LUẬN VĂN: Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay pot - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Tổ chức kế toán quản trị các yếu tố đầu
vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở
Việt Nam hiện nay Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp (DN) là tế bào của nền kinh tế quốc dân. Trong nền kinh tế nhiều

2. ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, muốn nâng cao hiệu quả kinh doanh
(KD) thì việc quản trị đúng đắn, hợp lý các yếu tố đầu vào của DN có vai trò vô cùng quan
trọng. Để đưa ra các quyết định đúng đắn, kịp thời trong việc quản trị các yếu tố đầu vào,
nhà quản trị DN cần phải có nhiều thông tin: thông tin thực hiện, thông tin dự báo KTQT
với đặc điểm riêng của mình đã đáp ứng những yêu cầu về thông tin của quản trị trong
từng DN.
Với vai trò quan trọng như vậy, KTQT các yếu tố đầu vào đã và đang là vấn đề
được giới chuyên môn quan tâm. Các nhà nghiên cứu, các giảng viên trong các trường đào
tạo chuyên ngành đang còn nhiều quan điểm khác nhau về lý luận cũng như việc áp dụng
trong các DN.
Thực tế ở Việt Nam, kế toán trong các DN chưa nhận thức đúng đắn về KTQT nói
chung và KTQT các yếu tố đầu vào nói riêng nên chưa cung cấp được các thông tin cần
thiết phục vụ cho quản trị. Nhận thức đúng vai trò, chức năng, mục đích của KTQT các
yếu tố đầu vào trong quản trị DN; tổ chức KTQT các yếu tố đầu vào một cách khoa học,
hợp lý, sẽ góp phần nâng cao trình độ, năng lực quản lý, điều hành KD và hiệu quả hoạt
động của các DN.
Xuất phát từ những lý do đó, việc nghiên cứu đề tài "Tổ chức kế toán quản trị các
yếu tố đầu vào trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay" vừa có ý nghĩa lý
luận, vừa mang tính thực tiễn.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức KTQT các yếu tố đầu vào
trong các DN.
- Tìm hiểu thực tế công tác kế toán ở một số DNNN trên địa bàn Hà Nội, đánh giá
thực trạng tổ chức KTQT các yếu tố đầu vào trong các DNNN.
- Đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện tổ chức KTQT các yếu tố đầu vào
trong các DNNN.
4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Với mục đích đã xác định, luận văn tập trung

Vận dụng quan điểm toàn diện vào khoa học và cuộc sống, người ta đã hình thành
lý thuyết hệ thống. Lý thuyết hệ thống là quá trình sử dụng tổng hợp các lĩnh vực khoa học
như: toán học, tin học, lôgic học, kinh tế nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra theo quan điểm
toàn diện. Lý thuyết hệ thống được ứng dụng rộng rãi trong công tác quản lý, từ quản lý vĩ
mô cho tới quản lý vi mô.
Những bộ phận chủ yếu của một hệ thống bao gồm: các phần tử của hệ thống,
môi trường của hệ thống, đầu vào của hệ thống, đầu ra của hệ thống.
DN khi được nhìn nhận theo quan điểm là một hệ thống cũng bao gồm các bộ
phận đã nêu trên.
Đối với bộ phận "đầu vào" của DN, có nhiều quan niệm, nhiều cách phát biểu
khác nhau.
Theo các tác giả của Trường Đại học kinh tế quốc dân:
Doanh nghiệp cần được nhìn nhận như một hệ thống xã hội, một hệ
thống kinh doanh. Điều đó có nghĩa là mọi khái niệm, mọi nguyên lý, mọi
phương pháp trong lý thuyết hệ thống đều có thể được vận dụng trong nghiên cứu
và giải quyết các vấn đề của doanh nghiệp.
Đầu vào của doanh nghiệp là các phương tiện cần thiết để cho doanh
nghiệp hoạt động, bao gồm:
- Nguồn nhân lực (lao động và thị trường chất xám) cung ứng các loại
nhân lực cho doanh nghiệp.

- Nguồn vốn đảm bảo cung cấp tài chính cho doanh nghiệp.
- Thị trường tư liệu sản xuất và dịch vụ để phục vụ cho các hoạt động
tạo ra đầu ra (sản phẩm và dịch vụ mới cho doanh nghiệp).
- Thị trường năng lượng và nguyên liệu tạo ra động lực và cung cấp
nguyên liệu cho sản xuất.
- Thị trường công nghệ và kỹ thuật để tạo ra các công nghệ và kỹ thuật
mới thích hợp.
- Thị trường chất xám, thông tin (dịch vụ, tư vấn) [20, tr. 37-38].
Như vậy, theo quan điểm này, các yếu tố đầu vào của DN bao gồm: sức lao động,

Theo các nhà kinh tế nước Cộng hòa Pháp, các yếu tố đầu vào và đầu ra của DN
được thể hiện qua sơ đồ 1.1 (trang 8) [23, tr. 26].
Theo quan điểm này các yếu tố đầu vào của DN gồm lao động, tài sản cố định
(TSCĐ), nguyên liệu vật liệu (NLVL), hàng hóa, dịch vụ, tiền vốn và các yếu tố này đều
được lượng hóa bằng thước đo tiền tệ.
Qua việc phân tích các quan điểm trên chúng tôi nhận thấy thuật ngữ các yếu tố
đầu vào của DN có nghĩa rất rộng dùng để chỉ tất cả các yếu tố, các nguồn lực mà DN đã
sử dụng trong quá trình hoạt động để tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đầu ra của
DN. Đứng trên giác độ của kế toán khi thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về các yếu tố
đầu vào của DN chỉ có thể xem xét tới các yếu tố đầu vào có thể lượng hóa được vì đặc
trưng của thông tin kế toán là thông tin phải được lượng hóa bằng các thước đo (thước đo
hiện vật, thước đo lao động, thước đo giá trị, trong đó thước đo giá trị là chủ yếu).

Để hoạt động của các đơn vị nói chung, các DN nói riêng đạt được hiệu quả cao
thì cần thiết phải tiến hành các hoạt động quản trị.

Các chức năng chủ yếu của quản trị là: xác định mục tiêu, lập kế hoạch, tổ chức
thực hiện, kiểm tra đánh giá.
Quản trị các yếu tố đầu vào là một nội dung của công tác quản trị DN.
Việc quản trị đúng đắn các yếu tố đầu vào sẽ giúp cho DN đảm bảo được hoạt
động của mình một cách bình thường, liên tục, không bị gián đoạn. Với một đầu ra xác
định, việc quản lý khoa học, hợp lý các yếu tố đầu vào sẽ tạo cơ sở để DN tiết kiệm chi phí
đầu vào từ đó tăng hiệu quả hoạt động của DN nói riêng, hiệu quả kinh tế của toàn bộ nền
kinh tế quốc dân nói chung.
Những biểu hiện cụ thể của việc quản trị đúng đắn có hiệu quả các yếu tố đầu vào
là:
- Đối với các yếu tố đầu vào là sức lao động: Đảm bảo bố trí, sử dụng lao động
hợp lý, đầy đủ cả về số lượng và chất lượng phục vụ cho hoạt động KD của DN. Nâng cao
ý thức, trách nhiệm của người lao động, kích thích thi đua trong lao động
- Đối với các yếu tố đầu vào là NLVL, hàng hóa: Đảm bảo số lượng, chất lượng,
chủng loại, quy cách NLVL, hàng hóa cần thiết phục vụ SXKD một cách kịp thời, liên
tục với chi phí dự trữ NLVL, hàng hoá hợp lý góp phần tiết kiệm chi phí, hạ giá thành,
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, hiệu quả KD của DN.
- Đối với các yếu tố đầu vào là TSCĐ: Trang bị TSCĐ hợp lý, bảo quản tốt, sử
dụng có hiệu quả phát huy tối đa năng lực phục vụ của TSCĐ trong DN, đổi mới kịp thời
TSCĐ đáp ứng yêu cầu hoạt động của DN.
1.2. Nhiệm vụ của kế toán trong việc phục vụ quản trị các yếu tố đầu vào của
doanh nghiệp
Để quản trị DN có hiệu quả, nhà quản trị cần phải có những thông tin về DN.
Không thể thực hiện công việc quản trị DN khi không biết các thông tin về tình tài chính
của DN như: tổng tài sản, tổng nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu chứ chưa nói đến việc
quản trị có hiệu quả. Do đó, thông tin đã được coi là một thứ "quyền lực" trong quản trị hiện
đại. Được coi là quyền lực, một nguồn lực, thông tin phải có giá trị. Các tiêu thức để xác định


Thông tin
Phân tích
quyết định
Yêu cầu về

thông tin
Truyền dữ
li
ệu

Ngân hàng
dữ liệu
Xử lý và
sắp xếp dữ

Thu th
ập
dữ liệu
Xác định
nhu cầu dữ
Các nguồn
dữ liệu bên
trong và bên
Thành phần
Hoạt động

Dòng cung cấp

Dòng yêu c

- Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch về các yếu tố đầu vào: tình hình dự trữ, sử
dụng NLVL, tình hình trang bị, sử dụng TSCĐ, sử dụng lao động; phát hiện và ngăn ngừa
kịp thời các hành vi làm ảnh hưởng tới việc sử dụng không hiệu quả các yếu tố đầu vào.

- Cung cấp số liệu tài liệu phục vụ cho việc quản trị các yếu tố đầu vào ở DN, phục vụ
cho công tác thống kê và thông tin kinh tế về các yếu tố đầu vào. Đồng thời cung cấp các
thông tin mang tính dự báo về tình hình sử dụng các yếu tố đầu vào để phục vụ cho việc đề ra
các quyết định về quản trị các yếu tố đầu vào.
1.3. Tổ chức Kế toán quản trị các yếu tố đầu vào trong Doanh nghiệp
1.3.1. Sự xuất hiện của kế toán quản trị
Kế toán là một công cụ phục vụ cho yêu cầu quản lý, vì vậy khi yêu cầu quản lý
thay đổi kế toán cũng phải có sự thay đổi phù hợp.
Trong môi trường kinh doanh hiện nay, nhu cầu về thông tin trong công
tác quản lý đã có sự gia tăng rất lớn và đa dạng do áp lực của những thay đổi
nhanh chóng về các mặt:
- Toàn cầu hóa nền kinh tế.
- Sự mở rộng giao lưu kinh tế giữa các quốc gia.
- Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các công ty trong nước, giữa
các công ty ở các quốc gia khác nhau.
- Sự tiến bộ nhanh chóng về khoa học kỹ thuật thúc đẩy sự tự động hóa
ngày càng toàn diện trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
- Sự ra đời ngày càng nhiều các công cụ quản lý, các chuyên ngành
khoa học hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý, công tác kế toán.
Chính những điều này đã làm cho kế toán phát triển sâu rộng hơn về tính
chất và đặc điểm thông tin cần phải cung cấp. Kế toán không chỉ dừng lại ở việc
cung cấp thông tin mang tính nguyên tắc mà đòi hỏi phải linh hoạt, kịp thời,
hữu ích. Đồng thời, thông tin kế toán cũng phải đảm bảo tính ngắn gọn, nhanh
chóng nhằm hỗ trợ đắc lực cho các nhà quản trị trong môi trường kinh doanh mới
[14, tr. 10].


- Theo các nhà khoa học kế toán của Học viện Tài chính: "Kế toán quản trị là khoa
học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động của doanh nghiệp một cách cụ thể,
phục vụ cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh
giá tình hình thực hiện kế hoạch các hoạt động của doanh nghiệp" [11, tr. 11].
Theo cách phát biểu này KTQT là một môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp
thông tin về hoạt động của DN nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của quản
trị DN. Như vậy quá trình KTQT có mối quan hệ chặt chẽ, gắn liền với quá trình thực hiện
các chức năng của quản trị DN. Có thể khái quát hai quá trình đó theo sơ đồ 1.3. Xác định mục tiêu
Chính thức hình thành
các chỉ tiêu kinh tế
Lập kế hoạch
Tổ chức thực hiện
Kiểm tra, đánh giá
Lập dự toán chung
và các bản dự toán
chi ti
ết

Thu nhận
kết quả thực hiện
Soạn thảo báo cáo
thực hiện
Quá trình KTQT


của DN.
+ Thông tin KTQT cung cấp không chỉ là những thông tin quá khứ mà còn có các
thông tin tương lai về hoạt động kinh tế tài chính của DN. Do đó KTQT không phải tuân
thủ triệt để các nguyên tắc, chuẩn mực, chế độ về kế toán như đối với KTTC mà KTQT
còn áp dụng các phương pháp nghiên cứu ngoài các phương pháp đã có ở KTTC để đạt
được mục tiêu đã đề ra.
Trong thực tiễn công tác kế toán ở Việt Nam chúng tôi nhận thấy: KTQT được đề
cập trong công tác nghiên cứu bắt đầu từ những năm 1990, còn trên thực tế cho đến năm
2003 vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào quy định về công tác KTQT. Trong khi đó
còn có quan điểm cho rằng: Kế toán chỉ là việc thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin
về các hoạt động kinh tế tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành của đơn vị, thông tin
mà kế toán cung cấp chỉ là những thông tin thực hiện (quá khứ), mà không bao gồm các
thông tin mang tính dự báo. Theo quan điểm này, việc lập kế hoạch hoạt động của đơn vị
là một chức năng của quản trị DN và đã được thực hiện bởi các bộ phận chức năng khác
trong đơn vị (bộ phận làm công tác kế hoạch) còn kế toán chỉ thu nhận và cung cấp các
thông tin về hoạt động kinh tế tài chính đã xảy ra để đối chiếu, kiểm tra tình hình thực hiện
kế hoạch mà thôi.

Từ năm 1995, cùng với những thay đổi to lớn của cơ chế quản lý kinh tế tài chính
cả ở tầm vĩ mô cũng như vi mô, hệ thống kế toán Việt Nam đã có những cải cách cơ bản.
Một trong những nguyên tắc của việc cải cách hệ thống kế toán là dần tiếp cận với các
thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế để kế toán Việt Nam hội nhập với kế toán quốc tế.
Với xu hướng đó, KTQT đã được các nhà nghiên cứu chú trọng hơn, đã được đưa vào
giảng dạy ở các trường đại học kinh tế và trong Luật Kế toán (có hiệu lực thi hành từ ngày
1/1/2004) KTQT đã chính thức được thừa nhận về mặt pháp lý: "Kế toán ở đơn vị kế toán
gồm kế toán tài chính và kế toán quản trị" - Điều 10 [3, tr. 14] và: "Kế toán quản trị là việc
thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu
quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán" - Điều 4, khoản 3 [3,
tr. 9].
Từ việc xem xét quá trình hình thành KTQT và những quan điểm về KTQT, có thể

hợp cho việc ra quyết định của quản trị
* Phương pháp tài khoản kế toán: Mục đích của phương pháp này là phân loại và
hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh theo nội dung kinh tế để có được
những thông tin mang tính thường xuyên, liên tục và có hệ thống phục vụ cho việc lập các
báo cáo KTQT. Hình thức biểu hiện của phương pháp này là các tài khoản kế toán và cách
ghi chép trên tài khoản kế toán.
Để hệ thống hóa các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phục vụ cho quản trị
DN, KTQT phải mở các tài khoản phục vụ yêu cầu quản trị đối với từng chỉ tiêu cụ thể.
Việc xây dựng hệ thống tài khoản phục cho KTQT phải dựa theo yêu cầu cụ thể của nhà
quản trị. Do đó, hệ thống tài khoản kế toán phục vụ cho KTQT không giống nhau giữa các
DN mà phụ thuộc vào những đặc điểm cơ bản sau:
- Phụ thuộc vào phạm vi, quy mô SXKD, loại hình DN.

- Phụ thuộc vào tổ chức quá trình SXKD và tổ chức quản lý SXKD, mức độ phân
cấp quản lý nội bộ DN.
- Phụ thuộc vào yêu cầu và trình độ của cán bộ quản lý.
- Phụ thuộc trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ kế toán trình độ trang bị và sử
dụng các phương tiện kỹ thuật tính toán, ghi chép của kế toán.
* Phương pháp tính giá: Mục đích của phương pháp này là xác định trị giá thực tế
của tài sản bằng thước đo tiền tệ theo những nguyên tắc nhất định. Hình thức biểu hiện của
phương pháp này là các sổ tính giá và trình tự tính giá.
Trong KTTC, phương pháp tính giá được vận dụng theo nguyên tắc, chuẩn mực
quy định thống nhất của mỗi quốc gia để trình bày các thông tin trên báo cáo tài chính một
cách thống nhất. Đối với KTQT, việc tính giá các loại tài sản mang tính linh hoạt cao hơn
và gắn với mục đích sử dụng các thông tin về giá theo yêu cầu quản trị DN. Các tài liệu để
tính giá không chỉ căn cứ vào các chi phí thực tế đã phát sinh mà còn dựa vào sự phân loại
các chi phí thích hợp cho từng quyết định cá biệt theo yêu cầu quản lý đặc thù của DN.
Như vậy phạm vi, nội dung của chi phí trong giá phí của KTQT có thể không giống, thậm
chí còn có sự khác biệt so với KTTC.
* Phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán: Mục đích của phương pháp này là

được một yếu tố sẽ tính toán dự báo được các yếu tố còn lại.
+ Các phương pháp của kinh tế học vi mô: Phương pháp xác định điểm hòa vốn,
phương pháp tìm hiểu sự thay đổi của giá cả có tác động như thế nào đến nhu cầu về SP của
DN trên thị trường để xác định chỉ tiêu số lượng SP cần SX.
+ Các phương pháp của toán xác suất, của thống kê: được sử dụng để ước lượng
số SP sẽ được tiêu thụ trong kỳ tới.
1.3.3. Các quan điểm về tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp

Tổ chức KTQT khoa học và hợp lý sẽ đảm bảo cung cấp thông tin có chất lượng,
đáng tin cậy, kịp thời và đảm bảo tiết kiệm chi phí, nói cách khác là đảm bảo cung cấp
thông tin hữu ích cho nhà quản trị trên cơ sở đảm bảo tính hiệu quả của công tác kế toán. Có
hai quan điểm chủ yếu về việc tổ chức KTQT.
* Quan điểm thứ nhất: Tổ chức KTQT kết hợp chặt chẽ với KTTC trong cùng
một bộ máy.
Theo quan điểm này, việc thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin của KTQT và KTTC
được tiến hành trên cơ sở của cùng một hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế
toán chỉ khác là thông tin tổng quát và thông tin chi tiết. Thông tin do KTTC cung cấp chủ
yếu là các thông tin tổng quát và một số thông tin chi tiết để phục vụ cho các đối tượng sử
dụng thông tin ở bên ngoài DN, các thông tin này đều là các thông tin thực hiện (về các
nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh và hoàn thành). Thông tin do KTQT thu nhận, xử
lý và cung cấp phục vụ cho các quản trị DN và nó không chỉ là các thông tin thực hiện mà
còn có cả các thông tin dự báo để phục vụ cho việc ra các quyết định trong tương lai. Để có
được các thông tin này, KTQT tiến hành mở các sổ kế toán của các tài khoản chi tiết (theo
từng cấp cần thiết) trong hệ thống tài khoản sử dụng cho KTTC để thu nhận, hệ thống hóa các
thông tin thực hiện, đồng thời mở các sổ kế toán chi tiết khác để thu nhận, hệ thống hóa các
thông tin dự báo; xác định nội dung, phương pháp ghi chép, phản ánh trên các sổ kế toán
đó cho phù hợp với việc xử lý và cung cấp thông tin phục vụ quản trị. Khi lập báo cáo
KTQT để cung cấp các thông tin cụ thể chi tiết theo yêu cầu quản lý cán bộ kế toán sẽ tổng
hợp số liệu từ các sổ kế toán đã mở theo các chỉ tiêu trong các báo cáo KTQT.
Cách tổ chức theo quan điểm này giúp cho bộ máy kế toán DN được tổ chức thống

biện pháp quản trị cụ thể mà họ đang áp dụng đối với việc quản trị các yếu tố đầu vào của
DN và do đó phụ thuộc vào nội dung cụ thể của các phương pháp quản trị tác nghiệp ở
DN.

- Khả năng của KTQT trong việc đáp ứng các nhu cầu về thông tin của nhà quản
trị.
Mỗi DN với điều kiện cụ thể của mình (trong từng giai đoạn khác nhau, với những
chiến lược KD đã lựa chọn ) thì yêu cầu quản trị cụ thể đối với các yếu tố đầu vào có sự
khác nhau và do đó họ áp dụng các phương pháp quản trị tác nghiệp khác nhau. Tuy nhiên,
dù áp dụng phương pháp quản trị nào thì đều nhằm thực hiện các chức năng của quản trị
đối với việc quản trị yếu tố đầu vào đó là: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh
giá.
Do đó, theo chức năng quản lý, nội dung công tác KTQT các yếu tố đầu vào bao
gồm:
1.3.4.1. Thiết lập hệ thống chỉ tiêu quản trị các yếu tố đầu vào
Đây là công việc đầu tiên mà KTQT phải tiến hành. Việc xác định hệ thống các
chỉ tiêu về các yếu tố đầu vào phụ thuộc vào nội dung của các yếu tố đầu vào của DN.
Thông thường các chỉ tiêu này bao gồm:
- Các chỉ tiêu về yếu tố đầu vào là vật tư, hàng hóa bao gồm: Số lượng, chủng loại,
quy cách các loại vật tư, hàng hóa chủ yếu dự trữ cho cho hoạt động của DN (mức dự trữ
tối đa, tối thiểu, bình quân).
- Các chỉ tiêu về yếu tố đầu vào là lao động bao gồm: chỉ tiêu về số lượng lao
động, cơ cấu lực lượng lao động, chỉ tiêu về sử dụng ngày công lao động, chỉ tiêu về năng
suất lao động
- Các chỉ tiêu về yếu tố đầu vào là TSCĐ bao gồm: Cơ cấu TSCĐ (TSCĐ dùng cho
SXKD, TSCĐ hành chính sự nghiệp, TSCĐ phúc lợi, TSCĐ chờ xử lý); số TSCĐ cần trang
bị hay đưa vào sử dụng; tình trạng kỹ thuật của TSCĐ
1.3.4.2. Lập dự toán các yếu tố đầu vào
Trên cơ sở các chỉ tiêu cụ thể đã xác định trong hệ thống chỉ tiêu và kế hoạch
SXKD được lập, KTQT tiến hành lập dự toán các yếu tố đầu vào. Dự toán được xác định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status