Mở rộng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam - Pdf 88

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2009 là năm thứ 3 Việt Nam tham gia tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO) và cũng là năm chứng kiến sự biến động mạnh mẽ trên thị trường tài chính
tiền tệ trong nước và quốc tế. Sự biến động cuộc khủng hoảng kinh tế Thế giới đã
tác động mạnh đến đời sống nhân dân: lạm phát tăng cao, giá dầu, giá vàng tăng kỷ
lục,… lãi suất cũng liên tục biến động mạnh trong năm. Không chỉ ảnh hưởng đến
đời sống nhân dân, hệ thống Ngân hàng cũng chịu rất nhiều tác động xấu, cụ thể
nhất là khả năng thanh khoản của các Ngân hàng, tạo ra sức ép tăng lãi suất huy
động.
Năm 2009 cũng là năm cạnh tranh trên thị trường dịch vụ ngân hàng diễn
ra quyết liệt hơn với nhiều loại hình sản phẩm dịch vụ mới được các ngân hàng
triển khai cung cấp tới khách hàng. Các ngân hàng có vốn Nhà nước tập trung
phát triển theo hướng thành lập các tập đoàn tài chính, trong khi các ngân hàng
thương mại cổ phần có quy mô trung bình và nhỏ tập trung định hướng phát triển
ngân hàng bán lẻ với các đối tượng khách hàng chủ yếu là doanh nghiệp vừa và
nhỏ và khách hàng cá nhân. Vì vậy có thể nhận thấy trên thị trường dịch vụ ngân
hàng năm qua sôi động hơn với việc các ngân hàng đẩy mạnh các hoạt động
ngân hàng bán lẻ. Khách hàng có thêm nhiều lựa chọn sử dụng những tiện ích
ngân hàng để thanh toán cho những chi phí trong cuộc sống hàng ngày như tiền
điện, nước, điện thoại, internet, mua sắm tại một số siêu thị,…
Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam cũng không nằm
ngoài xu hướng phát triển chung của thị trường. Ngay từ những ngày đầu thành
lập VCB cũng đã xác định cạnh tranh phát triển cho vay tiêu dùng sẽ là hướng đi
mới giúp phân tán rủi ro và nâng cao khả năng hội nhập. Tuy đã bước đầu hình
thành và tổ chức hoạt động theo thông lệ của các NHTM hiện đại trên thế giới,
theo đó các hoạt động bán lẻ được quan tâm chỉ đạo và kiểm soát một cách bài
bản nhưng trong bối cảnh nền kinh tế đương đầu với những khó khăn thách thức,
hoạt động tín dụng tiêu dùng của Vietcombank gặp không ít khó khăn.
Xuất phát từ lý do đó, tôi chọn đề tài “ Mở rộng cho vay tiêu dùng tại
ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam” làm đề tài cho

hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu, chiếm
từ 1/3 đến 2/3 nguồn thu của các ngân hàng. Các ngân hàng cung cấp nhiều loại
hình cho vay khác nhau dựa trên quy mô của từng ngân hàng, tương ứng với sự
đa dạng trong mục đích vay, trên cơ sở đó mà tín dụng được phân thành nhiều
loại như : cho vay ngắn hạn, cho vay dài hạn, cho vay cá nhân, cho thuê…trong
đó mảng CVTD là một trong những thị trường đầy tiềm năng của các ngân hàng.
Vậy CVTD là gì?
Trên thực tế có rất nhiều định nghĩa khác nhau về CVTD. Nhưng nhìn
chung có thể định nghĩa CVTD là khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi
tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài
chính quan trọng giúp những người này trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia
đình, xe cộ,… Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và dịch
vụ… cũng có thể được tài trợ bởi CVTD.
1.1.2 Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
Ngoài những đặc trưng chung của tín dụng ngân hàng: là quan hệ vay mượn
dựa trên cơ sở niềm tin, là quan hệ vay mượn có thời hạn và có hoàn trả, tiền vay
được cấp dựa trên cơ sở hoàn trả vô điều kiện, CVTD có những đặc điểm riêng
như sau:
• Khách hàng vay: là các cá nhân và hộ gia đình. Thu nhập và tiêu dùng
có mối quan hệ thuận chiều với nhau nên những người có thu nhập cao
thường có xu hướng vay tiền nhiều hơn những người có thu nhập thấp,
và thường có nhu cầu vay nhiều hơn so với thu nhập hàng năm của
mình. Tương tự như vậy, những gia đình mà chủ gia đình hay người
tạo ra thu nhập chính có học vấn cao cũng thường có nhu cầu sử dụng
những hàng hóa hiện đại và đắt tiền hơn, do đó mà nhu cầu tiêu dùng
cũng cao hơn.
• Mục đích vay: Đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân chứ không phải
mục đích kinh doanh. Các nhu cầu đó có thể liệt kê như : mua nhà, xây
dựng nhà cửa, mua sắm vật dụng gia đình, chữa bệnh, đi học,…
• Nguồn trả nợ: Việc sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay của người

dàng giữ kín thông tin về triển vọng công việc cũng như sức khỏe của mình.
• Chi phí quản lý khoản vay tiêu dùng lớn: Các ngân hàng thường mất
nhiều thời gian và nhân lực để điều tra, thu thập các thông tin cá nhân,
hộ gia đình trước khi phát tiền vay. Trong khi đó, số lượng các khoản
CVTD lại lớn khiến chi phí để quản lý các khoản tín dụng này của
ngân hàng là rất lớn, không những vậy ngân hàng còn phải chịu những
chi phí khác như chi phí quản lý khoản vay, theo dõi với khách hàng
thường xuyên.
• Lợi nhuận từ CVTD cao: Do rủi ro và chi phí cao nên ngân hàng
thường đặt mức lãi suất cao đối với các khoản CVTD. Lãi suất CVTD
phải đáp ứng được phần lợi nhuận mong đợi và phần bù rủi ro.
1.1.3 Vai trò của cho vay tiêu dùng
1.1.3.1. Đối với người tiêu dùng
Việt Nam đang là một trong những nước có tốc độ phát triển kinh tế
nhanh nhất thế giới, tình hình chính trị ổn định, đời sống vật chất và tinh thần
của dân cư ngày càng được nâng cao một cách rõ rệt. Chính vì vậy nhu cầu tiêu
dùng của người dân về những sản phẩm tiện ích, hiện đại ngày càng cao. Tuy
nhiên do không phải tất cả mọi người đều có khả năng tự trang trải cho tất cả các
nhu cầu của mình bằng chính nguồn lực của mình. Dịch vụ cho vay tiêu dùng ra
đời đã giúp khách hàng được hưởng các tiện ích trước khi tích luỹ đủ tiền, đặc
biệt trong những trường hợp cấp thiết như nhu cầu về giáo dục và y tế.
1.1.3.2 Đối với ngân hàng
• CVTD nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng :Việt Nam đã chính
thức gia nhập sân chơi chung của nền kinh tế thế giới, điều tất yếu đó là
các ngân hàng sẽ phải đối mặt với sự cạnh trang găy gắt từ phía các TCTD
trong nước cũng như nước ngoài tham gia vào thị trường tiền tệ Việt
Nam. Để đảm báo khả năng cạnh tranh thì ngân hàng phải đưa ra được các
dịch vụ tài chính thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng hơn đối thủ
cạnh tranh. Một trong những dịch vụ đó là CVTD
• CVTD là một trong những dịch vụ tài chính giúp các ngân hàng mở rộng

• CVTD phi cư trú (Unresidential Loan): CVTD phi cư trú là các khoản cho
vay tài trợ cho việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình,
chi phí học hành, giải trí và du lịch…
1.1.4.2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả
Căn cứ vào phương thức hoàn trả, CVTD có thể chia làm ba loại:
• CVTD trả góp (Installment Consumer Loan): Đây là hình thức CVTD
trong đó người đi vay trả nợ (gồm số tiên gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều
lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay. Phương thức này
được áp dụng cho những khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập định kì
của người đi vay không đủ khả năng thanh toán hết một lần số nợ vay.
Đối với loại CVTD này, các NHTM thường quan tâm đến một số vấn
đề mang tính nguyên tắc sau:
+ Loại tài sản được tài trợ:
Loại tài sản được tài trợ có ảnh hưởng lớn đến thiện chí trả nợ của khách
hàng. Thiện chí trả nợ của người đi vay sẽ tốt hơn nếu tài sản hình thành từ tiền
vay đáp ứng nhu cầu thiết yếu đối với họ lâu dài trong tương lai. Chính vì vậy
nên ngân hàng thường muốn tài trợ cho nhu cầu mua sắm những tài sản có thời
hạn sử dụng lâu bền hoặc có giá trị lớn. Vì với những tài sản như vậy, người tiêu
dùng sẽ hưởng những tiện ích của chúng trong một thời gian dài nên thiện chí trả
nợ của họ sẽ tốt hơn.
+ Số tiền phải trả trước
Ngân hàng thường yêu cầu người đi vay phải thanh toán trước một phần
giá trị tài sản cần mua sắm, số tiền này được gọi là số tiền trả trước. Phần còn lại
ngân hàng sẽ cho vay. Số tiền trả trước cần phải đủ lớn một mặt, một mặt làm
cho người đi vay nghĩ rằng họ chính là chủ sở hữu tài sản, Mặt khác có tác dụng
hạn chế rủi ro cho ngân hàng. Một khi không cảm nhận được rằng mình chính là
chủ sở hữu của tài sản hình thành từ tiền vay thì người đi vay có thể sẽ có thái độ
miễn cuỡng trong việc trả nợ. Ngoài ra khi khách hàng không trả được nợ, trong
nhiều trường hợp ngân hàng đành phải thụ đắc hoặc phát mãi tài sản để thu hồi
nợ. Hầu hết các tài sản đã qua sử dụng đều bị giảm giá trị thường nhỏ hơn giá trị

hàng, ngân hàng thường chú ý tới một số vấn đề sau:
Số tiền thanh toán mỗi định kỳ phải phù hợp với khả năng về thu nhập,
trong mối quan hệ hài hoà với các nhu cầu chi tiêu khác của khách hàng.
Giá trị của tài sản tài trợ không thấp hơn số tiền tài trợ chưa được thu hồi
Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của khách hàng. kỳ hạn trả nợ
thường theo tháng. vì thông thường nguồn trả nợ chính của người vay tiêu dùng
là lương, được nhận hàng tháng
Thời hạn tài trợ không nên quá dài. Thời hạn tài trợ bị giới hạn bởi thời
hạn hoạt động của tài sản tài trợ. Thời hạn tài trợ quá dài dễ làm giá trị tài sản tài
trợ bị giảm mạnh. Hơn nữa, khi thời hạn tài trợ quá dài thì thiện chí trả nợ của
người đi vay cũng như việc thu hồi nợ thường gặp nhiều rắc rối.
Số tiền khách hàng phải thanh toán cho ngân hàng mỗi định kỳ có thể được
tính bằng một trong số các phương pháp sau:
- Phương pháp gộp (Add-on Method): Đây là phương pháp thường được
áp dụng trong CVTD trả góp.
Theo phương pháp này, lãi được tính bằng cách lấy vốn gốc nhân với lãi suất
và thời hạn vay, sau đó cộng gộp vào vốn gốc rồi chia cho số kỳ hạn phải thanh
toán để tìm số tiền phải thanh toán ở mỗi định kỳ.
Công thức tính toán như sau:
T = (V+L)/n
Với L = V × r × n
Trong đó:
T : Số tiền phải thanh toán cho ngân hàng mỗi kỳ hạn
L: Chi phí tài trợ, bao gồm lãi vay phải thanh toán và các chi phí khác
có liên quan
V: Vốn gốc
N: Số kỳ hạn
R: Lãi suất tính cho mỗi kỳ hạn
- Phương pháp lãi đơn (Simple Interest Method): Theo phương pháp này,
vốn gốc người đi vay phải trả từng định kì, được tính đều nhau bằng cách lấy

này được áp dụng phương pháp hiện giá để tính phần lãi phân bổ cho
kỳ đó
+ Vấn đề trả nợ trước hạn:
Thông thường người đi vay được quyền trả nợ trước hạn mà không bị
phạt. Nếu tiền trả góp được tính theo phương lãi đơn và lãi hiện giá thì vấn đề rất
đơn giản, người đi vay, người đi vay phải thanh toán toàn bộ vốn gốc còn thiếu
và lãi vay của kỳ hạn hiện tại (nếu có) cho ngân hàng. Tuy nhiên nếu tiền trả góp
được tính bằng phương pháp gộp thì vấn đề có phần phức tạp hơn. Vì theo
phương pháp gộp, lãi được tính trên cơ sở giả định rằng tiền vay sẽ được khách
hàng sử dụng cho đến lúc kết thúc hợp đồng, cho nên nếu khách hàng trả nợ
trước hạn thì thời hạn nợ thực tế sẽ khác với thời hạn giả định ban đầu, như vậy
số tiền lãi phải trả cũng có sự thay đổi. Trong trường hợp này, ngân hàng thường
áp dụng phương pháp giống như các phương pháp phân bổ lãi cho vay nói trên
để tính ra số lãi thực sự phải thu, dựa trên thời hạn nợ thực tế.
• CVTD phi trả góp (Noninstallment Consumer Loan):
Các khoản CVTD phi trả góp chỉ được cấp cho các khoản vay có giá trị nhỏ, với
thời hạn không dài. Theo phương pháp này tiền vay được được khách hàng thanh
toán một lần khi đến hạn.
• CVTD tuần hoàn (Revoling Consumer Credit):
Là các khoản CVTD trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín
dụng hoặc phát hành loại séc được phép thấu chi dựa trên tài khoản vãng lai.
Theo phương pháp này, trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước, căn cứ
vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng
cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo hạn
mức tín dụng.
Lãi phải trả mỗi kỳ có thể được tính dựa trên một trong ba cách sau:
+ Lãi được tính trên số dư nợ đã được điều chỉnh: Theo phương pháp
này số dư nợ được dùng để tính lãi là số dư nợ cuối cùng của mỗi kỳ sau khi
khách hàng đã thanh toán nợ cho ngân hàng.
+ Lãi được tính dựa trên số dư nợ trước khi được điều chỉnh: Theo

(5): Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ
(6): Người tiêu dùng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ
* CVTD gián tiếp có một số ưu điểm sau:
• Cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh số CVTD
• Cho phép ngân hàng tiết giảm được chi phí trong cho vay
• Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng và các hoạt động
ngân hàng khác.
• Trong trường hợp có quan hệ với những công ty bán lẻ tốt, CVTD gián
tiếp an toàn hơn CVTD trực tiếp.
* Một số nhược điểm của CVTD gián tiếp:
• Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được bán chịu.
• Thiếu sự kiểm soát của ngân hàng khi công ty bán lẻ thực hiện việc bán
chịu hàng hoá.
• Kỹ thuật nghiệp vụ CVTD gián tiếp có tính phức tạp cao.
CVTD gián tiếp thường được thực hiện thôn qua các phương thức sau:
• Tài trợ truy đòi toàn bộ (Full Recourse Financing):
Theo phương thức này khi bán cho ngân hàng các khoản nợ mà người tiêu
dùng đã mua chịu, công ty bán lẻ cam kết sẽ thanh toán cho ngân hàng toàn bộ
các khoản nợ nếu khi đến hạn, người tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng.
• Tài trợ truy đòi hạn chế (Limited Recourse Financing):
Theo phương thức này, trách nhiệm của công ty bán lẻ đối với các khoản
nợ người tiêu dùng mua chịu không thanh toán chỉ giới hạn trong một chừng
mực nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã được thoả thuận giữa ngân hàng
với công ty bán lẻ.
Các thoả thuận thường gặp trong truy đòi hạn chế:
Công ty bán lẻ phải chịu trách nhiệm thanh toán một phần nợ trong
trường hợp nếu người mua chịu không đủ các tiêu chuẩn tín dụng do ngân hàng
đề ra.
Công ty bán lẻ cam kết chịu trách nhiệm cho toàn bộ số nợ đã bán chịu
cho đến khi ngân hàng thu hồi được một số lượng khoản nợ nhất định đúng hạn.

NGÂN HÀNG

CÔNG TY BÁN LẺ

NGƯỜI TIÊU DÙNG
1
2
3
5
4
(3): Ngân hàng thanh toán số tiền mua tài sản còn thiếu cho công ty bán
lẻ.
(4): Công ty bán lẻ giao tài sản cho người tiêu dùng.
(5): Người tiêu dùng thanh toán tiền vay cho ngân hàng.
So với CVTD gián tiếp, CVTD trực tiếp ngân hàng có thể tận dụng được
một số ưu điểm sau:
• Ngân hàng có thể tận dụng được sở trường của nhân viên tín dụng, nên
các quyết định tín dụng trực tiếp của ngân hàng thường có chất lượng
cao hơn.
• Do tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nên CVTD linh hoạt hơn so với
CVTD gián tiếp. Khi khách hàng có quan hệ trực tiếp với ngân hàng,
có rất nhiều lợi thế có thể phát sinh, có khả năng làm thoả mãn quyền
lơi cho cả hai phía khách hàng lẫn ngân hàng.
Nhược điểm của CVTD trực tiếp:
• Ngân hàng thường khó tăng doanh số cho vay
• Ngân hàng thường khó mở rộng quan hệ tín dụng với khách hàng vì
ngân hàng phải trực tiếp tiếp xúc với khách hàng mà số lượng cán bộ
tín dụng của ngân hàng không đủ để đáp ứng
• Chi phí cao hơn nên lãi suất cho vay thường cao
Các hình thức CVTD trực tiếp

đối với các cá nhân và hộ gia đình. Chỉ từ đầu thế kỷ 20, đối mặt với sự cạnh
tranh khốc liệt, các NHTM mới chú ý đến mảng sản phẩm dịch vụ này và bắt
đầu hướng tới người tiêu dùng như là một khách hàng trung thành tiềm năng.
Sản phẩm CVTD không chỉ đem lại lợi ích cho các NHTM, cho khách hàng mà
còn thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. Vì vậy, việc các NHTM mở
rộng cung cấp sản phẩm dịch vụ này là một xu hướng phát triển tất yếu và cần
thiết.
Mở rộng CVTD có nghĩa là tạo ra sự gia tăng về mặt quy mô, khối lượng,
số lượng, là nói đến tăng trưởng theo chiều rộng của các khoản tín dụng tiêu
dùng. Như vậy, mở rộng CVTD tức là việc ngân hàng thực hiện tăng quy mô, tỷ
trong CVTD trong cơ cấu cho vay nhằm đáp ứng tốt nhất các nhu cầu chính
đáng của người tiêu dùng.
Như vậy có thể hiểu rằng:
• Mở rộng CVTD phản ánh khả năng đáp ứng ngày càng tăng về vốn
của nền kinh tế, theo một cơ cấu hợp lý phù hợp với tốc độ phát triển
của xã hội trong từng thời kỳ, qua đó cho thấy sự tăng trưởng và phát
triển của ngân hàng
• Mở rộng CVTD chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ quan như : khả
năng quản lý, nguồn vốn, trình độ của đội ngũ cán bộ,… và khách
quan như: sự phát triển kinh tế xã hội, cơ chế chính sách nhà nước,
tình hình Chính trị,…
• Mở rộng CVTD được xác định trên cơ sở việc thực hiện đa dạng hóa
khách hàng, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cũng như các đối tượng
vay. Việc xây dựng các mức lãi suất hợp lý cũng như xác định kỳ hạn
trả nợ phù hợp với nguồn thu nhập của khách hàng, với chu kỳ sản
xuất kinh doanh cũng góp phần làm mở rộng CVTD của ngân hàng.
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến mở rộng CVTD
1.2.2.1 Nhân tố khách quan
+ Môi trường kinh tế
• Tốc độ tăng trưởng : Ngân hàng sẽ dễ dàng huy động vốn và sử dụng

cho vay giữa ngân hàng với khách hàng. Thông thường nơi nào tập
trung nhiều những người có địa vị xã hội thì mới có cơ hội phát triển
mạnh CVTD vì họ có thu nhập cao và ổn định, họ cũng nhận thức
được những tiện lợi mà CVTD mang lại. Còn nơi nào tập trung những
người lao động chân tay thì khó phát triển CVTD vì những người này
thường cú xu hướng tích trữ tiền tại ngân hàng, vì vậy đây được xem là
nguồn cung tín dụng không những đối với tín dụng thương mại mà còn
đối với CVTD.
+ Môi trường chính trị pháp luật
Ngân hàng là một trong những ngành kinh tế chịu sự giám sát, quản lý
chặt chẽ của luật pháp và các cơ quan chức năng của Chính phủ. Hoạt động của
ngân hàng được điều chỉnh bởi các quy định của Ngân hàng Nhà nước, luật các
tổ chức tín dụng, luật dân sự và các quy định khác. Khi những văn bản pháp luật,
các quy định rõ ràng, đầy đủ, đồng bộ và ổn định sẽ là hành lang pháp lý vững
chắc, góp phần vào sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng trong hoạt động
cho vay. Mặt khác cũng sẽ khuyến khích đầu tư trong nước, gọi vốn từ nước
ngoài,.. từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Ngược lại khi những quy định của luật pháp không rõ ràng, không đồng
bộ, kịp thời, không ổn định sẽ làm cho khả năng mở rộng CVTD bị giảm sút.
+ Môi trường công nghệ
Các ngân hàng phải nắm bắt và ứng dụng công nghệ hiện đại vào hoạt
động ngân hàng. Đặc biệt trong lĩnh vực CVTD như công nghệ thẻ, hệ thống
máy tính và phần mềm hiện đại giúp ngân hàng giải quyết công việc nhanh
chóng, hiệu quả và chính xác cao. Từ đó tăng quy mô, chất lượng sản phẩm dịch
vụ, tăng vị thế của ngân hàng trong cạnh tranh. Bên cạnh việc áp dụng công
nghệ hiện đại thì các ngân hàng cũng cần phải chú trọng vào đào tạo nhân viên
có trình độ có thể làm chủ được công nghệ ấy.
1.2.2.2 Nhân tố chủ quan
+ Nguồn lực về tài chính:
• Vốn tự có : Là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập và thuộc

nhân viên ngân hàng trung thành và cống hiến vì sự phát triển của ngân hàng
hơn.
+ Cơ sở vật chất thiết bị
Việc trang bị đầy đủ các thiết bị tiên tiến, phù hợp với phạm vi, quy mô
hoạt động phục vụ kịp thời các yêu cầu của khách hàng, tạo sự thuận tiện, thoải
mái cho quá trình giao dịch giữa ngân hàng với khách hàng, từ đó giúp ngân
hàng tăng khả năng cạnh tranh, thu hút được nhiều khách hàng hơn.
1.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá sự mở rộng CVTD
1.2.3.1 Chỉ tiêu về số lượt khách hàng giao dịch với ngân hàng
Khi ngân hàng có sự tập trung vào việc mở rộng CVTD, ngân hàng sẽ có
biện pháp để thu hút khách hàng đến với mình, sẻ dụng các sản phẩm tín dụng
của mình. Ngân hàng càng thực hiện tốt việc mở rộng CVTD bao nhiêu thì số
lượng khách hàng giao dịch sẽ tăng lên bấy nhiêu.
• Số lượng khách hàng: Là tổng số khách hàng thực hiện giao dịch với
ngân hàng. trong hoạt động CVTD, số lượng khách hàng thể hiện số
các khoản vay tiêu dùng mà ngân hàng cấp cho khách hàng.
• Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về số lượng khách hàng tuyệt đối
Mức tăng, giảm số lượng khách hàng= Số lượng khách hàng năm (t)- Số
lượng khách hàng năm (t-1)
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho phép ngân hàng đánh giá việc mở rộng quy mô
và đối tượng khách hàng tại ngân hàng.
• Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng khách hàng tương đối
Giá trị tăng trưởng khách
hàng tương đối
=
Mức tăng giảm số lượng khách hàng . 100%
Số lượng khách hàng VTD năm (t-1)
• Chỉ tiêu số lượt khách hàng: là số lần khách hàng đến giao dịch với
ngân hàng trong một năm. Trong hoạt động CVTD, số lượt khách hàng
thể hiện số lần khách hàng đến ngân hàng thực hiện vay tiêu dùng. Khi

tính bằng tỷ lệ % của thương số giữa giá trị tăng trưởng doanh số CVTD
tuyệt đối với tổng doanh số CVTD năm (t-1).
Giá trị tăng trưởng
doanh số tương đối
=
Giá trị tăng trưởng doanh số tuyệt đối . 100%
Tổng doanh số CVTD năm (t-1)
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết tốc độ tăng trưởng doanh số của hoạt động
CVTD năm (t) so với năm (t-1). Khi chỉ tiêu này tăng lên, thể hiện rằng doanh số
CVTD qua các năm của ngân hàng đã tăng lên về số tương đối.
• Chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng về tỷ trọng:
Tæng doanh sè CVTD . 100%
Tû träng =
Tæng doanh sè ho¹t ®éng cho vay
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết doanh số của hoạt động CVTD chiếm tỷ
trọng bao nhiêu trong tổng doanh số của hoạt động cho vay của ngân hàng. Khi
tỷ trọng của CVTD tăng lên qua các năm, chứng tỏ rằng hoạt động CVTD đã
được mở rộng.
1.2.3.3 Chỉ tiêu phản ánh dư nợ CVTD
• Dư nợ CVTD:
Dư nợ tín dụng phản ánh số tiền mà khách hàng đang nợ ngân hàng tại
một thời điểm, nên chỉ tiêu này là một con số thời điểm. Căn cứ vào mức dư nợ
và tỷ lệ dư nợ có thể cho ta biết ngân hàng có thực hiện mở rộng tín dụng hay
không. Bởi khi ngân hàng thực hiện chính sách mở rộng tín dụng thì dư nợ tín
dụng thường ở mức cao. Tuy nhiên để có thể đánh giá chính xác việc mở rộng
tín dụng của ngân hàng, phải kết hơp giữa chỉ tiêu dư nợ tín dụng với chỉ tiêu
danh số cho vay của ngân hàng.

Trích đoạn Hoạt động sử dụng vốn Khỏi quỏt về tỡnh hỡnh cho vay tiờu dựng hiện nay tại Việt Nam Thực trạng mở rộng CVTD tại Ngõn hàng Ngoại Thương Việt Nam Những kết quả được. Những tồn tại và nguyờn nhõn của tồn tại trong hoạt động cho vay tiờu dựng tại Ngõn hàng Ngoại Thương Việt Nam
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status