - kỹ thuật
và công nghệ vào sản xuất và đời sống ở nông thôn, tạo ra một nền sản xuất trình độ ngày
càng cao, cuộc sống ngày càng văn minh và tiến bộ. Hiện đại hóa nông thôn không chỉ
bao gồm công nghiệp hóa, nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ và tổ chức trong các lĩnh
vực khác trong sản xuất vật chất ở nông thôn mà còn bao gồm cả việc không ngừng nâng
cao đời sống văn hóa - tinh thần, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội: Hệ thống
VIII của Đảng đã khẳng định: "Đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp và nông thôn; phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế
biến nông, lâm, thủy sản; phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất
khẩu" [38, tr. 87]. Đại hội lần thứ IX của Đảng (tháng 4-2001) đã cụ thể hóa, bổ sung và phát triển
những quan điểm, đường lối về công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn nước ta và chủ
trương đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
Để tiếp tục hoàn thiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn, Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ban hành nghị
quyết về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 -
2010. Nghị quyết đã nêu lên những nội dung tổng quát, quan điểm, mục tiêu phát triển,
những chủ trương và giải pháp lớn để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn. Về quan điểm cần quán triệt để đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010 là:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là một trong
những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Phát triển công nghiệp, dịch vụ phải gắn bó chặt chẽ, hỗ trợ đặc lực và
phục vụ có hiệu quả cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông
thôn.
- Ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, chú trọng phát huy nguồn lực
con người, ứng dụng rộng rãi thành tựu khoa học, công nghệ, thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế của từng vùng gắn với thị trường
để sản xuất hàng hóa quy mô lớn với chất lượng và hiệu quả cao, bảo vệ môi
trường, phòng chống, hạn chế và giảm nhẹ thiên tai, phát triển nông nghiệp
nông thôn bền vững.
- Dựa vào nội lực là chính, đồng thời tranh thủ tối đa các nguồn lực
bên ngoài, phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng
xã hội, xây dựng nông thôn mới văn minh và hiện đại [38, tr. 87-88].
Tháng 11/1998, Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết
số 06/NQ-TW về một số vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn đã khẳng định: Đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn là nhiệm vụ
cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, là cơ sở để ổn định chính trị, kinh
tế, xã hội, củng cố liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng
lớp trí thức, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa.
Sau 5 năm thực hiện, nội dung công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông
thôn đã được cụ thể hóa từng bước. Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng nêu rõ:
Tiếp tục phát triển và đưa nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp lên một
trình độ mới bằng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ
sinh học; đẩy mạnh thủy lợi hóa, cơ giới hóa, điện khí hóa; quy hoạch sử dụng
đất hợp lý; đổi mới cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị thu nhập trên đơn vị
diện tích; giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ nông sản hàng hóa. Đầu tư nhiều hơn
cho phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội ở nông thôn. Phát triển công
nghiệp, dịch vụ các ngành nghề đa dạng, chú trọng công nghiệp chế biến, cơ
khí phục vụ nông nghiệp, các làng nghề, chuyển một bộ phận quan trọng lao
động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm
mới; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cải thiện đời sống nông dân và dân
cư ở nông thôn [39, tr. 92-93].
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã xác
định nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông thôn.
- Về nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, Nghị quyết chỉ rõ:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là quá trình chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công
nghiệp chế biến và thị trường, thực hiện cơ khí hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa,
sách giao đất, giao rừng, bảo đảm cho người làm nghề rừng có cuộc sống ổn định và được cải thiện. Phát triển rừng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế
biến lâm sản có công nghệ hiện đại.
Phát triển đồng bộ và có hiệu quả nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và bỏa vệ
nguồn lợi thủy sản. Coi trọng khâu sản xuất và cung cấp giống tốt, bảo vệ môi
trường, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu.
Tăng cường các hoạt động khuyến nông, khuyến công, khuyến lâm,
khuyến ngư, công tác thú y bảo vệ thực vật và các dịch vụ kỹ thuật khác ở
nông thôn. Chuyển giao nhanh và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công
nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp; chú trọng các khâu giống, kỹ thuật
canh tác, nuôi trồng, công nghệ sau thu hoạch và công nghệ chế biến.
Khẩn trương xây dựng các quy hoạch phát triển nông thôn. Thực hiện
chương trình xây dựng nông thôn mới. Xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc
sống no đủ, văn minh, môi trường lành mạnh. Hình thành các khu dân cư, đô
thị hóa với kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội đồng bộ như: Thủy lợi, giao thông,
điện, nước sạch, cụm công nghiệp, trường học, trạm y tế, bưu điện, chợ. Phát
huy dân chủ ở nông thôn đi đôi với xây dựng nếp sống văn hóa, nâng cao trình
độ dân trí, bài trừ các tệ nạn xã hội, hủ tục, mê tín dị đoan; đảm bảo an ninh,
trật tự an toàn xã hội.
Chú trọng dạy nghề, giải quyết việc làm cho nông dân, trước hết ở các
vùng sử dụng đất nông nghiệp để xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ,
giao thông, các khu đô thị mới. Chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn theo
hướng giảm nhanh tỷ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động
làm công nghiệp và dịch vụ. Tạo điều kiện để lao động nông thôn có việc làm
trong và ngoài khu vực nông thôn kể cả ở nước ngoài. Đầu tư mạnh hơn cho
các chương trình xóa đói giảm nghèo, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, biên
giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số [41, tr. 88-90].
Từ những trình bày trên, theo chúng tôi, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
thôn (hiện đại hóa không chỉ về phương diện kỹ thuật và công nghệ, mà cả về phương diện quản lý kinh doanh) và có những điểm phản ánh các điều kiện kinh tế - xã hội để
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
1.2. Tác động và yêu cầu về nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1.2.1. Khái niệm về nguồn nhân lực
Có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực. Do cách tiếp cận
khác nhau, nên có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực:
Thứ nhất, theo thuyết lao động xã hội thì nghĩa rộng của nguồn nhân lực, có thể
hiểu là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội. Theo nghĩa hẹp, là khả năng lao
động của xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có tham gia vào nền
sản xuất xã hội. Theo quan điểm của Tổ chức Lao động thế giới (IL0): Lực lượng lao
động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có việc làm và những và
những người thất nghiệp. Hiện nay ở Việt Nam tuổi lao động được quy định là từ 15 - 60
(đối với nam) và từ 15 - 55 (đối với nữ). Trên thực tế khi tính toán, thống kê lực lượng
lao động, người ta thường quy định: Lực lượng lao động là những người trong độ tuổi lao
động có việc làm và những người ngoài tuổi lao động vẫn tham gia làm việc (thường tính
cho những người trên tuổi lao động). Như vậy, ở đây lực lượng lao động cũng đồng nghĩa
với dân số hoạt động kinh tế. Nguồn lao động được hiểu là toàn bộ những người có khả
năng lao động dưới dạng tích cực và tiềm tàng, có thể biểu diễn nguồn lao động qua biểu
đồ sau:
Biểu đồ 1.1: Nguồn lao động Nguồn lao
Th
ất
Các
ngành
Thứ hai, theo thuyết tăng trưởng kinh tế, thì nguồn nhân lực chính là nguồn lực
chủ yếu tạo động lực cho sự phát triển.
Thứ ba, theo thuyết về vốn con người, thì nguồn nhân lực được hiểu như nguồn
lực con người (Human Resonsrces), được huy động, quản lý cùng với các nguồn lực khác
(tài chính, tài nguyên ) để thực hiện những mục tiêu phát triển đã định.
Thứ tư, theo định nghĩa của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là: "Trình độ lành
nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm
năng để phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng".
Thứ năm, theo một số nhà khoa học Việt Nam, nguồn nhân lực được hiểu là dân
số và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, trí tuệ và sức khỏe, năng
lực và phẩm chất, thái độ và phong cách làm việc
Từ những quan niệm trên, chúng tôi cho rằng, nguồn nhân lực là tổng thể những
năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong tổng số lực lượng lao động của xã hội, đang và
sẽ được vận dụng vào quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất để phục vụ cho nhu
cầu xã hội.
Nguồn nhân lực trước hết phản ánh qua số lượng lao động trong độ tuổi lao
động và chất lượng của nó. Chất lượng nguồn nhân lực là trình độ, khả năng của năng lực
thể chất và tinh thần cấu thành nguồn nhân lực của xã hội. Có nhiều chỉ tiêu đánh giá chất
lượng nguồn nhân lực. Đó là: (1) Trí lực của nguồn nhân lực; (2) Chỉ số phát triển con
động những vẫn tham gia lao động trong khu vực nông nghiệp, nông thôn. Nguồn lao động nông nghiệp, nông thôn với quan điểm là một tiềm lực kinh tế
thể hiện ở hai mặt: Số lượng và chất lượng.
- Số lượng nguồn lao động nông nghiệp, nông thôn là tổng số những người trong
độ tuổi lao động (từ 15 - 55 đối với nữ, từ 15 - 60 đối với nam) có khả năng lao động
trong khu vực nông nghiệp, nông thôn và những người trên tuổi lao động nhưng vẫn
tham gia lao động. Số lượng này phụ thuộc vào 2 yếu tố: Sự tăng giảm tự nhiên và tăng
giảm cơ học do sự di cư từ nông thôn ra thành thị hoặc ngược lại.
- Chất lượng của nguồn nhân lực nông nghiệp nông thôn nói chung là khả năng
về sức sản xuất của thể lực, trí lực của người lao động. Khả năng này được phản ánh qua
trình độ văn hóa, trình độ khoa học kỹ thuật, năng suất lao động, kinh nghiệm sản xuất
cũng như hành vi và giá trị của người lao động. Chất lượng của nguồn lao động là nhân
tố có tính quyết định đóng góp cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của một nước.
Chất lượng nguồn lao động nông thôn nói riêng và nguồn lao động xã hội nói chung tất
yếu sẽ biến đổi theo xu hướng không ngừng tăng lên do sự phát triển của khoa học kỹ
thuật và vì vậy năng suất lao động ngày càng nâng cao. Mặt khác, khi nền kinh tế phát
triển sẽ tạo điều kiện chăm sóc tốt hơn sức khỏe con người, nâng cao đời sống vật chất,
tinh thần cho người lao động. Chất lượng nguồn nhân lực sẽ được nâng cao thông qua sự
đầu tư và các chính sách phát triển của Nhà nước vào các lĩnh vực y tế, giáo dục và văn
hóa.
Những đặc trưng của nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn:
Một là, nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn chiếm tỷ trọng rất lớn trong
nguồn nhân lực xã hội.
Nước ta là một nước nông nghiệp, có khoảng 78% dân số sinh sống ở các vùng
nông thôn và đại bộ phận dân cư và lao động làm ăn sinh sống bằng nghề nông. Dân số
nước ta thuộc loại dân số trẻ, tỷ lệ tăng tự nhiên đã giảm khá nhanh từ 2,2 năm 1990 xuống
còn 1,43% năm 2000, tuy nhiên lao động trong khu vực nông nghiệp nông thôn năm 2005
vẫn chiếm tới 66,0% lao động xã hội.
Do những nguyên nhân lịch sử, kinh tế sâu xa cùng với phương thức sản xuất lúa
nước đã liên kết những người dân sống ở nông thôn thành một cộng đồng gắn kết nhau với
truyền thống đoàn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, có phẩm chất cần cù, chịu khó, thông
minh Đó là những tố chất quan trọng của nguồn lực con người ở nông thôn. Tuy nhiên,
nguồn nhân lực ở nông thôn cũng còn có nhiều hạn chế chưa đáp ứng được với yêu cầu
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thể hiện ở một số nét chủ yếu sau:
- Trình độ văn hóa, dân trí và chuyên môn kỹ thuật của người lao động ở nông
thôn còn thấp, ví dụ: Năm 1999 ở nước ta tỷ lệ lao động chưa biết chữ ở nông thôn vẫn
còn gần 1,5 triệu người chiếm 4,9% tổng số lao động nông thôn, tỷ lệ lao động có trình
độ chuyên môn kỹ thuật chỉ chiếm xấp xỉ 8% còn lại là lao động phổ thông chưa qua đào
tạo. Lực lượng lao động chất xám vừa ít lại phân bố không đều, chưa gắn bó với sản xuất
và phát triển kinh tế xã hội nông thôn. Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý ở nông thôn
còn yếu kém, số có trình độ đại học chỉ chiếm 3,5%, trung cấp 12,8%, sơ cấp 48% tổng
số cán bộ quản lý. Rõ ràng với trình độ như vậy sẽ không đáp ứng được yêu cầu của công
nghiệp hóa, đây là yếu tố gây trở ngại lớn đến việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật
trong nông nghiệp [43, tr. 22].
- Thể lực của người lao động ở nông thôn đã được cải thiện nhưng còn thấp so
với yêu cầu. Tình trạng dinh dưỡng của người lớn tính theo chỉ số cơ chế (BMI) của khu
vực nông thôn cho thấy chỉ có 36,44% nam giới đạt mức bình thường, còn lại 62,5% ở
mức gầy và quá gầy [43, tr. 23].
- Thu nhập của nông dân còn thấp, đời sống còn nhiều khó khăn. Vẫn còn
khoảng gần 15% dân nông thôn bị nghèo về lương thực, thực phẩm và khoảng 1/3 còn
phải sống ở mức nghèo chung. Bên cạnh đó các điều kiện khác ở nông thôn còn kém xa
so với thành thị. Ví dụ về nhà ở, về phương tiện, về hưởng thụ văn hóa
1.2.3. Tác động và yêu cầu về nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
1.2.3.1. Tác động của nguồn nhân lực nông nghiệp, nông thôn
nước ta. Chính vì vậy, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
đòi hỏi phải được thực hiện bằng đội ngũ những người lao động đủ về số lượng, đảm bảo
về chất lượng, hợp lý về cơ cấu và hiệu quả trong sử dụng.
- Về số lượng: Căn cứ vào mục tiêu phát triển và cơ cấu các ngành để có kế
hoạch sử dụng lao động, đảm bảo đủ số lượng lao động tham gia, phấn đấu giảm dần sự
mất cân đối giữa cung và cầu lao động trong điều kiện nguồn nhân lực nông thôn vẫn có
xu hướng gia tăng.
- Về chất lượng: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ
đã tạo ra những điều kiện thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa. Thế giới đang từng
bước phát triển nền kinh tế tri thức. Chính vì vậy, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước nói chung và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói
riêng đòi hỏi một đội ngũ những người lao động có chất lượng cao, tinh thông nghề
nghiệp, sáng tạo và có tác phong công nghiệp.
- Về cơ cấu nguồn nhân lực: Đảm bảo sự hợp lý trong phân bố nguồn nhân lực
giữa các ngành và các vùng. Trong mỗi ngành, mỗi địa phương cũng phải tính đến tỷ lệ
hợp lý giữa các trình độ chuyên môn kỹ thuật giữa các nhà nghiên cứu hoạch định chính
sách, các nhà quản lý và người trực tiếp sản xuất
1.3. Kinh nghiệm phát triển và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở một số tỉnh trong nước
1.3.1. Kinh nghiệm của Sơn La
Sơn La là một tỉnh miền núi phía tây bắc nước ta, có diện tích 1.405,5 km
2
, với dân
số 906.800 người (tương đương tỉnh Bắc Ninh). Trong đó, người trong độ tuổi lao động
chiếm 46% dân số. Tỷ lệ lao động khu vực nông thôn chiếm 78,88% số lao động của
tỉnh. Tỷ lệ thời gian sử dụng lao động còn thấp mới đạt 68 - 70%. Như vậy 1/4 thời gian
nông nhàn cần các ngành nghề, dịch vụ tạo nguồn thu nhập cho bà con nông dân Sơn La.
Vấn đề này đặt ra cho tỉnh Sơn La một bài toán khó cần phải giải quyết. Mặt khác, mỗi
năm Sơn La có khoảng 7.000 học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở chỉ có 1700 - 2000 em