ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NHẬT BẢN HỌC
LỚP NHẬT 1-09
µ
Bài thực hành: Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
Đề tài:
THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THIẾT BỊ ĐIỆN TỬ
VÀ NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ ẢNH
HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐỐI VỚI SỨC KHỎE
(Trường ĐH KHXH&NV-cơ sở Linh Trung- Thủ Đức)
Giảng viên hướng dẫn: Châu Văn Ninh
Thành phố Hồ Chí Minh,tháng 1 năm 2011
1
MỤC LỤC
Phần 1: Dẫn nhập….……… …………………………………………… 3
1.1. Lí do chọn đề tài………………………………………………… … 4
1.2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu……… …………………………… 6
1.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu………………………………… 6
1.4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………….7
1.5. Tổng quan tình hình nghiên cứu ………………………………………8
Phần 2: Nội dung… ………………… ……………….……………… 11
Chương I : Cơ sở lí luận….…………………….……….… ……………11
2.I.1. Quá trình hình thành và phát triển của thiết bị điện tử …………… 11
2.I.2. Tác hại của thiết bị điện tử đối với sức khỏe sinh viên…………… 19
2.I.3. Giả thuyết nghiên cứu……………………………………………….26
Chương II : Thực trạng sử dụng thiết bị điện tử của sinh viên……… 27
2.II.1. Thực trạng sử dụng laptop………………………………………… 29
2.II.2. Thực trạng sử dụng điện thoại di động…………………………… 32
2.II.3. Thực trạng sử dụng tai nghe……………………………………….34
Chương III: Kết luận và giải pháp.………………………… …………41
Kết hợp giữa nhu cầu chia sẻ thông tin với khả năng lưu động và kết nối của
thiết bị điện tử, một lần nữa người ta phải thừa nhận điều mà các chuyên gia vẫn
khẳng định lâu nay rằng công nghệ đang thay đổi về căn bản cách mà con người
chúng ta sống, làm việc và suy nghĩ. Thiết bị điện tử mà tiêu biểu là máy tính xách
tay, điện thoại di động, đã, đang và sẽ chi phối thế giới, tác động trực tiếp đến
cuộc sống con người. Nhìn nhận một cách khách quan thì quả thật sự ra đời và phát
triển của các thiết bị này đã góp phần làm cuộc sống của chúng ta trở nên thuận
tiện, dễ chịu và hiệu quả hơn rất nhiều.
Đi cùng với những thành công không thể chối cãi của công nghệ thông tin và
thiết bị điện tử nói chung, cũng như của điện thoại di động, máy tính xách tay, tai
nghe, nói riêng, chúng ta cũng cần nhìn nhận những tác hại mà chúng mang lại
cho con người. Vài năm gần đây, người tiêu dùng khá hoang mang trước những tin
tức khác nhau về việc có hay không những rủi ro do các loại thiết bị này gây ra.
Các nhà khoa học, các tổ chức, chuyên gia trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau đã
tiến hành nhiều công trình nghiên cứu, đưa ra những ý kiến trái chiều về ảnh
hưởng của các thiết bị này đối với sức khỏe con người.
Các nhà nghiên cứu của Đại học Quốc gia Thuỵ Điển, dưới sự tài trợ của Tổ
chức Y tế thế giới (WHO) đã tìm ra mối liên hệ giữa thời gian sử dụng điện thoại
di động với sự phát triển khối u não ác tính khi tiến hành nghiên cứu trên 905 bệnh
nhân ung thư trong độ tuổi từ 20 đến 80. “85 trong số 905 bệnh nhân được nghiên
cứu (gần 10%) là những người đã dùng điện thoại di động hoặc điện thoại không
dây ở độ tuổi sớm và sử dụng liên tục trong thời gian dài”, báo cáo nghiên cứu cho
biết. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn chỉ ra rằng không khó để nhận ra mức độ
nguy hiểm càng tăng lên đối với những khối u ở phần đầu, nơi trực tiếp tiếp xúc
với điện thoại.
Nghiên cứu trên 100 sinh viên đã phát hiện, những ai nghe nhạc với 80% dung
lượng âm thanh, tại điểm mà âm thanh được cho là to, thì không nên vượt quá 90
4
phút mỗi ngày. Thính giác của bạn sẽ bị hỏng nếu thường xuyên nghe nhạc mạnh
hơn 90 phút mỗi ngày bằng tai nghe từ máy chơi nhạc kỹ thuật số.
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Thực trạng sử dụng và sự hiểu biết của
sinh viên về ảnh hưởng của các thiết bị điện tử đối với sức khỏe của con người.
2. Đối tượng nghiên cứu
Thông tin về việc sử dụng thiết bị điện tử đối với sức khỏe sinh viên và sự
hiểu biết của sinh viên về vấn đề này
1.3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Mục đích
- Tìm hiểu thực trạng sử dụng các thiết bị điện tử và sự hiểu biết của sinh
viên về ảnh hưởng các thiết bị này đối với sức khỏe.
- Góp phần giúp sinh viên có cái nhìn cơ bản về ảnh hưởng của thiết bị điện
tử đối với sức khỏe.
- Từ đó giúp các bạn sinh viên có thể rút ra được những phương pháp riêng
để sử dụng các thiết bị điện tử vừa có hiệu quả vừa đảm bảo được sức khỏe.
2. Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu tài liệu có sẵn (sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu đã
có trước đó, phương tiện truyền thông…).
- Khảo sát thực trạng sử dụng thiết bị điện tử và kiến thức của sinh viên về
vấn đề này thông qua bảng câu hỏi.
6
- Tổng hợp , đánh giá, phân tích.
- Kết luận.
- Đưa ra một số giải pháp mang tính khả thi.
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Nội dung cần thu thập : Kết quả các công trình nghiên cứu và các kiến thức
cơ bản về ảnh hưởng của thiết bị điện tử đối với sức khỏe con người.
- Nguồn: tài liệu có sẵn thông qua thư viện và Internet
- Phân tích tài liệu.
- Tổng hợp tài liệu
- Tóm tắt khoa học
các khối u trong não
- Tác giả: Nhóm nghiên cứu của 18 nhà khoa học tại Thụy Điển
- Thời gian: Tháng 10/2007
- Nội dung: Những người sử dụng điện thoại di động trên 10 năm thì nguy cơ
phát triển từ u thần kinh đệm thành u não ác tính là gấp hai lần so với bình thường.
Thêm nữa, nguy cơ phát triển thành u não ác tính này là gấp hai lần rưỡi đối với
những người bị tổn hại dây thần kinh thính giác và sử dụng điện thoại di động lâu
năm.
c. Ảnh hưởng của laptop đến khả năng sinh sản của nam giới
8
- Tác giả: Nhóm nghiên cứu người Mỹ với sự chủ trì của Bác sỹ Yefim
Sheynkin, chuyên về Tiết niệu tại Đại học New York (Mỹ)
- Thời gian: năm 2010
- Nội dung : Công trình nghiên cứu trên hàng triệu đàn ông đang sử dụng
laptop hàng ngày, đặc biệt là những người đang trong độ tuổi sinh sản. Bác sỹ chia
sẻ: “Tôi không nói là nếu ai đó bắt đầu sử dụng laptop thì họ sẽ trở nên vô sinh
nhưng việc sử dụng laptop thường xuyên có thể đóng góp vào những rắc rối về
sinh sản bởi tinh hoàn không có thời gian để hạ nhiệt độ”.
2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
a. Ảnh hưởng của sóng siêu cao tần và tác dụng của chế phẩm Azolla
Microphyla đến số lượng và chất lượng tinh trùng
- Tác giả: 5 sinh viên trẻ lớp Dân y 1A (Học viện Quân y)
- Thời gian: năm 2004
- Nội dung: nhóm đã làm xét nghiệm tinh dịch đồ cho 142 công nhân tuổi từ
25 trở lên có thời gian làm việc tại các trạm radar từ 1-3 năm. Kết quả cho thấy
75/142 người tiếp xúc với sóng siêu cao tần có số lượng và chất lượng tinh trùng
giảm.
b. Ảnh hưởng của tư thế sử dụng laptop đối với xương.
- Tác giả: Bác sĩ Ngô Văn Toàn - Chủ nhiệm khoa Phẫu thuật chấn thương
chỉnh hình Bệnh viện Việt Đức
chế ra cầu chì, công tắc điện, đynamô, các lối mắc dây. . .Đây là những thiết bị vô
cùng quan trọng trong việc phát triển các thiết bị điện tử sau này…Người ta thống
kê được, Edison có tổng cộng đến 1.907 phát minh được cấp bằng sáng chế - một
con số khổng lồ. Trong đó có máy quay đĩa, máy chiếu phim, máy ghi âm, bóng
đèn là những thiết bị điển hình quan trọng , vẫn còn sử dụng đến ngày nay. Như
vậy có thể nói Edison là người có công rất lớn trong việc đặt nền móng cho việc
phát triển các thiết bị điện tử.
Vì đề tài mà chúng tôi nghiên cứu chủ yếu liên quan đến các thiết bị được các
bạn sinh viên thường xuyên sử dụng là máy tính xách tay, điện thoại di động, tai
nghe nên chúng tôi sẽ nêu sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của các thiết
bị này.
I.1.1 Máy tính xách tay (Laptop)
Máy tính xách tay đã có một chặng đường phát triển rất dài từ những mẫu nặng
tới hơn chục kg đến những thiết bị mà bạn có thể mang vác cả ngày không thấy
mệt mỏi. Hãy bắt đầu từ những năm 1980 để thấy được thiết bị thông dụng của bạn
đã thay đổi như thế nào qua 3 thập kỷ.
11
1981: Osborne 1
Sản phẩm thành công đầu tiên trong lĩnh vực thương mại của dòng máy tính
xách tay chính là Osborne 1. Chiếc máy tính nặng tới 10,6 kg này có vẻ ngoài
vuông vắn như một chiếc vali với bàn phím giản dị đến bất ngờ. Hệ thống hoạt
động trên nền hệ điều hành CP/M với màn hình đơn sắc chỉ rộng vẻn vẹn có 5
inch. Với cỡ màn hình như vậy, Osborne 1 thậm chí chẳng hiển thị nổi đủ dòng
văn bản trong WordStar vốn khá thông dụng thời bấy giờ.
1982: Compaq Portable
Vẻ bề ngoài của sản phẩm này trông có vẻ như là Osborne 1 với màn hình mở
rộng. Tuy nhiên, đây là máy tính hoạt động với hệ điều hành MS DOS của IBM.
Compaq cũng là thiết bị đóng vai trò quan trọng trong việc định ra các tiêu chuẩn
với sự nhất trí cao của các nhà sản xuất thay vì các xu hướng độc quyền và riêng
lẻ.
Cả trackball cũng như trackpoint đều rất hữu dụng song lại không quá phổ
biến. Chính touchpad của Apple trên dòng sản phẩm PowerBook 500 mới định ra
tiêu chuẩn cho các laptop trong tương lai. Đây cũng là máy tính xách tay đầu tiên
sở hữu loa stereo.
1995: IBM Thinkpad 701
Vào giữa thập kỷ 90, laptop đã trở thành thiết bị xách tay đúng nghĩa với thiết
kế bàn phím nhỏ gọn hơn, dẫn đến việc rất dễ mắc lỗi chính tả khi gõ chữ. Bởi thế
mà IBM đã cho ra mắt dòng sản phẩm Thinkpad 710 với bàn phím kiểu bươm
bướm – có thể mở rộng ra khi mở nắp. Tuy nhiên, model này không tồn tại được
lâu.
13
1999: Apple iBook 3G
Đây là model đầu tiên tích hợp công nghệ Wi-Fi với các ăng-ten được gắn phía
sau màn hình. Sản phẩm đã được chào đón khá rộng rãi tuy rằng người ta vẫn còn
tranh cãi về thiết kế có phần hơi thái quá với các góc cạnh được vuốt tròn lại.
2005: Lenovo X41 Tablet
Các laptop có vẻ dễ dàng hơn trong chuyện đánh máy, còn máy tính bảng thì lại
thuận tiện hơn cho việc đọc – và người dùng có thể sở hữu cả hai nhờ X41 Tablet
của Lenovo. Lenovo X41 Tablet có màn hình xoay giúp chuyển đổi giữa hai loại
thiết bị trên – rất độc đáo. Song, điểm trừ dễ thấy khi dung lượng pin quá yếu.
2007 Asus Eee PC 4G
Asus đã đi tiên phong trong sản xuất dòng sản phẩm netbook với Eee PC 4G
hoạt động trên nền Linux. Trước khi model này ra mắt, những chiếc laptop nhỏ
hơn luôn có giá cao hơn. Tuy nhiên, Asus bán thiết bị nặng có 0.9kg này với cái
giá vỏn vẹn 400USD.
2007: OLPC XO
Đây là sản phẩm được thiết kế cho trẻ em tại các nước đang phát triển theo
chương trình OLPC (One Laptop Per Child – mỗi đứa trẻ một máy tính xách tay).
Nếu muốn sở hữu OLPC XO, bạn sẽ phải trả 400 USD cho cả 2 chiếc – một chiếc
bạn dùng và một chiếc làm từ thiện.
Tính năng: Nói, nghe, quay số.
15
Vì máy nặng tới 1,13 kg và cầm trên tay khá khó khăn.Giá bán của DynaTAC
thời bấy giờ cũng rất đắt, lên tới 3.995 USD, bên cạnh đó, người dùng cũng phải
trả 50 USD dịch vụ để gọi điện, thêm vào 0,4 USD một phút đàm thoại trong giờ
cao điểm và 0,24 USD một phút ngoài giờ cao điểm.
Nếu khi đó, điện thoại di động mới chỉ là một món đồ chơi xa xỉ cho người
giàu, thì nay, nó đang là một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Chỉ với 40
USD một tháng là bạn có thể gọi điện bất kể đêm, ngày, cuối tuần mà không giới
hạn về đường dài, vùng miền. Ngay cả những thiết bị cao cấp như iPhone cũng chỉ
có giá 200 USD, đây là một mức giá rất rẻ nếu so tính năng với DynaTAC.
Điều khác biệt cũng diễn ra trong 25 năm, sau khi giới thiệu dịch vụ đi động
được 12 tháng, năm 1984 nhà mạng Ameritech Mobile có 12.000 thuê bao. Ngày
nay, AT&T - hãng dịch vụ viễn thông lớn nhất nước Mỹ có tới 72,9 triệu khách
hàng.
Tới tháng 6-2010, nước Mỹ đã có tới 262,7 triệu thuê bao di động, chiếm 84%
dân số. Tại nước này, ta có thể gặp những đứa trẻ từ 8 đến 12 tuổi dùng điện thoại.
Tin nhắn được sử dụng nhiều hơn là thoại. Tổng kết quý II cho thấy một thuê
bao ở Mỹ, trung bình mỗi tháng gửi 375 tin nhắn so với 204 cuộc gọi mỗi tháng.
Tuy nhiên, tin nhắn chỉ tập trung nhiều vào giới trẻ, còn người già thì gọi điện
nhiều hơn.
Mạng di động cũng trang bị nhiều nội dung hỗ trợ người dùng hơn. Các nhà
mạng đã đầu tư hàng tỷ USD để xây dựng mới, nâng cấp tốc độ mạng lưới. Mạng
3G ngày nay cho phép người dùng lướt web, gửi e-mail, xem TV, download nhạc.
Các dịch vụ này đang phát triển rất nhanh.
Còn ở nước ta hiện nay, theo thống kê đến cuối tháng 3-2010, VNPT đã phát
triển thêm được 1.024.560 máy điện thoại, trong đó có 727.955 máy di động thuộc
2 mạng Vinaphone và MobiFone.
16
Tổng số mạng lưới của VNPT hiện có 14.364.672 máy điện thoại cố định và di
được thay bằng màng plastic hay còn gọi là tai nghe tĩnh điện (electrostatic). Loại
tai nghe này do John Koss sáng chế và được đánh giá là cho âm thanh tinh lọc hơn.
Trong suốt thập niên 60, công ty chuyên sản xuất tai nghe của John Koss - J.C.
Koss Hospital Television Rental Company (tiền thân tập đoàn Koss Corporation)
tìm cách phát triển tai nghe nhằm đem lại âm thanh ngày càng một tốt hơn cho
khách hàng.
Vào thập niên 80, Sony tung ra chiếc máy nghe nhạc cá nhân Walkman đầu
tiên, mở ra trang sử mới thay đổi cách thức nghe nhạc truyền thống của người tiêu
dùng. Với Walkman, bạn có thể nghe nhạc ở bất cứ nơi đâu, bất cứ thể loại nào mà
không ảnh hưởng tới người khác chỉ với một nguồn âm nhỏ và chiếc tai nghe xinh
xắn. Điều đó đồng nghĩa với công nghệ chế tạo tai nghe phải thích ứng để sản xuất
các sản phẩm ngày một nhỏ hơn, tiện lợi hơn. Loại tai nghe trùm kín tai (circum-
aural headphone) dần bị thay thế bởi loại nhỏ gọn, nhẹ hơn và không trùm hết kín
tai (supra-aural headphone) mà được cấu tạo bởi miếng nỉ ôm sát tai người nghe.
Một thập kỷ sau, công nghệ sản xuất tai nghe bước sang một thời kỳ mới, tai
nghe dạng trùm được thay bằng dạng earbud (nhét tai). Loại này cung cấp chất
lượng âm thanh rất tốt đồng thời có tác dụng cách âm với môi trường xung quanh
người nghe.
Năm 2000 mở đầu cho kỷ nguyên tai nghe không dây. Công nghệ truyền tín
hiệu không dây được áp dụng cho các tai nghe thương mại. Một trong các tiêu
chuẩn được áp dụng phổ biến nhất là Bluetooth. Công nghệ mạng không dây cá
nhân (Wireless personal area network) là một chuẩn mở, cho phép truyền giọng nói
và dữ liệu kỹ thuật số. Một số ứng dụng phổ biến của Bluetooth có mặt trên điện
18
thoại di động, giúp kết nối không dây đến bộ tai nghe, hoặc trong hệ thống âm
thanh trên ôtô để rảnh tay trong khi lái.
Trong suốt quá trình phát triển, tai nghe đã trở thành một thiết bị nhỏ gọn chứa
đựng những thành tựu công nghệ tiên tiến nhất. Các sản phẩm tai nghe cao cấp
không những hướng tới việc giảm tối đa độ ồn và tiếng động xung quanh người
nghe mà còn tìm cách giảm độ méo trong kết nối giữa nó và thiết bị nguồn, nhằm
hưởng nghiêm trọng hơn như nguy cơ phát triển ung thư và các ảnh hưởng này đặc
biệt nghiêm trọng đối với trẻ em.
I.2.2. Việc sử dụng điện thoại di động dẫn tới sự hình thành, phát triển các
khối u trong não
Từ vài năm nay, đã có nhiều nỗi lo về nguy cơ u não khi sử dụng điện thoại di
động. Nếu quả thật có nguy cơ đó thì đây thật sự là một vấn đề sức khỏe cộng đồng
đáng quan tâm vì số người sử dụng điện thoại di động (ÐTDÐ) trên thế giới ngày
càng tăng. Ðể phần nào làm sáng tỏ vấn đề này, một nhóm tác giả đã tiến hành một
nghiên cứu bệnh-chứng tại Boston (Hoa Kỳ) từ năm 1994 đến 1998.
Trong nghiên cứu bệnh chứng này, các tác giả đã khảo sát việc sử dụng ÐTDÐ
ở 782 BN có chẩn đoán khối u trong sọ, trong đó 489 trường hợp là u tế bào thần
kinh đệm, 197 trường hợp là khối u màng não, và 96 trường hợp u dây thần kinh số
VIII. Nhóm chứng là 799 BN mắc những bệnh lành tính khác nhau, ở cùng bệnh
viện với BN u não.
Kết quả cho thấy, so với những người chưa bao giờ hoặc rất hiếm khi sử dụng
ÐTDÐ, nguy cơ tương đối của việc sử dụng ÐTDÐ cộng dồn >100 giờ là 0,9 đối
với u thần kinh đệm (KTC 95%; 0,3-1,6), là 0,7 đối với u màng não (KTC 95%:
20
0,3-1,7), là 1,4 đối với u dây thần kinh số VIII (KTC 95%: 0,6-3,5), và là 1 đối với
mọi loại khối u gộp chung (KTC 95%: 0,6-1,5). Không có bằng chứng nào cho
thấy nguy cơ cao hơn ở những người dùng ÐTDÐ ?60 phút/ngày hoặc sử dụng đều
đặn trong thời gian >5 năm. Cũng không thấy khối u trong sọ hiện diện nhiều hơn
thiên về phía tai hay dùng nghe điện thoại.
Dữ liệu trên không ủng hộ giả thiết cho rằng việc sử dụng điện thoại cầm tay
gây u não do bức xạ không ion-hóa của máy phát ra. Tuy vậy, theo các tác giả, số
liệu vẫn chưa đủ để đánh giá nguy cơ trên những đối tượng sử dụng ÐTDÐ quá
nhiều và lâu dài.
I.2.3. Ảnh hưởng của laptop đến khả năng sinh sản của nam giới
Những nhà phát minh khi tạo ra chiếc máy tính xách tay (laptop) có thể đã không
mấy băn khoăn tới sức khoẻ sinh sản.
Microphyla đến số lượng và chất lượng tinh trùng
Đây là kết luận từ công trình nghiên cứu đầu tiên của Việt Nam về ảnh hưởng
của sóng siêu cao tần lên chất lượng tinh trùng. 5 chàng sinh viên trẻ lớp Dân y 1A
(Học viện Quân y) cũng đã giải quyết được bước đầu mối lo này bằng một chế
phẩm có tên Azolla Microphyla.
Không thể bàng quan trước thực trạng nhiều bộ đội radar bị rơi vào tình trạng
vô sinh, đầu năm 2004, họ bắt tay vào thực hiện công trình Nghiên cứu ảnh hưởng
của sóng siêu cao tần và tác dụng của chế phẩm Azolla Microphyla đến số lượng
và chất lượng tinh trùng.
Gần 1 năm, với 30 chú chuột nhắt đực trắng trong phòng thí nghiệm, họ cho các
chú chuột sống trong môi trường có chiếu sóng siêu cao tần ngày 2 giờ, trong điều
kiện 28 độ C, độ ẩm 90%. Chiếu liên tục trong 4 tuần thì bắt chúng đem giải phẫu.
Đếm qua kính hiển vi cho thấy số lượng và chất lượng tinh trùng của chuột đực
22
giảm rõ rệt. Khi cho lũ chuột này "cặp đôi" với chuột cái chẳng thấy có kết quả gì,
trong khi lũ chuột bình thường đã kịp sinh 7-8 con cùng thời gian nuôi.
Sau đó, sau khi xét nghiệm tinh dịch đồ cho 142 công nhân viên quốc phòng
tuổi từ 25 trở lên có thời gian làm việc tại các trạm radar từ 1-3 năm. Kết quả cho
thấy 75/142 người tiếp xúc với sóng siêu cao tần có số lượng và chất lượng tinh
trùng giảm.
I.2.5. Ảnh hưởng của tư thế sử dụng laptop đối với xương
Những nguy cơ đối với sức khoẻ
Tạp chí công nghệ trực tuyến Cnet mới đây đề cập tới trường hợp của Ram
Viswanadha - một kỹ sư phần mềm làm việc tại thung lũng Silicon (Mỹ), đã phải
nghỉ làm 3 tháng vì bị chấn thương căng cơ do làm việc quá nhiều trên máy ính
xách tay với tư thế lặp đi lặp lại trong 4 năm liền.
Tại Việt Nam, một số bác sĩ và chuyên gia nghiên cứu bảo hộ lao động cho biết
chưa từng phát hiện trường hợp nào tương tự do nguyên nhân nêu trên. Ngay cả ở
các nước phát triển, trường hợp của anh Viswanadha cho đến nay cũng tương đối
hiếm và thể hiện tình huống xấu nhất có thể xảy ra do lạm dụng máy tính xách tay.
thế sử dụng máy tính xách tay.
Tư thế sử dụng máy tính xách tay cũng quan trọng đối với sức khoẻ như bất kỳ
tư thế làm việc nào khác.
Theo Bác sĩ Ngô Văn Toàn - Chủ nhiệm khoa Phẫu thuật chấn thương chỉnh
hình Bệnh viện Việt Đức, tất cả những gì sai tư thế sinh lý bình thường đều gây
biến dạng cơ xương và gây đau mỏi, có thể dẫn đến tổn thương.
I.2.6. Ảnh hưởng của tai nghe đối với tai
24
Do tính chất tiện lợi (nhỏ gọn, nén được nhiều nhạc) nên máy MP3 được nhiều
người ưa thích. Tuy nhiên, lạm dụng máy MP3 sẽ dẫn đến giảm thính lực, thậm chí
điếc vĩnh viễn.
Khảo sát gần đây của Bệnh viện Tai Mũi Họng TPHCM về đáp ứng thính giác
ở thanh niên VN cho thấy những trường hợp giảm thính lực được phát hiện ngẫu
nhiên đều là những người thích nghe nhạc hoặc học ngoại ngữ bằng tai nghe.
Âm thanh đập trực tiếp vào màng nhĩ
Theo bác sĩ Nguyễn Thị Bích Thủy, Trưởng Khoa Thính học Bệnh viện Tai
Mũi Họng, do chỉ gây ảnh hưởng ở tần số cao nên những đối tượng trên chưa nhận
thấy thính lực của mình đang bị giảm. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO), hiện nay có khoảng 4,2% dân số thế giới có sức nghe kém. Riêng tại nước
ta, tỉ lệ này cao hơn, người khiếm thính chiếm 5% - 7%, từ mức độ nhẹ đến nặng.
Theo quy định về bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn, công nhân được xem là
mắc bệnh điếc nghề nghiệp nếu trực tiếp làm việc trong môi trường có cường độ
tiếng ồn từ 85 dB trở lên liên tục trong vòng 8 tiếng mỗi ngày và kéo dài trong 6
tháng. Hiện nay, hầu hết các máy nghe nhạc đeo tai đều có công suất nghe đến 120
dB, tương đương âm thanh của máy cắt cỏ hay máy cưa. Tuy nhiên, theo bác sĩ
Bích Thủy, âm thanh máy nghe MP3 đập trực tiếp vào màng nhĩ nên quá trình
giảm thính lực sẽ diễn ra nhanh hơn và nặng hơn.
Điếc do tiếng ồn không thể phục hồi
Sau khi nghe nhạc xong, nếu vẫn thấy lùng bùng trong lỗ tai hoặc nghe những
âm thanh khác bị tắc nghẽn, đó là dấu hiệu do sử dụng máy MP3 với âm thanh lớn