LUẬN VĂN: Phát triển kinh tế hàng hóa vùng đầm phá ở tỉnh Thừa Thiên - Huế pot - Pdf 15

LUẬN VĂN: Phát triển kinh tế hàng hóa vùng đầm
phá ở tỉnh Thừa Thiên - Huế Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Vùng đầm phá ở tỉnh Thừa Thiên - Huế có diện tích là 22.000 ha với chiều dài 68
km được cấu thành bởi các phần lãnh thổ của 5 huyện với 31 xã. Bờ Đông phá là cồn cát
ngăn cách đầm phá với biển Đông và bị gián đoạn qua 5 cửa biển: Hải Dương, Thuận An,

Trong nhiều năm qua đã có nhiều nhà khoa học, các tổ chức nghiên cứu trong và
ngoài nước đã tiến hành nghiên cứu vùng đầm phá Thừa
Thiên - Huế.
- Luận chứng "Bảo vệ tự nhiên đất ngập nước đầm phá Tam Giang - Cầu Hai tỉnh
Thừa Thiên - Huế" của ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế tháng 10/ 1998. Do Sở
Khoa học, công nghệ và môi trường thực hiện.
- Dự án "Nghiên cứu quản lý nguồn lợi sinh học hệ đầm phá Tam Giang" của tổ
chức IDRC Canađa tài trợ do Đại học Huế thực hiện.
- Chuyên đề "Điều tra phương tiện, công cụ khai thác biển và đầm phá" của ủy
ban nhân dân tỉnh do Sở Thủy sản thực hiện.
- Hội thảo khoa học về "Đầm phá Thừa Thiên - Huế" do Bộ Khoa học công nghệ -
môi trường, Trung tâm Khoa học tự nhiên và Bộ Thủy lợi phối hợp tổ chức.
- Chuyên đề "Điều tra đánh giá hiện trạng khai thác đầm phá" của ủy ban nhân
dân tỉnh Thừa Thiên - Huế.
- Đề án "Định canh định cư dân đầm phá tỉnh Thừa Thiên - Huế thời kỳ 1996 -
2000" của Sở Thủy sản Thừa Thiên - Huế.
- "Quản lý nguồn lợi thủy sản hệ đầm phá Tam Giang" của Nguyễn Quang Vinh
Bình, Nhà xuất bản Thuận Hóa, Huế 1996.
Và nhiều đề tài khác của Đại học Huế, Viện Hải dương học Hải Phòng, Nha
Trang, Đại học Thủy lợi Hà Nội đã nghiên cứu. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đó
chủ yếu mới chỉ đề cập đến một khía cạnh cụ thể của đầm phá hoặc nặng về nghiên cứu
ứng dụng, hoặc về nghiên cứu triển khai, hoặc về quản lý. Cho đến nay chưa có một công
trình nào nghiên cứu một cách tổng thể về thực trạng và hệ thống các giải pháp nhằm phát
triển kinh tế vùng đầm phá Thừa Thiên - Huế theo hướng sản xuất hàng hóa. Chính vì vậy
trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của những kết quả đã nghiên cứu và bằng
những nghiên cứu mới của mình tác giả chọn đề tài "Phát triển kinh tế hàng hóa vùng
đầm phá ở tỉnh Thừa Thiên - Huế" làm đề tài nghiên cứu, nhằm đóng góp những ý kiến

6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Nghiên cứu một cách tổng thể thực trạng kinh tế - xã hội, đề xuất những giải pháp
có tính khả thi phù hợp với hoàn cảnh đặc thù của vùng đầm phá Thừa Thiên - Huế.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, 3 chương 6 tiết, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục.
Chương 1
Lý luận về kinh tế hàng hóa vùng và sự cần thiết
phát triển kinh tế hàng hóa vùng đầm phá
ở tỉnh Thừa Thiên - Huế

1.1. Lý luận về kinh tế hàng hóa vùng
1.1.1. Khái niệm kinh tế hàng hóa vùng, kinh tế hàng hóa vùng đầm phá
Thừa Thiên - Huế
Mỗi quốc gia là sự hợp thành của các lãnh thổ địa phương khác nhau. Mỗi nền
kinh tế cũng là sự hợp thành của các ngành, các lĩnh vực và vùng kinh tế. Theo cấp độ bộ
phận hợp thành, vùng kinh tế và các lãnh thổ địa phương có chung các đặc điểm và tính
chất của các tiểu hệ thống trong hệ thống lớn theo qui mô cả nước. Tuy nhiên lãnh thổ của
mỗi địa phương là địa giới không gian và nội dung quản lý của nhà nước trên không gian
xác định đó. Còn vùng kinh tế lại thể hiện giới hạn của một không gian vận động và phát
triển của các ngành, các yếu tố và các lĩnh vực kinh tế. Trên thực tế quá trình phát triển của
nền kinh tế chính là tổng hợp sự phát triển của các vùng kinh tế hợp thành. Mọi hoạt động
của bất cứ chủ thể kinh tế nào cũng đều vận động và phát triển trên những địa bàn nhất
định. Các chương trình dự án phát triển chỉ được tiến hành và đạt kết quả cụ thể trong mỗi
vùng kinh tế cụ thể. Do những phương pháp xác định và phân định vùng không giống nhau
nên có các quan niệm khác nhau về vùng kinh tế. Tuy nhiên, đặc trưng của các vùng kinh
tế là phải gắn với một lãnh thổ địa bàn không gian nhất định, trên đó có những hoạt động

vùng hoàn toàn không đồng nhất với các vùng khác: "Chúng ta nói sang một miền khác rất
quan trọng của CNTB nông nghiệp ở Nga, tức là: miền ở đó không phải ngũ cốc chiếm ưu
thế, mà sản phẩm chăn nuôi chiếm ưu thế Năng suất của súc vật ở đây là nhằm phục vụ
công nghiệp sữa và toàn bộ nông nghiệp đều nhằm đạt được thật nhiều sản phẩm hàng hóa
thật quý thuộc loại đó" [28, 319]. Trạng thái phát triển đặc thù trong phân công lao động
xã hội đã quy định tính độc lập của các vùng chỉ ở mức độ tương đối. Chính đặc điểm
thống nhất nhưng không đồng nhất này là yếu tố căn bản, quyết định các vùng trở thành
các tiểu hệ thống trong hệ thống chung của nền kinh tế.
Là tiểu hệ thống nên mỗi vùng cũng có cấu trúc hệ thống riêng đặc thù, bao gồm
các tiểu vùng, hợp thành từ các địa phương với những đặc điểm và điều kiện phát triển trên
cùng không gian vùng, song lại có những dị biệt nhất định, hoặc về tài nguyên sinh thái
hoặc về đặc điểm nhân văn, hoặc về trình độ công nghệ kỹ thuật. Song mức độ khác biệt
này không tạo nên những phân biệt rõ rệt trong trạng thái phát triển và bên cạnh đó, mức
độ gắn kết giữa các tiểu vùng dựa trên những cơ sở vững chắc hơn do có chung những đặc
điểm đặc trưng của toàn vùng.
Sau cách mạng Tháng Mười khi thực hiện kế hoạch "điện khí hóa toàn Nga" Lênin
cho rằng vấn đề phân định và phát triển các vùng kinh tế một cách khoa học có ý nghĩa lớn
lao và Người tán thành bản báo cáo về phân vùng kinh tế của ủy ban kế hoạch nhà nước
gửi cho hội nghị lần thứ III của Ban chấp hành trung ương toàn Nga. Bản báo cáo cho
rằng: Vùng kinh tế là một tổng thể sản xuất đặc biệt, nó có thể cho phép liên hợp cao độ
các nhiệm vụ kinh tế, đó là nội dung biện pháp xây dựng vùng kinh tế mà các công trình
của chúng ta lấy làm cơ sở. Biện pháp đó cho phép phân chia quốc gia ra thành các vùng
thực hiện những chức năng riêng trong bộ máy kinh tế chung của đất nước, có nghĩa là
biến quốc gia thành một bộ máy kinh tế hoàn chỉnh dựa vào sự hợp tác của vùng sản xuất.
Nhờ đó mà kết hợp được sự thống nhất giữa phân công lao động xã hội với việc mở rộng
sáng kiến của các địa phương trên cơ sở kế hoạch chung.
Thực tiễn của nền kinh tế Xô viết về bố trí cơ cấu và phát triển các vùng kinh tế

- Các nhóm xã hội và xu hướng vận động của các nhóm xã hội. Quan hệ kinh tế
của các nhóm xã hội, của các doanh nghiệp, của các đơn vị hành chính có tác dụng thúc
đẩy hay kìm hãm sự phát triển của các vùng lân cận.
- Đặc trưng khác biệt của vùng với các vùng khác.
- Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của vùng.
Như vậy, có thể hiểu vùng kinh tế (hay tiểu vùng kinh tế) là một lãnh thổ có điều
kiện tự nhiên và vị trí địa lý tương đồng nhau, có các nguồn lực phát triển tương đồng
nhau với trình độ phát triển kinh tế tương đối đồng nhất, có các nhóm xã hội quan hệ với
nhau có tác dụng thúc đẩy kinh tế của vùng và của các vùng lân cận.
Đối với nước ta sau khi giành chính quyền đất nước được phân định thành các liên
khu, phù hợp với điều kiện quản lý hành chính và kinh tế trong thời gian đó. Sau khi hòa
bình được lập lại yêu cầu của công cuộc khôi phục đất nước và phát triển nền kinh tế đã
đặt ra nhiệm vụ xác định nhu cầu và năng lực phát triển của đất nước trên từng vùng lãnh
thổ, khả năng bố trí các ngành kinh tế trọng điểm trên mỗi địa phương, mỗi khu vực. Nghị
quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã đề ra nhiệm vụ: phải phân bố hợp lý sức sản
xuất ở đồng bằng, trung du và miền núi, điều chỉnh sức người giữa các vùng, quy hoạch
từng bước các vùng kinh tế, thực hiện sự phân công phối hợp giữa các vùng với nhau. Đến
Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 5 (khóa III) tháng 7/1961 về phát triển nông
nghiệp đã đặt vấn đề phân vùng nông nghiệp và xác định cách phân vùng nông nghiệp, sử
dụng một cách hợp lý nhất các tài nguyên phong phú của đất nước và sức lao động của
nhân dân. Thời gian này ủy ban Kế hoạch Nhà nước phối hợp với Bộ Nông nghiệp xây
dựng dự án phân chia miền Bắc thành bốn vùng nông nghiệp lớn và gồm 46 tiểu vùng. Dự
án này đã được chính phủ xem xét nhưng chưa được chính phủ phê chuẩn. Sau năm 1975
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã đặc biệt chú ý đến vấn đề phát triển vùng và xác
định tiến hành phân vùng, quy hoạch sản xuất để phát triển tất cả các vùng, sớm hình thành
những khu vực lớn, sản xuất tập trung, chuyên môn hóa. Đại hội đã phân định nước ta
thành bốn vùng kinh tế lớn là: Vùng đồng bằng, vùng trung du, vùng miền núi và vùng

xây dựng chiến lược phát triển kinh tế đất nước, trong đó có kinh tế vùng không chỉ là
những nỗ lực quan trọng của công tác quản lý và chỉ đạo phát triển kinh tế nói chung, mà
thực sự là bước nhảy vọt trong lý luận và thực tiễn phát triển kinh tế vùng. Quá trình phân
vùng đã chú trọng đến các chỉ tiêu giá trị theo tính chất đặc thù về kinh tế sinh thái và nhân
văn của mỗi vùng để tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn hóa theo quy mô vùng. Lần
đầu tiên trong nền kinh tế Việt Nam đã xuất hiện các vùng kinh tế phát triển trọng điểm
(còn gọi là các tam giác tăng trưởng) đó là:
1. Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
2. Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Bà Rịa Vũng Tàu.
3. Quảng Nam - Đà Nẵng - Dung Quất
Cách xác định các vùng kinh tế phát triển trọng điểm này phản ánh rõ đặc trưng bố
trí các cực phát triển chủ yếu của đất nước trong giai đoạn hiện nay. Nó cũng phù hợp với
các điều kiện địa lý không gian của nước ta theo ba miền Bắc, Trung, Nam. Đây là ba
vùng kinh tế trọng điểm có điều kiện tăng trưởng kinh tế nhanh hơn nhịp độ chung của cả
nước, cung ứng cho cả nước nhiều sản phẩm và dịch vụ cần thiết, phát huy vai trò trung
tâm về công nghiệp, dịch vụ, thương mại, tài chính, khoa học kỹ thuật, là cửa ngõ giao lưu
quốc tế. Trong giai đoạn hiện nay nhiều tỉnh có hàng loạt các đô thị mới đã được hình
thành trên cơ sở phân định ranh giới hành chính và nâng cấp quản lý đầu tư các trung tâm
phát triển mũi nhọn, việc "phát triển ba vùng trọng điểm phải kết hợp chặt chẽ, phục vụ và
thúc đẩy cho sự phát triển các vùng khác và cả nước, tạo điều kiện để các doanh nghiệp ở
vùng trọng điểm mở rộng kinh doanh và đầu tư ra các vùng khác" [18, 214].
Kinh tế vùng trọng điểm phát triển trên cơ sở phát triển mạnh sản xuất hàng hóa.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử phát triển và thay thế nhau của các
phương thức sản xuất từ thấp đến cao. Hình thức tổ chức kinh tế xã hội đầu tiên của loài
người là kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp. Kinh tế hàng hóa là sự phát triển kế tiếp kinh tế
tự nhiên trên cơ sở phân công lao động đã phát triển trong nền kinh tế tự nhiên và dần dần
mang tính đối lập với kinh tế tự nhiên. Các Mác cho rằng, phân công lao động xã hội là cơ

các vùng đều phát triển trên cơ sở khai thác thế mạnh và tiềm năng của mỗi vùng để hình
thành cơ cấu kinh tế hợp lý" [18, 209]
Vùng đầm phá Thừa Thiên - Huế (hoặc gọi là tiểu vùng trong vùng kinh tế nói
chung) có đặc điểm, điều kiện tự nhiên, địa lý, địa hình hình thành nên một vùng riêng
biệt có điều kiện phát triển kinh tế hàng hóa với những tiềm năng vốn có của vùng. Đầm
phá Tam Giang có địa hình ven bờ với độ cao không quá 10 m, lòng đầm phá hình lòng
chảo hợp thành từ các con sông, có độ sâu từ 0, 5 đến 1, 5 m; hình thành một lạch triều
ngầm có độ sâu trung bình 2m sâu dần về phía cửa Thuận An đạt 4,5 đến 5 m. Đầm phá
Tam Giang là một hệ thống gồm nhiều hệ sinh thái khác nhau: khu hệ thực vật bao gồm
thực vật phù du, thực vật nhỏ sống ở đáy, rong biển, thực vật thủy sinh bậc cao, thực vật
bậc cao. Khu hệ động vật có: động vật phù du, động vật đáy, khu hệ cá và chim. Do đặc
điểm địa hình hệ sinh thái phức tạp, đan xen nhau nên có nhiều cách hiểu và xác định
phạm vi về vùng đầm phá khác nhau:
Theo ngư dân qua kinh nghiệm sống bằng nghề chài lưới trên vùng đầm phá cho
rằng: Đầm phá Tam Giang là một hệ thống nối liền nhau, "đầm" có mức nước cạn hơn phá
(độ sâu 0,5 đến 1,5 m), còn "phá" sát với biển hơn và có các cửa thông ra biển, đầm có độ
rộng phẳng hơn so với phá. Có nơi địa hình của đầm khép kín có lạch thông ra phá (như
đầm Lăng Cô) ở đây đầm được hiểu như là ao, chuôm
- Theo cách tiếp cận của các nhà khoa học môi trường trong việc quản lý các dự án
về đầm phá cho rằng: Đầm phá Tam Giang là một hệ thống gồm nhiều hệ sinh thái khác
nhau, có quan hệ chặt chẽ tác động qua lại lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau. Nằm giữa biển
và lục địa, giữa nước mặn và nước ngọt, giữa hữu hạn và vô hạn là nơi giao lưu của cái
này và cái kia, và tất nhiên đầm phá cũng có cái riêng của mình. Chính sự phức tạp của tự
nhiên mà tạo nên sự phức tạp trong các vấn đề xã hội.
- Theo các nhà nghiên cứu kinh tế - xã hội cho rằng xét việc phát triển kinh tế - xã
hội của một vùng sẽ chịu tác động của các nhân tố chủ trương, đường lối, chính sách và
đầu tư theo góc độ hành chính nên phạm vi vùng sẽ được xác định theo đường ranh giới

Thừa Thiên - Huế có diện tích tự nhiên 5.009,2 km
2
chiếm 1,51% tổng diện tích tự
nhiên của cả nước. Theo tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn năm 1994, phân bố diện tích
đất tự nhiên của Thừa Thiên - Huế
như sau:
Bảng 1: Phân bố diện tích đất tự nhiên của Thừa Thiên - Huế

Tổng
di
ện tích
đất
tự nhiên

Đất khu
dân cư
Đất
nông
nghiệp
Đất lâm
nghiệp
Diện
tích mặt
nước
nuôi
trồng
thủy sản


- Số tuyệt
đối (ha
5.053.82
7
125.838

590.732

2.146.03
8
16.930 180.323- Cơ cấu
(%)
100 2,5 11,6 42,5 0,3 3,6
Thừa
Thiên -
Huế

- Số tuyệt 454.945

9.088,4

41.306,2

214.474

854,2 15.214 174.008,

mô đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng, mở rộng thị trường tiêu thụ.
- Nông nghiệp: Bao gồm nông - lâm - thủy sản chiếm 22,3% trong GDP, giảm
8,2% so với năm 1995. Giá trị xuất khẩu tăng 1,7% năm. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi đã
chuyển dịch ổn định theo hướng sản xuất hàng hóa.
- Du lịch - dịch vụ: Năm 1995 chiếm tỷ trọng 43,1%, tăng lên 45% năm 2000. Đây
là ngành Thừa Thiên - Huế có thế mạnh, cơ sở vật chất dịch vụ du lịch được tăng cường
các loại hình du lịch ngày càng đa dạng, hấp dẫn như: du lịch sinh thái, du lịch nhà vườn,
du lịch nghỉ dưỡng, du lịch lễ hội Thương mại - dịch vụ tiếp tục phát triển đa dạng, bảo
đảm nhu cầu phục vụ sản xuất và đời sống.
Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển đúng hướng, nền kinh tế chuyển mạnh
sang sản xuất hàng hóa. Kinh tế nhà nước chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của
tỉnh. Năm 1995 chiếm 30% GDP, tăng lên 37,41% năm 2000. Doanh nghiệp nhà nước
đảm nhận các khâu then chốt và các lĩnh vực trọng yếu như: sản xuất công nghiệp, xây
dựng hạ tầng cơ sở, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm giữ vai trò tác động, thúc đẩy các
thành phần kinh tế phát triển. Kinh tế hợp tác được củng cố và tổ chức lại theo Luật Hợp
tác xã góp phần quan trọng trong việc củng cố quan hệ sản xuất định hướng XHCN. Các
hình thức hợp tác trong sản xuất và kinh tế hộ ngày càng phát triển dưới nhiều hình thức
đa dạng phong phú. Kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển mạnh trong hoạt động thương mại,
tiểu thủ công nghiệp. Kinh tế tư bản tư nhân hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng,
dịch vụ kinh doanh thương mại, sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Cả hai thành
phần kinh tế tư nhân và cá thể quy mô sản xuất chưa lớn, nhưng đã phát huy tính năng
động, tự chủ trong sản xuất kinh doanh, góp phần tăng sản phẩm cho xã hội, giải quyết
việc làm. Chiếm tỷ trọng từ 47 - 48% trong GDP của tỉnh. Kinh tế tư bản nhà nước và kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài tuy số lượng không nhiều nhưng được đầu tư công nghệ tiến
bộ, có năng lực quản lý nên đạt tốc độ tăng trưởng cao, mức tăng bình quân 34,8%/năm.
Chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng giá trị sản xuất và nộp ngân sách của tỉnh [46, 2-
7].

đầm phá chịu ảnh hưởng chi phối rộng lớn của cơ cấu kinh tế của tỉnh. Sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế của tỉnh có xu hướng tốt, bước đầu phát huy được thế mạnh của tỉnh, góp phần
thu hút lao động, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Trong đó, dân cư
vùng đầm phá cũng được giải quyết một phần cơ bản. Doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò
tác động thúc đẩy kinh tế vùng đầm phá như: xây dựng hạ tầng cơ sở, tài chính, tín dụng,
điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt, khoa học kỹ thuật, cơ sở vật chất cho giáo dục đào tạo,
văn hóa, y tế, thể dục thể thao tạo điều kiện cho kinh tế hàng hóa vùng phát triển.
Ngoài sự tác động chung của các nhân tố trên còn có những nhân tố cụ thể tác
động đến sự phát triển kinh tế hàng hóa vùng đầm phá của tỉnh Thừa Thiên - Huế, đó là:
- Về điều kiện tự nhiên: vùng đầm phá Thừa Thiên - Huế nằm trong ô tọa độ vào
khoảng 16
0
15' -16
0
42' vĩ bắc và 107
0
22' - 107
0
57' kinh đông là một vùng đất ngập nước cỡ
lớn kéo dài 68 km theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, cách thành phố Huế 7 km và các
huyện lỵ ven bờ 0,5 - 9 km về phía Tây Nam. Vùng đầm phá Tam Giang nối đường thủy
của 5 trong 8 huyện của tỉnh gồm các huyện Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú
Vang, Phú Lộc. Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh vùng đầm phá Tam Giang thuộc đất ngập
nước tự nhiên và là nước lợ. Căn cứ vào tính chất phân dị, chức năng sinh thái có thể phân
chia chúng thành 10 kiểu thuộc 4 nhóm là: Nhóm đất ngập nước phủ thực vật, nhóm đất
ngập nước không phủ thực vật, đất ngập nước thường xuyên và đất ngập nước khác đã
được sử dụng. Bao gồm Phá Tam Giang, đầm Sam, đầm Hà Trung, đầm Chuồn, đầm Thủy

độ và hướng thay đổi theo mùa. Sự trao đổi nước giữa đầm phá và biển qua cửa biển thay
đổi phức tạp theo mùa tác động đến các yếu tố thủy hóa của toàn vùng. Vùng cửa sông gần
như ngọt về mùa mưa và không còn phân tầng, độ muối trong khoảng 0,02% - 0,2% và lợ
về mùa khô khoảng 1,3% - 11,4%. Vùng lòng chảo đầm phá có độ muối cao hơn và phân
tầng về mùa khô. Độ muối trong khoảng 18,2% - 24,1% (tầng mặt), 22,2% - 25,4% (tầng
đáy) và về mùa mưa 3,4% - 11,9% (tầng mặt) và 5,2% - 12,1% (tầng đáy). Vùng cửa phá
27,2% - 32,4% (tầng mặt) và 29,4 - 32,3% (tầng đáy) vào mùa khô. Còn mùa mưa 15,1% -
22,6% (tầng mặt), 23,2% - 23,5% (tầng đáy). Độ muối cao nhất ở cửa phá và thấp nhất ở
cửa sông.
- Về nguồn lợi thủy sản: vùng đầm phá là nơi giàu nguồn lợi thủy sản và tài
nguyên khác. Khu hệ cá đầm phá Tam Giang phong phú và đa dạng với 233 loài cá thuộc
125 giống, 62 họ khác nhau chúng gồm có ba nhóm sinh thái: Nhóm cá biển chiếm 65%
tổng số loài
Nhóm cá nước lợ khoảng 19,3% số loài
Nhóm cá nước ngọt chiếm 15,7% số loài.
Nguồn lợi này cho sản lượng cao và có thể đánh bắt quanh năm(như bộ cá trích, cá
mối, cá đồi, cá dìa, cá chép, cá dầy, cá bống, cá song, cá hồng, cá khế, cá liệt ). Cá đầm
phá không to bằng cá biển nhưng ngon nên được tiêu thụ mạnh và một số loài đang là đối
tượng thủy sản xuất khẩu.
Vùng đầm phá có 12 loài tôm thuộc 3 họ trong đó có nhiều loài có giá trị cao như
tôm sú, tôm bạc, tôm rằn, tôm đất có thể khai thác quanh năm đặc biệt là tháng tư và
tháng chín. Ngoài cá và tôm vùng đầm phá còn có cua, trai, vẹm xanh, sò huyết có giá trị
kinh tế cao.
Vùng đầm phá Tam Giang có 73 loài chim trong đó có 34 loài di cư và 39 loài
định cư trong đó có 28 loài có giá trị kinh tế cao, 25 loài được ghi trong danh mục bảo vệ
nghiêm ngặt của cộng đồng châu Âu, một loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam.
Vùng đầm phá có nhiều loài thực vật có giá trị thực tiễn lớn được khai thác dùng

triển khai ở hầu hết các xã, tuy nhiên vẫn còn hạn chế. Dân cư đầm phá Thừa Thiên - Huế
nói riêng và dân cư Huế nói chung cuộc sống ảnh hưởng tư tưởng của Nho giáo và Phật
giáo từ bao đời nay. Văn hóa làng, xã với nếp sống truyền thống luôn tôn vinh quá trình
giáo dưỡng cho nhân dân đạo lý làm người, có ý thức tôn sư trọng đạo, xây dựng thực hiện
kỷ cương gia đình và xã hội. Vùng đầm phá có lợi thế về giao thông nhưng chưa khai thác
được cho nên việc đi lại của dân còn cách trở dẫn đến tình trạng yếu kém về trình độ văn
hóa, mức sống của dân cư trong vùng nói chung còn thấp và không đồng đều giữa các khu
vực, điều kiện hưởng thụ văn hóa thấp, tỷ lệ mù chữ cao so với toàn tỉnh. Nhìn chung, đời
sống văn hóa, tinh thần của dân cư vùng đầm phá còn nghèo nàn lạc hậu. Tình hình an
ninh trật tự an toàn xã hội vùng đầm phá tương đối ổn định. Tuy nhiên, số người vượt biên
khá lớn sau năm 1975, hiện nay hồi hương trở về ngày càng đông. Trên địa bàn có nhiều
hoạt động viện trợ nhân đạo, hoạt động từ thiện của các tổ chức phi chính phủ, tổ chức
tôn giáo ở quy mô nhỏ; trong đó có cả việc vận động dân cư đi chùa, đi nhà thờ ngày càng
nhiều.
Về hệ thống giao thông phát triển ở cấp huyện, vùng đầm phá chủ yếu là đường
cấp phối liên thôn liên xã. Điện lưới về hầu hết các xã trong các huyện, trên thực tế chỉ
khoảng 45% - 50% dân số các xã dùng điện cho sinh hoạt và sản xuất thấp hơn mức chung
của cả tỉnh. Nguồn nước ngọt cho sinh hoạt rất khó khăn trong mùa hè. Thông tin liên lạc
còn hạn chế tuy nhiên các trung tâm dân cư ven biển và đầm phá đều có trung tâm bưu
chính viễn thông. Hệ thống cơ sở chăm sóc sức khỏe cộng đồng trên toàn vùng đã được
hình thành, nhưng hạ tầng kỹ thuật của các bệnh viện, trạm xá bị xuống cấp nghiêm trọng,
đội ngũ y, bác sĩ thiếu Như vậy với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng đầm phá
nếu khai thác đúng và hết tiềm năng to lớn của vùng sẽ trở thành những yếu tố rất tích cực
đối với quá trình hình thành và phát triển kinh tế hàng hóa của vùng.
- Các mối quan hệ cơ bản: mối quan hệ gắn bó giữa các vùng, các ngành, các
khâu, các yếu tố là cơ sở để phát huy và khai thác có hiệu quả lợi thế của vùng, nâng cao
khả năng chuyên môn hóa của vùng, góp phần làm tăng tính hiệu quả của các hoạt động

nay đã đem lại hiệu quả kinh tế cao và có khả năng làm giàu cho các hộ nuôi trồng. Vì vậy
phát triển ngành thủy sản của vùng đầm phá có mối quan hệ với các ngành khác đó là:
quan hệ với ngành chế biến "Phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm và công nghiệp
hàng tiêu dùng nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước, đồng thời hướng mạnh về xuất khẩu, ưu
tiên phát triển những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh và hiệu quả cao" [18, 179]. Đối với
thủy sản vùng đầm phá nhiều loại có giá trị cao, phát triển công nghiệp chế biến đáp ứng
nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Chế biến thủ công phổ biến hiện nay của ngư dân ven
phá chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh và một số tỉnh miền Trung.
Quan hệ với ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp trồng rừng ven biển đầm phá,
đánh bắt hải sản ven bờ và xa bờ. Đây là những ngành mà ngư dân vừa đánh bắt nuôi trồng
vừa kiêm thêm các nghề đó, tạo thu nhập bảo đảm đời sống cho dân cư, từ đó tạo điều kiện
cho sản phẩm nuôi trồng được đem ra trao đổi mua bán thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát
triển.
Điều kiện tự nhiên vùng đầm phá cho phép phát triển du lịch sinh thái góp phần
tạo nên sự phong phú đa dạng trong ngành du lịch của Thừa Thiên - Huế đó là: các lăng
tẩm, các chùa, suối, thác biển, vườn quốc gia Bạch Mã, khu bảo tồn tự nhiên trên vùng
đầm phá Phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải thuận lợi tạo điều kiện cho mối
quan hệ giữa ngành đánh bắt nuôi trồng thủy sản phát triển cùng với sự phát triển, mở rộng
của ngành du lịch.
Dân cư vùng đầm phá còn có các ngành nghề khác như: chằm nón Huế, làm thợ
xây, thợ mộc, đan tre mây, đan vá lưới Tuy nhiên các nghề này phát triển tự phát và còn
rất nhỏ bé từ đời này sang đời khác là ngành nghề truyền thống nhưng chưa phát triển theo
sản xuất hàng hóa, chủ yếu tranh thủ thời gian nông nhàn để làm, do đó chưa tính đến giá
thành của sản phẩm, chủ yếu lấy công làm lãi và sản xuất phục vụ nhu cầu tiêu dùng, góp
thêm vào phần thu nhập của gia đình.
Thứ ba, vùng đầm phá trải qua 5 trong 9 huyện, thành phố của Thừa Thiên - Huế.
Vì vậy mối quan hệ giữa vùng đầm phá với các huyện rất chặt chẽ thông qua sự quản lý

mặt hàng khác. Các công ty chế biến thủy sản chủ yếu đóng trên địa bàn thành phố Huế.
Vì vậy vùng đầm phá là nơi cung cấp nguồn nguyên liệu tạo điều kiện cho các công ty chế
biến trên địa bàn thành phố Huế hoạt động.
Tóm lại, từ sau khi mở rộng thị trường, lấy thị trường làm điểm xuất phát của sản
xuất. Các mối quan hệ kinh tế vùng đầm phá ngày càng được mở rộng cùng với việc thực
hiện đa dạng hóa sản phẩm, đã tạo ra được vùng nuôi trồng thủy sản hàng hóa có sản
lượng cao và tốc độ tăng trưởng nhanh, làm thay đổi cơ cấu kinh tế ở nông thôn vùng đầm
phá, biến các vùng đất hoang vu trước đây trở thành vùng sản xuất hàng hóa. Thực hiện
chuyển đổi từng bước cơ cấu kinh tế trong vùng cho phù hợp với lợi thế của đầm phá.
Nuôi trồng thủy sản của vùng đã và đang trở thành ngành sản xuất hàng hóa phục vụ tiêu
dùng và xuất khẩu. Những nhân tố phát triển kinh tế hàng hóa nói chung và những nhân tố
phát triển kinh tế hàng hóa vùng đầm phá của tỉnh Thừa Thiên - Huế được đề cập ở trên đã

Trích đoạn Vấn đề quy hoạch, kế hoạch để phát triển toàn diện vùng đầm phá của tỉnh Thừa Thiên Huế Sự phối hợp của các ngành các cấp Phát triển nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình kinh tế để khai thác thế mạnh toàn diện theo lợi thế so sánh vùng đầm phá Thừa Thiên Huế Phát triển kinh tế hàng hóa vùng đầm phá Thừa Thiên Huế trong tổng thể quy hoạch của tỉnh, của trung ương và kinh tế miền Trung Nhóm giải pháp về quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế hàng hóa vùng đầm phá Thừa Thiên Huế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status