Website: Email : Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khoảng thời gian ghi lại nhiều sự kiện đáng nhớ của ngành Ngân hàng
nói riêng cũng như toàn cảnh nền kinh tế của Việt Nam nói chung chính là từ
cuối năm 2007 và năm 2008 – khủng hoảng tài chính toàn cầu. Cuộc chạy đua
lãi suất tiết kiệm cũng như lãi suất cho vay ở các Ngân hàng bùng nổ. Chính
vì vậy để nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh, chủ động tham gia hội nhập nền
kinh tế quốc tế, các Ngân hàng thương mại trong đó có Ngân hàng thương
mại cổ phần Đông Nam Á đang tiến hành mở rộng, đa dạng hoá các sản
phẩm, dịch vụ,…trở nên phong phú và đa dạng hơn đáp ứng tốt hơn nhu cầu
của khách hàng.
Việt Nam được đánh giá là thiên đường của thị trường bán lẻ vì khi thu
nhập của người dân tăng cao thì nhu cầu về tiêu dùng cũng được tăng lên, làm
thế nào để thoả mãn tối đa nhu cầu đó thì là một câu hỏi đặt ra cần có câu trả
lời. Nếu như trước đây, người dân Việt Nam chỉ nghĩ đến “ăn sao cho no, mặc
sao cho ấm” thì hiện nay, nhu cầu của họ đã khác hẳn, họ quan tâm tới “ăn
phải ngon, mặc phải đẹp” và việc sở hữu những tài sản có giá trị lớn như nhà
cửa, xe hơi… đã trở thành nhu cầu thiết yếu của nhiều người. Tuy nhiên,
không phải lúc nào thu nhập của người dân cũng có khả năng chi trả hết các
nhu cầu tiêu dùng của họ. Điều này ảnh hường lớn đến người tiêu dùng và
hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế, vì nhu cầu tiêu
dùng không được chuyển thành hàng hoá. Với mức thu nhập trung bình trong
hoàn cảnh chỉ số giá tiêu dùng đang có xu hướng gia tăng như hiện nay thì chỉ
riêng chi trả cho những nhu cầu thiết yếu đã khó khăn, chưa kể đến tiết kiệm,
tích luỹ. Bên cạnh đó, đối với bộ phận dân cư có thu nhập trên trung bình, có
tài sản tài chính hay đã có sẵn tích luỹ nhưng đang sử dụng vào mục đích
khác như: đầu tư, cho vay, gửi tiết kiệm dài hạn,… thì khả năng thanh toán
của họ là hoàn toàn có thể và được đảm bảo. Nắm bắt được nhu cầu này, các
ngân hàng thương mại đã bắt đầu thực hiện hoạt động cho vay tiêu dùng đối
với cá nhân trong vài năm gần đây.
- Phần mở đầu.
- Nội dung gồm ba chương:
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
• Chương I: Những vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay tại các Ngân
hàng thương mại.
• Chương II: Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng
thương mại cổ phần Đông Nam Á.
• Chương III: Các giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng hoạt động
cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á.
- Kết luận.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.1. Khái quát về các Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm
Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng hoạt động vì mục đích
lợi nhuận thông qua việc kinh doanh các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu.
1.1.2. Đặc điểm chủ yếu của các Ngân hàng thương mại là
- Mục đích hoạt động là vì lợi nhuận
- Huy động vốn ngắn hạn và cho vay ngắn hạn là chủ yếu.
- Lĩnh vực cho vay chủ yếu là công nghiệp và thương mại.
- Cung ứng phần lớn tiền gửi thanh toán.
Là thành viên chủ yếu tham gia trên các thị trường tài chính.
1.1.3. Hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại
Nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ cung ứng vốn của
ngân hàng trực tiếp cho các nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trên cơ sở thỏa mãn
các điều kiện vay vốn của Ngân hàng. Khi thực hiện nghiệp vụ cho vay, ngân
hàng có thể kiểm soát trực tiếp và thường xuyên mục đích sử dụng tiền vay.
Đối với các ngân hàng truyền thống thì cho vay là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu
cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong
suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận và không được hủy bỏ
hợp đồng trước thời hạn. Khi hết thời hạn thuê, bên thuê được chuyển
quyền sở hữu, mua lại, hoặc tiếp tục thuê tài sản đó theo các điều kiện
đã thỏa thuận trong hợp đồng.
- Tín dụng chữ ký: Trong hình thức này ngân hàng không trực tiếp cho
khách hàng vay bằng tiền nhưng bằng uy tín của mình, ngân hàng tạo
điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn của người khác và đảm bảo
thanh toán cho khách hàng. Cho nên nó là một hình thức tín dụng
nhưng trong hạch toán, nó không làm thay đổi bằng quyết toán tài sản
mà được hạch toán ngoại bảng.
- Cho vay tiêu dùng: Đây là hình thức tín dụng được thực hiện để tài trợ
cho nhu cầu tiêu dùng của cá nhân. Tùy thuộc vào tình trạng tài chính
của mình mà người vay có nhu cầu khách nhau như: Mua nhà, mua ô
tô, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp nhà ở,…
1.2. Hoạt động cho vay tiêu dùng
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2.1. Khái niệm
Như trên đã nói thì hình thức tín dụng tiêu dùng là hình thức tín dụng
được thực hiện để tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Vì vậy, đối
tượng của cho vay tiêu dùng chính là những chi phí chi tiêu cần thiết của cá
nhân và hộ gia đình. Những chi phí này được xác định dựa trên cơ sở giá cả
hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng đang có nhu cầu tiêu dùng và dựa trên khả
năng chi trả trong tương lai của họ.
Hình thức cho vay tiêu dùng là hình thức tài trợ mang lại lợi nhuận khá
lớn cho ngân hàng. Tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng triển khai hình
thức cho vay này một cách rộng rãi vì do những đặc trưng riêng của hình thức
này.
1.2.2. Đặc điểm của hoạt động cho vay tiêu dùng
Số lượng các khoản vay nhiều tuy nhiên các khoản vay lại thường có giá trị
Mặc dù tốn chi phí, độ rủi ro cao nhưng các khoản vay này vẫn mang lại lợi
nhuận khá lớn cho các ngân hàng.
Hoạt động cho vay tiêu dùng này có độ rủi ro tiềm ẩn là khá cao, nó
ảnh hưởng tới an toàn trong hoạt động ngân hàng, khách hàng có nhu cầu vay
ngân hàng phục vụ cho mục đích vay tiêu dùng thì phải chịu một mức lãi suất
cao. Hơn nữa, số lượng khách hàng của hình thức cho vay này lại nhiều nên
mặc dù nó có độ rủi ro cao nhưng lợi nhuận thu về từ hoạt động này cũng
không phải là nhỏ.
Hoạt động cho vay tiêu dùng có tính nhạy cảm theo chu kỳ.
Khi nền kinh tế phát triển có xu hướng mở rộng, tốc độ tăng trường
kinh tế cao, khi mà mọi người cảm thấy tin tưởng vào tương lai thì hoạt động
này ngày càng gia tăng. Tuy nhiên ngược lại nếu như nền kinh tế rơi vào tình
trạng suy thoái, thất nghiệp gia tăng, những nhu cầu mua sắm nhà cửa, ô tô,
… với họ dường như là không còn cần thiết, họ sẽ hạn chế vay mượn ngân
hàng làm cho hoạt động cho vay tiêu dùng này giảm xuống.
1.2.3. Các loại cho vay tiêu dùng
Việc phân loại cho vay tiêu dùng được dựa trên nhiều hình thức khác
nhau nhằm giúp cho người đọc có cái nhìn toàn diện về cho vay tiêu dùng ở
những giác độ khác nhau.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2.3.1. Căn cứ vào mục đích vay
- Cho vay tiêu dùng cư trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu
cầu mua sắm, xây dựng hoặc/và cải tạo nhà ở của khách hàng là cá
nhân hoặc hộ gia đình.
- Cho vay tiêu dùng phi cư trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho
việc trang trải các chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí học
hành, giải trí và du lịch,…
Mở rộng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng thương mại
Khái niệm
Sống trong môi trường đầy tính cạnh tranh như hiện nay thì các Ngân
một thời gian.
• Số tiền phải trả trước
Thông thường NH yêu cầu KH vay phải thanh toán trước một phần giá
trị TS cần mua sắm. Số tiền này gọi là số tiền trả trước, phần còn lại NH sẽ
cho vay. Số tiền trả trước này phải đủ lớn để:
+ Đủ cho người đi vay có động lực nghĩ rằng họ chính là chủ sở hữu
của TS, nhằm tăng thiện chí trả nợ.
+ Giúp NH hạn chế rủi ro trong trường hợp phải phát mại TS vay
Số tiền trả trước là cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
+ Loại TS: Đối với các TS có mức độ giảm giá nhanh thì số tiền trả
trước phải nhiều hơn so với những tài sản có mức độ giảm giá chậm.
+ Thị trường tiêu thụ TS đã qua sử dụng: nếu TS sau khi sử dụng vẫn
có thể dễ dàng được mua bán, chuyển nhượng thì số tiền trả trước thấp và
ngược lại
+ Năng lực của người đi vay
+ Môi trường kinh tế
• Chi phí tài trợ: Là chi phí mà người đi vay phải trả cho NH cho việc sử
dụng vốn. Chi phí tài trợ phải bù đắp được chi phí huy động vốn, chi
phí hoạt động, bù đắp rủi ro, và mang lại lợi nhuận tương xứng cho NH
• Điều khoản thanh toán
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Khi xác định điều khoản thanh toán cho khoản vay, NH cần lưu ý các
yếu tố sau:
+ Số tiền thanh toán mỗi định kỳ phải phù hợp với khả năng thu nhập
của KH, và trong mối tương quan với các khoản chi tiêu khác của KH.
+ Giá trị của TS tài trợ không được thấp hơn số tiền tài trợ chưa được
thu hồi
+ Kỳ hạn trả nợ phải thuận lợi cho việc trả nợ của KH
+ Thời hạn tài trợ không nên quá dài. Bởi vì thời hạn tài trợ quá dài dễ
làm giá trị TS tài trợ bị giảm mạnh, hơn thế nữa động lực trả nợ của KH cũng
Không đủ các tiêu chuẩn tín dụng do NH đề ra.
+ Công ty bán lẻ cam kết chịu trách nhiệm cho toàn bộ số nợ đã bán
chịu cho đến khi NH thu hồi được một số lượng các khoản nợ nhất định đúng
hạn.
+ Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạn
theo một tỷ lệ nhất định so với tổng số nợ trong một thời hạn nhất định
+ Toàn bộ trách nhiệm thanh toán nợ của công ty bán lẻ được giới hạn
trong phạm vi số tiền dự phòng ký gửi tại NH. Thường số tiền dự phòng được
trích ra từ chênh lệch giữa chi phí tài trợ mà công ty bán lẻ tính cho người
mua chịu và chi phí tài trợ mà NH tính cho công ty bán lẻ. Đây là trường hợp
được các NH áp dụng phổ biến nhất
• Tài trợ miễn truy đòi
Theo phương thức này, sau khi bán các khoản nợ cho NH, công ty bán
lẻ không còn chịu trách nhiệm cho việc chúng có được hoàn trả hay không.
Phương thức chứa đựng rủi ro cao cho NH nên chi phí tài trợ thường được
NH tính cao hơn so với các phương thức nói trên và các khoản nợ được mua
cũng được kén chọn rất kỹ. Ngoài ra chỉ những công ty bán lẻ rất được NH tin
cậy mới được áp dụng phương thức này.
• Tài trợ có mua lại
Khi thực hiện CVTD gián tiếp theo phương thức miễn truy đòi, hoặc
truy đòi một phần, nếu rủi ro xẩy ra, người tiêu dùng không trả nợ thì NH
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thường phải thanh lý TS để thu hồi nợ. Trong trường hợp này, nếu có thoả
thuận trước thì NH có thể bán trở lại cho công ty bán lẻ phần nợ mình chưa
được thanh toán, kèm với TS đã được thụ đắc trong một thời hạn nhất định
- Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó
ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp
thu nợ từ người này.
1.2.4. Quy trình cho vay tiêu dùng
Quy trình cho vay tiêu được chia làm 7 bước và nội dụng các bước thực
dõi thu nợ
Tiến hành ký kết hợp đồng tín dụng, cấp giấy
chứng nhận bảo hiểm dư nợ tín dụng và giải
ngân cho khách hàng.
Hàng tháng tiến hành gọi điện thoại nhắc nợ
khách hàng
Bước 6 Kiểm tra giám sát
vốn vay
Thực hiện kiểm tra, kiểm soát vốn vay theo quy
định hiện hành
Bước 7 Thu nợ, gia hạn,
điều chỉnh kỳ hạn
nợ, tiến hàng thu nợ
trả trước hạn hay
phí phạt.
Tiến hành trích tiền từ tài khoản của khách hàng
để thu nợ hàng tháng hoặc thu nợ trả trước hạn
và các khoản phí (nếu có) theo đúng quy định.
Gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ do ngân hàng tiến
hàng lập tờ trình trình các cấp thẩm quyền xem
xét phê duyệt tùy theo hạn mức phán quyết.
1.2.5. Các chỉ tiêu dùng để đánh giá việc mở rộng cho vay tiêu dùng
Để đánh giá hiệu quả cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại, nên
kết hợp phân tích số tương đối và số tuyệt đối; theo dõi tình hình biến động
của chỉ tiêu phân tích qua các năm; khi đánh giá hiệu quả cho vay tiêu dùng
tại một đơn vị, chi nhánh có thể so sánh từng chỉ tiêu với mức chỉ tiêu bình
quân tương ứng trong cùng hệ thống ngân hàng. Nếu có điều kiện khi đánh
giá hiệu quả cho vay tại một ngân hàng thương mại, có thể so sánh các chỉ
tiêu của ngân hàng đang nghiên cứu với các chỉ tiêu tương ứng bình quân của
các ngành ngân hàng còn lại và chỉ tiêu tương ứng của từng ngành.
đến hạn thoả thuận trên hợp đồng tín dụng. Các chỉ tiêu nợ quá hạn phản ánh
mức độ an toàn của hoạt động tín dụng.
Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ bình quân: là tỷ lệ giữa khoản nợ gốc
quá hạn (hoặc tính cả tiền lãi quá hạn) trên tổng dư nợ.
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Nợ gốc quá hạn
Tổng dư nợ
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Tỷ lệ nợ quá hạn thấp biểu hiện độ an toàn tín dụng tại ngân hàng cao
và ngược lại. NHTM có nhiều khoản nợ quá hạn có nguy cơ mất vốn cao, làm
hiệu quả tín dụng tại ngân hàng thấp.
Tỷ lệ nợ quá hạn ngầm chỉ ra rủi ro đối với các khoản cho vay, cho biết
tỷ lệ dư nợ có nguy cơ mất vốn một phần hoặc toàn bộ trên tổng dư nợ. Theo
quy định của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ > 7% là
yếu kém. Nếu chỉ số này dưới mức 5% , ngân hàng được đánh giá có nghiệp
vụ tín dụng, chất lượng cho vay cao.
Tuy nhiên, tỷ lệ dư nợ quá hạn phản ánh rủi ro nhiều khi không chính
xác. Sự gia tăng các khoản cho vay nhanh chóng có thể che dấu vấn đề nợ quá
hạn do tổng số dư nợ cho vay gia tăng, trong khi số dư nợ quá hạn chỉ tăng
khi các khoản nợ đến kỳ hạn phải trả.
Tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ quá hạn:
Khi khách hàng không trả được nợ đến hạn, ngân hàng thường gia hạn
nợ cho khách hàng, tạo điều kiện cho họ có thể thu xếp để trả được nợ cho
ngân hàng. Nợ khó đòi là khoản nợ đã quá một kỳ hạn gia hạn nợ. Việc sử
dụng tỷ lệ nợ khó đòi trên tổng dư nợ quá hạn cho biết tỷ lệ phần trăm tổng nợ
quá hạn có khả năng thu hồi. Việc sử dụng thêm chỉ tiêu này cho phép đánh
giá chi tiết hơn độ an toàn tín dụng.
Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cho vay.
Tỷ trong thu
nhập
bộ ngân hàng là người trực tiếp thực hiện các chiến lược kinh doanh của Ngân
hàng đề ra. Thực hiện giao dịch trực tiếp với khách hàng chính là cán bộ
Ngân hàng, họ là hiện hữu chủ yếu của dịch vụ, do vậy mà kiến thức và trình
độ chuyên môn của các cán bộ ngân hàng sẽ làm tăng thêm giá trị của các sản
phẩm dịch vụ của ngân hàng. Kiến thức và trình độ chuyên môn của các cán
bộ ngân hàng cũng có ý nghĩa vô cùng quan trọng việc thẩm định các khoản
vay. Cho vay tiêu dùng có đặc điểm nổi bật là một hình thức cho vay có mức
độ rủi ro tiềm ẩn rất lớn, nên ngay từ khâu thẩm định các khoản vay nếu cán
bộ thẩm định không làm tốt có thể gây ra tổn hại rất lớn cho ngân hàng.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ngoài ra, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng cũng là một yếu
tố quan trọng trong việc cho vay. Nếu một cán bộ ngân hàng không có đạo
đức nghề nghiệp thì nguy cơ xảy ra rủi ro cho ngân hàng không phải là nhỏ.
1.3.5.4. Qui mô vốn của ngân hàng
Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm tổng số vốn mà ngân hàng huy
động được và nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Trong đó nguồn vốn chủ
sở hữu đóng vai trò quan trọng - sống còn trong việc duy trì các hoạt động
thường nhật và đảm bảo cho ngân hàng có khả năng phát triển lâu dài trong
tương lai. Ngoài ra, nguồn vốn chủ sở hữu còn là tấm lá chắn cho ngân hàng,
nhằm chống lại các rủi ro có thể xảy ra.
Xét theo tình hình hiện nay, qui mô nguồn vốn lớn là một yếu tố kích
thích khách hàng đến với ngân hàng. Qui mô nguồn vốn lớn giúp cho ngân
hàng có điều kiện đầu tư nâng cao cơ sở hạ tầng, máy móc thiết bị, công nghệ
ngân hàng…Tất cả những yếu tố trên tạo cho ngân hàng sức cạnh tranh nhằm
mở rộng hơn nữa các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng nói chung và cho vay
tiêu dùng nói riêng.
1.3.5.5. Qui trình và thủ tục cho vay của ngân hàng
Hiện nay, các ngân hàng đều đang tìm cách rút ngắn qui trình và thủ
tục cho vay nhằm thu hút khách hàng. Qui trình và thủ tục cho vay hiệu quả
và không rườm rà, phức tạp là một trong những cách thức quan trọng để thu
hưởng tới hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng. Nếu thói quen chi tiêu
của người dân chỉ dừng ở mức độ là các mặt hàng thiết yếu thì tại đó ngân
hàng không thể phát triển hình thức cho vay tiêu dùng được. Hay tại một xã
hội mà người dân có thói quen tiết kiệm, tỷ lệ tiết kiệm trên tổng thu nhập cao
thì ngân hàng cũng không có cơ hội mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng.
Trình độ dân trí cao dẫn tới mức thu nhập cao, điều này sẽ là một cơ hội để
mở rộng các dịch vụ ngân hàng trong đó có cho vay tiêu dùng. Và phải xét
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đến nhu cầu tiều dùng của khách hàng cho những sản phẩm cần phải vay để
mua có cao hay không thì việc mở rộng nó mới có thể khẳng định được.
1.3.6.3. Môi trường pháp lý
Hiện nay, không riêng hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng phải
nằm trong khuôn khổ pháp luật mà mọi hoạt động khác của ngân hàng đều
phải tuân thủ những qui định chung của Nhà nước, của pháp luật. Môi trường
pháp lý bao gồm những văn bản pháp lý chặt chẽ, đồng bộ sẽ tạo ra cơ hội
phát triển cho hoạt động cho vay nói chung và cho vay tiêu dùng nói riêng,
nhưng nếu một xã hội tồn tại một hệ thống các văn bản pháp luật chằng chịt,
không rõ ràng, đầy đủ thì sẽ cản trở không chỉ hoạt động cho vay tiêu dùng
của Ngân hàng mà nó còn cản trở tất cả các hoạt động kinh tế- xã hội khác.
1.3.6.4. Định hướng phát triển và chính sách kinh tế của Nhà nước
Các chính sách kinh tế hay định hướng phát triển của Nhà nước đều có
ảnh hưởng tới hoạt động cho vay tiêu dùng. Nếu định hướng phát triển và
chính sách kinh tế của Nhà nước kích thích sự phát triển kinh tế trong nước
được phát triển, GDP tăng lên, thu nhập của người dân sẽ được cải thiện. Nhu
cầu của người dân về hàng tiêu dùng tăng lên, các ngân hàng có cơ hội mở
rộng hoạt dộng cho vay tiêu dùng của mình. Những chính sách này góp phần
vào việc thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp xã hội, làm tăng
lượng khách hàng với hình thức tín dụng tiêu dùng của ngân hàng. Những
chính sách hợp lý và định hướng kinh tế đúng đắn của Nhà nước còn có thể
kích thích nhu cầu tiêu dùng trong dân cư, tạo điều kiện cho các ngân hàng
Trong trường hợp có rủi ro xảy ra, tài sản đảm bảo chính là tấm đệm cho các
ngân hàng. Ngân hàng có thể giảm thiểu rủi ro cho mình khi người vay không
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
trả được nợ bằng cách phát mại tài sản đảm bảo của người vay. Vì thế, trong
cho vay tiêu dùng, ngân hàng phảo hết sức chú ý đến tài sản đảm bảo. Tuy
nhiên tài sản đảm bảo không phải là yếu tố quyết định để ngân hàng quyết
định cấp tín dụng cho người vay.
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐÔNG NAM Á
2.1. Khái quát
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại cổ
phần Đông Nam Á
Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á, tên gọi tiếng Anh là
SeABank được thành lập và đi vào hoạt động tại Việt Nam theo giấy phép
hoạt động số 0051/ NH- GP ngày 25 tháng 03 năm 1994 của thống đốc Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam và được Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hải Phòng
cấp Giấy phép thành lập số 676/GP-UB ngày 04 tháng 04 năm 1994, với thời
gian hoạt động là 16 năm kể từ ngày được cấp giấy phép hoạt động. SeABank
là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần ra đời sớm nhất, có số vốn
điều lệ lên đến 5.068 tỷ đồng, đứng trong Top 7 các ngân hàng thương mại cổ
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phần có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam và nó cũng là 1 trong số 10 ngân hàng
thương mại cổ phần lớn nhất của Việt Nam từ trước đến nay.
Năm 2009 là năm SeABank đánh dấu bước “chuyển mình” tất yếu và
toàn diện, từ “định hướng kinh doanh mới” đến “diện mạo mới” và “phong
cách mới” với việc triển khai chiến lược ngân hàng bán lẻ, hướng tới đối
tượng khách hàng mục tiêu là các cá nhân, hộ gia đình, là các doanh nghiệp
vừa và nhỏ. Bên cạnh đó, cuối năm 2009 SeABank cũng chính thức công bố
bộ nhận diện thương hiệu mới và Hội sở mới. Bộ nhận diện thương hiệu mới
của SeABank được xây dựng trên cơ sở các nghiên cứu, phân tích kỹ lưỡng
Việt Nam. Song song với chiến lược đổi mới toàn diện về chiến lược kinh
doanh, bộ nhận diện thương hiệu… SeABank đã xây dựng một kế hoạch phát
triển đồng bộ và hiệu quả, trong đó chú trọng tới việc tạo dựng SeABank trở
thành một ngân hàng bán lẻ đa năng & hiện đại.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức cuả ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á
Sơ đồ tổ chức của Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Ban lãnh đạo
Bao gồm Hội đồng quản trị, ban kiểm soát, ban giám đốc. Ban lãnh đạo
có nhiệm vụ bao quát điều hành và ra các quyết định đối với hoạt động của
Ngân hàng. Là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước, có trách nhiệm chi tiết hóa các
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
văn bản chính sách tiền tệ của Ngân hàng, thực hiện các văn bản đó phù hợp
với thực tế.
Phòng tổ chức hành chính
Phòng tổ chức hành chính thực hiện các nhiệm vụ chính sau:
- Tuyển dụng lao động.
- Tổ chức đào tạo CNV.
- Quản lý tiền lương.
- Công tác phòng tổng hợp thi đua, công tác hành chính quản trị
Phòng kinh doanh
Phòng kinh doanh có chức năng tham mưu cho Giám đốc về việc:
- Lập kế hoạch kinh doanh tháng, quý, năm của toàn hệ thống.
- Cung cấp thông tin phòng ngừa rủi ro và quản lý điều hành vốn kinh
doanh hàng ngày đảm bảo cung cấp đủ vốn và trực tiếp giao dịch với
khách hàng hàng ngày.
- Thống kê tổng hợp kết quả kinh doanh hàng tháng và hướng dẫn
nghiệp vụ tín dụng đối với các phòng giao dịch và quản lý các hoạt
động cho vay.
- Xử lý các khoản nợ khó đòi, thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh L/C trả