Báo cáo tốt nghiệp
“ Mở rộng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại
cổ phần Ngoại Thương Việt Nam”
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7
1.1 Tổng quan về cho vay tiêu dùng 7
1.1.1 Khái niệm về cho vay tiêu dùng 7
1.1.2 Đặc điểm của cho vay tiêu dùng 8
1.1.3 Vai trò của cho vay tiêu dùng 10
1.1.3.1. Đối với người tiêu dùng 10
1.1.3.2 Đối với ngân hàng 10
1.1.3.3 Đối với nền kinh tế 10
1.1.4 Các hình thức CVTD 11
1.1.4.1 Căn cứ vào mục đích vay 11
1.1.4.2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả 12
1.1.4.3Căn cứ vào nguồn gốc khoản nợ 17
1.2 Nội dung cơ bản của mở rộng CVTD 22
1.2.1 Quan niệm về mở rộng CVTD 22
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng CVTD 23
1.2.2.1 Nhân tố khách quan 23
2.4.2 Những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại trong hoạt động cho vay
tiêu dùng tại Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam 55
2.4.2.1 Một số tồn tại 55
2.4.2.2 Nguyên nhân của những tồn tại. 58
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM MỞ RỘNG
CVTD TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM 63
3.1 Định hướng hoạt động của Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt
Nam 63
3.1.1 Định hướng phát triển chung về hoạt động kinh doanh của ngân
hàng trong những năm tới. 63
3.1.2. Định hướng đối với hoạt động CVTD 64
3.2 Một số giải pháp mở rộng CVTD tại Vietcombank 64
3.2.1 Ngân hàng phải có chính sách cụ thể về CVTD 64
3.2.2 Hoàn thiện quy trình CVTD 65
3.2.3 Hoàn thiện danh mục sản phẩm CVTD 67
3.2.4 Đa dạng hóa phương thức cho vay tiêu dùng 69
3.2.5 Hoàn thiện và đẩy mạnh công tác Marketing đối với sản phẩm
CVTD 69
3.2.6 Hiện đại hóa công nghệ ngân hàng 72
3.3 Một số kiến nghị 74
3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 74
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 75
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Xuất phát từ lý do đó, tôi chọn đề tài “ Mở rộng cho vay tiêu dùng tại
ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam” làm đề tài cho
chuyên đề tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu để xem xét một cách tổng quát và có hệ thống về thực trạng
cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam
trong xu thế hội nhập. Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm làm cho sản
phẩm cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương
phong phú và đa dạng hơn, thu được hiệu quả cao hơn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của chuyên đề
Đề tài lấy hoạt động cho vay tiêu dùng tại Vietcombank làm đối tượng
nghiên cứu.
Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề là thực trạng hoạt động cho vay tiêu
dùng tại thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam trong các năm 2007,
2008, 2009.
4. Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề hoàn thành nhờ sử dụng kết hợp các phương pháp như:
Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử với phương pháp nghiên cứu lý
luận, thực tiễn, so sánh.
5. Kết cấu chuyên đề
Ngoài lời mở đầu và kết luận, kết cấu của chuyên đề gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng
thương mại
Chương 2: Thực trạng mở rộng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương
mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY TIÊU
DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về cho vay tiêu dùng
cửa, mua sắm vật dụng gia đình, chữa bệnh, đi học,…
Nguồn trả nợ: Việc sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay của người
tiêu dùng thường không đem lại thu nhập. Do vậy, nguồn trả nợ thường được lấy
từ lương hoặc thu nhập từ các hoạt động khác. Việc sử dụng vốn vay của ngân
hàng sẽ tạo cho người vay một tâm lý tích lũy, tăng đọng lực làm việc của khách
hàng.
Quy mô khoản vay: Ngoại trừ khoản vay bất động sản, hầu hết các
khoản vay tiêu dùng đều có giá trị nhỏ. Tuy nhiên đối tượng của tín dụng tiêu
dùng là mọi tâng lớp dân cư trong xã hội nên số lượng các khoản vay lại lớn. Khi
khách hàng định mua bất cứ vật dụng gì, họ đều đã có một khoản tích lũy từ
trước bởi vì ngân hàng không bao giờ cho vay 100% nhu cầu vốn. Vì thế, nhu
cầu vốn của người tiêu dùng thường không quá lớn đối với ngân hàng ngay cả
khi vay để mua nhà, xây nhà,…
Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ
kinh tế.
Đối với người tiêu dùng, nhờ vay tiêu dùng họ được hưởng các tiện ích
trước khi tích luỹ đủ tiền. Chính vì vậy khi nền kinh tế tăng trưởng mạnh, thu
nhập của người dân cũng tăng lên, họ cảm thấy lạc quan về tương lai, do đó họ
có nhu cầu mua sám nhiều, vì vậy nhu cầu về vay tiêu dùng có xu hướng tăng
mạnh. Ngược lại khi nền kinh tế suy thoái, thu nhập của người dân có xu hướng
giảm, do giá cả tăng cao nên người dân có xu hướng tiết kiệm nhiều hơn là chi
tiêu, do đó nhu cầu vay tiêu dùng giảm
CVTD là khoản mục có rủi ro cao nhất do các nguyên nhân:
Nguồn trả nợ chủ yếu từ thu nhập của người đi vay, mà tình hình tài chính
của các cá nhân và hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tùy theo tình trạng
công việc hay sức khỏe của họ nên họ không dễ dàng vượt qua khó khăn về tài
chính so với một hãng kinh doanh.
Việc thẩm định và quyết định cho vay đối với các khoản vay tiêu dùng
thường gặp khó khăn do vấn đề thông tin không đầy đủ. Các thông tin cá nhân
đưa ra thường không rõ rang và minh bạch như các báo cáo tài chính của doanh
rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi
cho ngân hàng
CVTD tạo điều kiện giúp ngân hàng đa dạng hoá hoạt động kinh doanh,
nhờ vậy nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng.
1.1.3.3 Đối với nền kinh tế
CVTD giúp người dân được hưởng các tiện ích trước khi tích luỹ đủ
tiền, nhất là trong những trường hợp chi tiêu có tính cấp bách như chi tiêu cho
giáo dục, y tế. Như vây CVTD không chỉ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng
mà còn mang lại lợi ích cho nền kinh tế.
CVTD có vai trò quan trọng trong việc kích cầu, góp phần vào việc xây
dựng nền tài chính vững mạnh cho một quốc gia. Thị trường CVTD đã góp phần
tạo nên sự sôi động của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo nguồn vốn
cho khu vực sản xuất trong nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, từ đó tăng GDP
cho nền kinh tế. Đi đôi với nó là hàng loạt các vấn đề xã hội được giải quyết như
tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp họ cải thiện mức
sống, giảm tệ nạn xã hội…
Mặt khác CVTD còn góp phần làm giảm chi phí giao dịch xã hội thông
qua việc tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả ngân hàng và khách hàng.
Tóm lại, CVTD mang lại lợi ích cho cả người tiêu dùng, người sản xuất,
NHTM hay tổng quan nền kinh tế nói chung. Có thể nói, phát triển CVTD là một
hướng đi phù hợp với sự phát triển của xã hội và tuân theo quy luật kinh tế của
các NHTM trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
1.1.4 Các hình thức CVTD
Việc phân loại CVTD được dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau nhằm giúp
đưa ra một cái nhìn toàn diện về CVTD ở những giác độ khác nhau.
1.1.4.1 Căn cứ vào mục đích vay
Căn cứ vào mục đích vay, CVTD được chia ra làm hai loại:
CVTD cư trú (Residential Mortgate Loan): Là các khoảm cho vay nhằm
tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hay cải tạo nhà ở của khách hàng là cá
nhân hay hộ gia đình.
đã hạch toán của tài sản, cho nên số tiền trả trước có một vai trò rất quan trọng
giúp ngân hàng hạn chế rủi ro.
Số tiền trả trước nhiều hay ít thường tuỳ thuộc vào các yếu tố sau:
- Loại tài sản: Đối với loại tài sản có mức độ giảm giá nhanh thì số tiền trả
trước nhiều và ngược lại, đối với các tài sản có mức độ giảm giá chậm, thì số
tiền trả trước ít.
- Thị trường tiêu thụ tài sản sau khi đã qua sử dụng: Tài sản sau khi sử dụng
vẫn có thể được tiếp tục mua, bán dễ dàng thì số tiền trả trước có xu hướng thấp,
ngược lại nếu tài sản đã qua sử dụng mà rất khó tìm được thị trường tiêu thụ thì
số tiền trả trước có xu hướng cao hơn.
- Môi trường kinh tế : Là hệ thống hoàn cảnh cấu tạo các nhân tố tạo điều
kiện, cơ sở, đồng thời tác động đến các yếu tố của nền kinh tế từ sản xuất, phân
phối, lưu thông đến tiêu dùng. Bao gồm những yếu tố của sản xuất như tình hình
cung cấp, thị trường về các loại như vật tư, nguyên liệu, sức lao động, tình hình
vốn, tài chính tín dụng, thu nhập dân cư, giá cả thị trường, sức mua của dân cư
và dung lượng thị trường, quan hệ kinh tế với nước ngoài. Như vậy, khi môi
trường kinh tế thay đổi theo chiều hướng thuận lợi thì số tiền trả trước có xu
hướng thấp và ngược lại, khi nền kinh tế thay chiều hướng bất lợi thì số tiền trả
trước có xu hướng cao hơn.
+Năng lực tài chính của người đi vay.
Là yếu tố quyết định khả năng trả nợ của khách hàng do vậy với những
khách hàng có năng lực tài chính tốt thì số tiền trả trước có thể thấp hơn so với
những khách hàng có năng lực tài chính kém hơn
+ Chi phí tài trợ
Đây là chi phí mà người đi vay phải trả cho ngân hàng cho việc sử dụng
vốn. Chi phí tài trợ bao gồm lãi vay và các chi phí khác có liên quan. Chi phí tài
trợ phải trang trải cho được chi phí vốn tài trợ, chi phí hoạt động, rủi ro, đồng
thời mang lại một phần lợi nhuận thoả đáng cho ngân hàng.
+ Điều khoản thanh toán
Khi xác định các điều khoản liên quan đến việc thanh toán nợ của khách
vốn gốc người đi vay phải trả từng định kì, được tính đều nhau bằng cách lấy
vốn ban đầu chia cho số kỳ hạn thanh toán. Còn lãi phải trả mỗi định kỳ được
tính trên số tiền khách hàng thực sự thiếu ngân hàng.
- Phương pháp hiện giá (present Value Method): Theo phương pháp này,
số tiền gốc và lãi mà người đi vay phải trả theo từng định kỳ nhất định được tính
theo công thức sau đây:
Trong đó:
a =
V
(1+i)n
i
(1
+i)n
-
1 a : Số tiền gốc và lãi phải trả theo từng định kỳ
V: Số vốn gốc ban đầu
i : Lãi suất cho vay
n : Số kỳ hạn trả nợ
+ Vấn đề phân bổ lãi cho vay theo thời hạn
Khi sử dụng phương pháp gộp để tính lãi, các ngân hàng thường tiến
hành phân bổ lại phần lãi cho vay đã được tính. Việc phân bổ theo định kỳ gắn
liền với các kỳ thanh toán hoặc cũng có thể được thực hiện theo quý hay theo
năm tài chính. Tuy nhiên, việc phân bổ lãi theo năm tài chính thường được các
Là các khoản CVTD trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín
dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai.
Theo phương pháp này, trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước, căn cứ
vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng
cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo hạn
mức tín dụng.
Lãi phải trả mỗi kỳ có thể được tính dựa trên một trong ba cách sau:
+ Lãi được tính trên số dư nợ đã được điều chỉnh: Theo phương pháp
này số dư nợ được dùng để tính lãi là số dư nợ cuối cùng của mỗi kỳ sau khi
khách hàng đã thanh toán nợ cho ngân hàng.
+ Lãi được tính dựa trên số dư nợ trước khi được điều chỉnh: Theo
phương pháp này, số dư nợ dùng để tính lãi là số dư nợ mối kỳ có trước khi
khoản nợ được thanh toán.
+ Lãi được tính trên cơ sở dư nợ bình quân
1.1.4.3Căn cứ vào nguồn gốc khoản nợ
Căn cứ vào nguồn gốc khoản nợ, CVTD gồm:
a. CVTD gián tiếp (Indirect Consumer Loan):
CVTD gián tiếp là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản
nợ phát sinh do những công ty bán lẻ bán chịu hàng hoá hay dịch vụ cho người
tiêu dùng.
Thông thường CVTD gián tiép được thực hiện theo sơ đồ sau: 3
NGÂN HÀNG
Cho phép ngân hàng tiết giảm được chi phí trong cho vay
Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động
ngân hàng khác.
Trong trường hợp có quan hệ với những công ty bán lẻ tốt, CVTD gián
tiếp an toàn hơn CVTD trực tiếp.
* Một số nhược điểm của CVTD gián tiếp:
Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán chịu.
Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán
chịu hàng hoá.
Kỹ thuật nghiệp vụ CVTD gián tiếp có tính phức tạp cao.
CVTD gián tiếp thường được thực hiện thôn qua các phương thức sau:
Tài trợ truy đòi toàn bộ (Full Recourse Financing):
Theo phương thức này khi bán cho ngân hàng các khoản nợ mà người tiêu
dùng đã mua chịu, công ty bán lẻ cam kết sẽ thanh toán cho ngân hàng toàn bộ
các khoản nợ nếu khi đến hạn, người tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng.
Tài trợ truy đòi hạn chế (Limited Recourse Financing):
Theo phương thức này, trách nhiệm của công ty bán lẻ đối với các khoản
nợ người tiêu dùng mua chịu không thanh toán chỉ giới hạn trong một chừng
mực nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã được thoả thuận giữa ngân hàng
với công ty bán lẻ.
Các thoả thuận thường gặp trong truy đòi hạn chế:
Công ty bán lẻ phải chịu trách nhiệm thanh toán một phần nợ trong
trường hợp nếu người mua chịu không đủ các tiêu chuẩn tín dụng do ngân hàng
đề ra.
Công ty bán lẻ cam kết chịu trách nhiệm cho toàn bộ số nợ đã bán chịu
cho đến khi ngân hàng thu hồi được một số lượng khoản nợ nhất định đúng hạn.
Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạn
theo một tỷ lệ nhất định so với tổng số nợ trong một thời hạn nhất định.
Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạn
trong phạm vi số tiền sự phòng ký gửi tại ngân hàng. Thường thì số tiền dự
CÔNG TY BÁN LẺ NGƯỜI TIÊU DÙNG
1
2
3
5
4
(3): Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty bán
lẻ.
(4): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(5): Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng.
So với CVTD gián tiếp, CVTD trực tiếp ngân hàng có thể tận dụng được
một số ưu điểm sau:
Ngân hàng có thể tận dụng được sở trường của nhân viên tín dụng, nên
các quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn.
Do tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nên CVTD linh hoạt hơn so với
CVTD gián tiếp. Khi khách hàng có quan hệ trực tiếp với ngân hàng, có rất
nhiều lợi thế có thể phát sinh, có khả năng làm thoả mãn quyền lơi cho cả hai
phía khách hàng lẫn ngân hàng.
Nhược điểm của CVTD trực tiếp:
Ngân hàng thường khó tăng doanh số cho vay
Ngân hàng thường khó mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng vì
ngân hàng phải trực tiếp tiếp xúc với khách hàng mà số lượng cán bộ tín dụng
của ngân hàng không đủ để đáp ứng
Chi phí cao hơn nên lãi suất cho vay thường cao
Các hình thức CVTD trực tiếp
khốc liệt, các NHTM mới chú ý đến mảng sản phẩm dịch vụ này và bắt đầu
hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng trung thành tiềm năng. Sản
phẩm CVTD không chỉ đem lại lợi ích cho các NHTM, cho khách hàng mà còn
thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. Vì vậy, việc các NHTM mở rộng
cung cấp sản phẩm dịch vụ này là một xu hướng phát triển tất yếu và cần thiết.
Mở rộng CVTD có nghĩa là tạo ra sự gia tăng về mặt quy mô, khối lượng,
số lượng, là nói đến tăng trưởng theo chiều rộng của các khoản tín dụng tiêu
dùng. Như vậy, mở rộng CVTD tức là việc ngân hàng thực hiện tăng quy mô, tỷ
trong CVTD trong cơ cấu cho vay nhằm đáp ứng tốt nhất các nhu cầu chính
đáng của người tiêu dùng.
Như vậy có thể hiểu rằng:
Mở rộng CVTD phản ánh khả năng đáp ứng ngày càng tăng về vốn
của nền kinh tế, theo một cơ cấu hợp lý phù hợp với tốc độ phát triển của xã hội
trong từng thời kỳ, qua đó cho thấy sự tăng trưởng và phát triển của ngân hàng
Mở rộng CVTD chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan như : khả
năng quản lý, nguồn vốn, trình độ của đội ngũ cán bộ,… và khách quan như: sự
phát triển kinh tế xã hội, cơ chế chính sách nhà nước, tình hình Chính trị,…
Mở rộng CVTD được xác định trên cơ sở việc thực hiện đa dạng hóa
khách hàng, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cũng như các đối tượng vay. Việc
xây dựng các mức lãi suất hợp lý cũng như xác định kỳ hạn trả nợ phù hợp với
nguồn thu nhập của khách hàng, với chu kỳ sản xuất kinh doanh cũng góp phần
làm mở rộng CVTD của ngân hàng.
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng CVTD
1.2.2.1 Nhân tố khách quan
+ Môi trường kinh tế
Tốc độ tăng trưởng : Ngân hàng sẽ dễ dàng huy động vốn và sử
dụng vốn khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định. Khi đó mức sống của người dân
cũng không ngừng được nâng cao, thu nhập ổn định, nhu cầu của người dân
cũng thay đổi theo chiều hướng phong phú đa dạng hơn. Vì vậy, CVTD sẽ có
môi trường thuận lợi để phát triển.
được xem là nguồn cung tín dụng không những đối với tín dụng thương mại mà
còn đối với CVTD.
+ Môi trường chính trị pháp luật
Ngân hàng là một trong những ngành kinh tế chịu sự giám sát, quản lý
chặt chẽ của luật pháp và các cơ quan chức năng của Chính phủ. Hoạt động của
ngân hàng được điều chỉnh bởi các quy định của Ngân hàng Nhà nước, luật các
tổ chức tín dụng, luật dân sự và các quy định khác. Khi những văn bản pháp luật,
các quy định rõ ràng, đầy đủ, đồng bộ và ổn định sẽ là hành lang pháp lý vững
chắc, góp phần vào sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng trong hoạt động
cho vay. Mặt khác cũng sẽ khuyến khích đầu tư trong nước, gọi vốn từ nước
ngoài, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Ngược lại khi những quy định của luật pháp không rõ ràng, không đồng
bộ, kịp thời, không ổn định sẽ làm cho khả năng mở rộng CVTD bị giảm sút.
+ Môi trường công nghệ
Các ngân hàng phải nắm bắt và ứng dụng công nghệ hiện đại vào hoạt
động ngân hàng. Đặc biệt trong lĩnh vực CVTD như công nghệ thẻ, hệ thống
máy tính và phần mềm hiện đại giúp ngân hàng giải quyết công việc nhanh
chóng, hiệu quả và chính xác cao. Từ đó tăng quy mô, chất lượng sản phẩm dịch
vụ, tăng vị thế của ngân hàng trong cạnh tranh. Bên cạnh việc áp dụng công nghệ
hiện đại thì các ngân hàng cũng cần phải chú trọng vào đào tạo nhân viên có
trình độ có thể làm chủ được công nghệ ấy.
1.2.2.2 Nhân tố chủ quan
+ Nguồn lực về tài chính: