LUẬN VĂN:
Một số biện pháp nâng cao chất lượng sản
phẩm của dây chuyền lắp ráp xe máy tại công
ty Lifan - Việt Nam
Lời mở đầu
Trong những năm qua cùng với xu hướng hội nhập toàn cầu về kinh tế, thương mại,
Chương I
Giới thiệu tổng quan về công ty Lifan - Việt Nam
I. Quá trình hình thành và phát triển.
1. Lịch sử ra đời.
Công ty Liên doanh Chế tạo xe máy Lifa - Việt Nam được thành lập ngày
18/01/2002.
Là liên doanh duy nhất của Trung Quốc được phép sản xuất lắp ráp xe máy tại Việt
Nam.
Là liên doanh được thành lập bởi Công ty Trách nhiệm Hữu hạn (tập đoàn) công
nghiệp Lifan Trùng Khánh (Trung Quốc) với công ty xuất nhập khẩu và đầu tư VIEXIM.
Thời hạn hoạt động của công ty là 30 năm với tổng số vốn đầu tư là: 4.670.000 USD
và vốn pháp định là: 1.570.000 USD.
Trong đó, bên phía Trung Quốc góp vốn 70% bên Việt Nam góp vốn 30% với
ngành nghề kinh doanh chủ yếu của công ty là sản xuất, chế tạo xe máy và động cơ xe
máy.
Dự án đầu tư này đã trình chính phủ Việt Nam tháng 10 năm 2001 đến ngày
18/01/2002 được Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội cấp giấy phép đầu tư số
20A/GPĐC2 - Hà Nội và đến ngày 18/07/2002 được Bộ Mậu dịch đối ngoại Trung Quốc
cấp giấy chứng nhận gia công lắp ráp ở nước ngoài.
2. Các giai đoạn phát triển chủ yếu của công ty.
2.1. Giai đoạn ổn định để đi vào sản xuất kinh doanh (2002 - 2003).
Ngay sau khi được Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội cấp giấy phép đầu tư thì đến
tháng 4 năm 2002 Công ty bắt đầu đi vào sản xuất, trong giai đoạn này về cơ bản công ty
đã hoàn thành cơ sở hạ tầng hệ thống sản xuất và bộ máy quản lý đồng thời xây dựng
được một số tổng đại lý và 92 cửa hàng bán lẻ trên hầu hết các tỉnh thành trong cả nước,
trong giai đoạn này sản phẩm chủ yếu của công ty là xe máy.
2.2. Giai đoạn hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ sở vật chất kỹ thuật (2003 - 2004).
Trong giai đoạn này công ty đã xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức với các
phòng ban chức năng bao gồm: phòng kế toán, phòng tiêu thụ, phòng kế hoạch sản xuất,
+ Phòng cung ứng vật tư (phòng chuẩn bị sản xuất).
+ Phòng kiểm nghiệm.
+ Phân xưởng lắp ráp động cơ.
+ Phân xưởng lắp ráp xe máy.
+ Phân xưởng lắp ráp và sản xuất bộ máy phát điện.
1.1.2. Phó tổng giám đốc kinh doanh: Có chức năng tham mưu cho tổng giám đốc
về việc chỉ đạo điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, và thay mặt tổng
giám đốc trong việc thương lượng các hoạt động mua bán hàng hóa, vật tư và lên kế
hoạch sản xuất, trực tiếp phụ trách 5 phòng:
+ Phòng kế toán.
+ Phòng tiêu thụ.
+ Phòng kế hoạch sản xuất.
+ Văn phòng tổng hợp.
+ Văn phòng đại diện.
1.1.3. Phó tổng giám đốc quản lý hành chính.
Giúp cho việc giám đốc điều hành hoạt động của công ty về việc tổ chức hành
chính, theo dõi tình hình nhân sự và các công việc chung của toàn công ty.
Đồng thời quản lý chung hoạt động sản xuất tại các phân xưởng, bàn bạc và cùng
với tổng giám đốc kinh doanh xem xét đưa ra ý kiến về các vấn lao động, hợp đồng lao
động, nhân sự hay các hợp đồng kinh tế với đối tác trước khi lấy ý kiến quyết định của
tổng giám đốc.
Sơ đồ bộ máy quản lý tại công ty Lifan - Việt Nam
Giám đốc
kinh doanh
Phó T
ổng
Giám đốc sản
xu
ất
Phòn
g tiêu
thụ
Phòn
g Kế
toán
Phòn
g Kế
hoạc
h sản
xuất
Văn
phòn
g
tổng
hợp
Phòn
g kỹ
thuật
chất
lượn
Văn
phòng
đại diện
TP H
ồ
T
ổng
đ
ại lý
tại Hà Nội
miền Bắc
T
ổng
đ
ại lý
TP. Hồ Chí
Minh Miền
T
ổng
đ
ại lý
TP. tại Vinh
miền Trung
- Phòng tiêu thụ: Có nhiệm vụ ngày càng mở rộng mạng lưới tiêu thụ phân phối sản
phẩm của công ty một cách hiệu quả và thuận lợi nhất đến tay khách hàng, đồng thời phải
đảm bảo tốt nhất các hoạt động sau bán hàng, dịch vụ hậu mãi mà công ty đã đề ra.
- Phòng kế hoạch sản xuất: có chức năng chính là lên kế họch sản xuất sản phẩm
thật hợp lý trong từng thời điểm thời kỳ, giai đoạn. Đồng thời đảm bảo chính xác về số
cấu trực tuyến chức năng, tức là cấp dưới nhận lệnh trực tiếp từ cấp trên phụ trách mình
và có trách nhiệm trực tiếp về nhiệm vụ mà cấp trên giao phó, đối với cấp trên thì phải
chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả hoạt động của cấp dưới do mình phụ trách.
Vấn đề tiếp theo ta có thể nhận thấy: chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi
phòng ban là tương đối rõ ràng từ đó làm tăng hiệu quả hoạt động quản lý của mỗi phòng
ban, đồng thời làm giảm sự chồng chéo về chức năng và quyền hạn của mỗi bộ phận này.
- Phân xưởng sản xuất lắp ráp bộ phát điện.
Thực hiện sản xuất theo kế hoạch mà công ty đã đặt ra cho phân xưởng mình, đồng
thời tuân thủ và làm tốt các yêu cầu mà phòng kỹ thuật chất lượng đã xác định vấn đề
chất lượng toàn công ty.
2. Đặc điểm tổ chức sản xuất tại công ty Lifan - Việt Nam.
Công ty liên doanh chế tạo xe máy Lifan - Việt Nam là một đơn vị sản xuất hàng
tiêu dùng với tính chất là phương tiện giao thông đi lại cho nên xuất phát từ tính chất của
sản phẩm mà công ty sản xuất thì đây là loại sản phẩm đòi hỏi tính chính xác trong sản
xuất là rất cao mới có thể đảm bảo an toàn cho người sử dụng. Hiện tại, bộ máy sản xuất
của công ty gồm có 13 phân xưởng sản xuất một cách độc lập, liên tục và đều đặn. Mặc
dù mỗi phân xưởng có chức năng nhiệm vụ sản xuất khác nhau nhưng các phân xưởng
này có mối quan hệ hữu cơ với nhau một cách nhịp nhàng và ăn khớp trong việc tạo ra
sản phẩm cuối cùng.
Sau đây là nhiệm vụ chính của từng phân xưởng:
2.1. Phân xưởng lắp ráp bộ phát điện.
Nhiệm vụ chính của phân xưởng này là thực hiện kế hoạch lắp ráp động cơ theo
đúng yêu cầu của kế hoạch sản xuất mà công ty đặt ra.
Các yêu cầu của kế hoạch sản xuất có thể kể đến là:
- Yêu cầu đủ về số lượng, đúng về chủng loại động cơ trong từng thời điểm cụ thể.
- Yêu cầu về bảo đảm chất lượng kỹ thuật của từng loại động cơ.
- Yêu cầu về đảm bảo thực hiện đúng những gì đã viết theo tiêu chuẩn ISO 9001:
2000.
Với các yêu cầu đó công ty có thể đảm bảo luôn đúng hẹn và giữ được uy tín với
nhiệm, quyền hạn của mỗi vị trí trong phân xưởng và rộng hơn là quá trình trực tiếp sản
xuất sản phẩm, từ đó có thể làm tăng năng suất lao động của các phân xưởng nói riêng và
toàn công ty nói chung. Đồng thời với quy trình công nghệ như hiện nay thì công ty có
thể đảm bảo uy tín đối với các đối tác kinh doanh cũng như với khách hàng trực tiếp tiêu
dùng sản phẩm của công ty. Hơn nữa, cách tổ chức quản lý sản xuất như vậy còn giúp
cho công ty ngày càng khẳng định được tên tuổi và thương hiệu sản phẩm của công ty
mình.
3. Đặc điểm về công nghệ và cơ sở vật chất
Hiện tại công ty Lipan - Việt Nam đang sở hữu một hệ thống máy móc thiết bị và
dây chuyền sản xuất lắp ráp động cơ, xe máy có chất lượng cao với kỹ thuật hiện đại tiên
tiến bậc nhất của tập đoàn lipan - Trung Khánh Trung Quốc.
Cụ thể là tại phân xưởng lắp ráp động cơ công ty đang sử dụng ba dây truyền lắp ráp
với công suất thiết kế 1000 động cơ một ngày, còn tại phân xưởng lắp ráp xe máy công ty
đang sử dụng hai dây truyền lắp ráp với công suất thiết kế 300 xe một ngày.
Ngoài ra ta phân xưởng sản xuất lắp ráp bộ phát điện công ty cũng đang sử dụng các
máy móc như máy dập, nay Đồng thời công ty còn đang sử dụng 2 hệ thống thiết bị kiểm
tra tiêu chuẩn kỹ thuật chất lượng của các linh kiện, của động cơ và của xe trước khi xuất
xưởng.
- Hệ thống thiết bị kiểm tra tiêu chuẩn kỹ thuật động cơ được biểu thị trong bảng
sau:
Bảng 1: Bảng mô tả hệ thống thiết bị kiểm tra tiêu chuẩn kỹ thuật động cơ
STT
Tên thiết bị
Số
lượng
Nơi sản xuất
Năm sản
3
Thiết bị kiểm tra độ dây lớp
mạ
1 Trung Quốc 2000 2002
4
Thiết bị kiểm tra độ bền lớp
mạ
1 Trung Quốc 2000 2002
5 Thiết bị kiểm tra độ giảm sóc 1 Trung Quốc 2000 2002
6
Thiết bị kiểm tra độ chính xác
của khung xe
1 Trung Quốc 2000 2002
7 Thiết bị đóng côn, bát phuốc 1 Trung Quốc 2000 2002
8 Máy nén khí 1 Trung Quốc 2000 2002
9 Máy vào lốp 1 Trung Quốc 1999 2002
10 Máy cân vành 1 Trung Quốc 1999 2002
11
Thiết bị kiểm tra độ ô nhiễm khí
thải
1 Trung Quốc 2000 2002
12
Thiết bị kiểm tra độ trung vết
của bánh xe
1 Trung Quốc 2000 2002
13 Thiết bị kiểm tra tốc độ xe 1 Trung Quốc 2000 2002
14
Thiết bị kiểm tra độ rọi của đèn
pha
1 Trung Quốc 2000 2002
Mỗi một người công nhân phải hoàn thành bước công việc của mình theo đúng thao
tác kỹ thuật mà dây truyền công nghệ yêu cầu, nếu tại bước công việc nào người công
nhân chưa hoàn thành thì tại đó động cơ sẽ được loại ngay nhằm đảm bảo tiến độ của dây
truyền.
Đặc biệt nếu ở một bước công việc nào không đạt yêu cầu tức mắc lỗi thì người
công nhân đảm nhiệm công đoạn đó sẽ phải chịu trách nhiệm về mình .
3.3. Sơ đồ quy trình công nghệ lắp ráp xe máy.
4. Nguyên vật liệu.
Đầu vào của công ty chủ yếu được cung ứng từ hai nguồn chính.
* Nguồn thứ nhất: linh kiện, thiết bị xe máy ngoại nhập chủ yêu từ Trung Quốc đây
là nguồn linh kiện đóng vai trò quan trọng nó chiếm khoảng 70% - 85% giá trị sản phẩm.
Linh
ki
ện
Lắp ráp Động cơ
Thủ nổ
Linh kiện
Động cơ
Thủ nổ
-
+
+
3 Săm trước 1 1,25
4 Lốp sau 1 5,05
5 Săm sau 1 1,49
6 Vành bánh trước 1 10,13
7 Vành bánh sau 1 11,33
8 ốp trái 1 6,2
9 ốp phải 1 6,4
10 Thân dộng cơ 1 7,7
11 Cần số 1 2,44
12 Chân chống chính 1 5,71
13 Chân chống phụ 1 1,97
14 Bộ xả khí giảm thanh 1 15,06
15 Đệm yên 1 10,73
16 Bộ để chân phía trước 1 3,6
17 Bộ để chân phía sau 1 6,9
18 Tấm chắn gió (cánh yến trái, phải) 2 9,61
19 Tấm chắn bùn sau 1 2,03
20 Băng đệm 2 0,5
21 Bọc tay lái (bên trái + bên phải) 2 1,08
22 Giá đỡ phần đuôi 1 3,46
23 Dây phanh tay 1 1,32
24 Dây van tiết lửa 1 1,26
25 Trục giá đỡ 1 1,31
26 ắc quy 1 6,51
27 Đệm bộ giảm phanh 1 0,5
28 Cao su bọc để chân 2 0,83
29 Giá đỡ 1 3,12
30 Đuôi xe 1 6,47
31 Các loại ốc 5,47
Đối với đội ngũ nhân viên văn phòng đều có trình độ từ cao đẳng trở lên và hầu hết
được công ty đào tạo trước khi việc sau đó mới nhận vào công tác.
Đối với lực lượng lao động trực tiếp sản xuất, thì đa phần trong số họ đều có chứng
chỉ nghề về sửa chữa và lắp ráp xe máy hoặc ít nhất là có trình độ văn hoá tốt nghiệp
trung học trở lên.
Đặc biệt đối với những người chưa tiếp xúc với lĩnh vực này đều phải qua đào tạo
và thử việc tại công ty sau đó mới được ký hợp đồng chính thức.
Hơn nữa: Do công nghệ lắp ráp xe máy chủ yếu làm việc theo tính chuyên môn hoá.
Do đó việc bố trí lao động cho phù hợp với năng lực từng người sao cho hợp lý nhằm
phát huy hết khả năng của lao động là một vấn đề cần phải quan tâm hơn nữa.
Vì vậy trong thời gian qua công ty luôn quan tâm tới việc bỗi dưỡng, nâng cao tay
nghề cho người lao động, hàng năm đều tổ chức các lớp học về qui trình lắp ráp, học tập
an toàn lao động và nội qui, qui chế của công ty.
Bảng 4: Thể hiện cơ cấu lao động của công ty
Năm
Chỉ tiêu
2003-2004 2004-2005
Tổng số CBCNV 312 357
Cán bộ quản lý 54 62
Đại học 31 37
Cao đẳng 16 18
Trung cấp 7 7
Nhân viên kỹ thuật (kỹ thuật viên) 24 29
Trên đại học 0 0
Đại học 14 17
Cao đẳng 7 9
Trung cấp 3 3
Công nhân 234 266
xác của động cơ, cũng như của xe cho nên yêu cầu đặt ra đối với người công nhân trực
tiếp sản xuất là hết sức quan trọng.
Đó là các yêu cầu sau:
+ Người công nhân trực tiếp sản xuất đảm bảo thao tác của mình một cách chính
xác theo đúng thao tác của qui trình công nghệ đã đặt ra.
Họ có nghĩa vụ là phải thực hiện đúng thao tác trong bước công việc của mình đảm
nghiệm.
+ Ngoài ra người công nhân còn phải một tinh thần làm việc nghiêm túc để không
gây ra những sai sót cơ bản, chẳng hạn như lắp thiếu linh kiện, lắp thừa linh kiện và
không làm chậm tiến độ công việc của dây truyền lắp ráp.
+ Không những thế, người công nhân còn phải nghiêm túc chấp hành và thực hiện
theo đúng nội quy, quy định của phân xưởng nơi mình làm việc và của toàn công ty.
Chẳng hạn như họ phải đi làm đúng giờ qui định, không tự ý nghỉ việc hay bỏ việc khi
chưa được sự đồng ý của quản đốc phân xưởng hay giám đốc công ty.
+ Đồng thời họ phải tuân thủ các yêu cầu tiêu chuẩn ISO 9001:2000đã đặt ra cho
mỗi phân xưởng trong công ty như vệ sinh nơi làm việc không làm ảnh hưởng đến môi
trường làm việc xung quanh.
5.2. Yêu cầu về máy móc, thiêt bị.
- Để sản phẩm có thể đạt chất lượng tốt từ đó mà có được chỗ đứng vững chắc trên
thị trường điều đó là không đơn giản trong một môi trường kinh tế có sự cạnh tranh gay
gắt và khốc liệt như hiện nay.
- Chất lượng sản phẩm là sự tập hợp của rất nhiều yếu tố, mà chủ yếu là các yếu tốt
chủ quan bên trong doanh nghiệm. Đó là các yếu tố như: - con người.
- Máy móc, thiết bị
- Khả năng tài chính.
- Khả năng về các nguồn lực khác…
Do đó mới chỉ có được một đội ngũ cán bộ công nhân viên giỏi là chưa đủ để đảm
bảo cho sản phẩm có chất lượng tốt. Song song với yếu tố con người thì yêu cầu về máy
móc thiết bị là hết sức cần thiết.
toàn của sản phẩm.
Đúng vạy, để khách hàng có thể yên tâm khi tiêu dùng sản phẩm, đặc biệt là xe máy
đâylà phương tiện giao thông đi lại với tốc độ cao và mật độ sử dụng là rất lớn. Cho nên
nguy hiểm có thể xảy ra bất cứ lúc nào, do nắm bắt được vấn để này công ty đã đặt yêu
cầu về độ an toàn và chính xác lên hàng đầu tạo cho người tiêu dùng cảm giác yên tâm
khi tham gia giao thông.
- Yêu cầu tiếp theo đói với sản phẩm của công ty là yêu cầu về tính kinh tế của sản
phẩm, yêu cầu này là rất phù hợp với các loại sản phẩn khi sử dụng có tiêu hao nguyên
liệu, năng lượng. Vấn đề tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng trong sử dụng trở thành một
trong những yếu tố quan trọng phản ánh chất lượng và khả năng cạnh tranh của các sản
phẩm của công ty trên thị trường. Vì vậy đây có thể được coi là một yêu cầu rất đúng đắn
và chính xác.
- Cũng xuất phát từ đặc điểm về sản phẩm mà công ty đã quan tâm và chú trọng đến
yêu cần mức dộ gây ô nhiễm của sản phẩm.
Cũng giống như yêu cầu tính kinh tế của sản phẩm thì yêu cầu mức độ gây ô nhiễm
được coi là yêu càu bắt buộc các nhà sản xuất, các công ty phải tuân thủ khi đưa sản
phẩm của mình ra thị trường, đặc biệt là đối với các công ty sản xuất các loại sản phẩm
khi sử dụng đó thải chất thải ra môi trường xung quanh.
- Ngoài các yêu cầu đã ênu thì công ty cũng cần phải quan tâm đến chất lượng đích
thực tức là chất lượng toàn dịên của sản phẩm, mà mình tung ra trên thị trường, đồng thời
xem xét xem nó có phù hợp với nhu cầu mong đợi của người tiêu dùng hay không và nó
có phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng trong đoạn thị trường mục tiêu của công
ty hay không.
5.4. Yêu cầu của hệ thống ISO 9001 - 2000.
* Những yêu cầu cơ bản của ISO 9001.
ISO 9001 bao gồm 20 điều khoản đảm bảo chất lượng với từng công việc cụ thể.
5.4.1. Trách nhiệm lãnh đạo.
5.4.2. Hệ thống chất lượng.
5.4.3. Xem xét hợp đồng.
9001:2000 đặt ra đối với công ty.
Có thể kể ra một số nguyên tắc sau đây.
- Đảm bảo sự cam kết của lãnh đạo trong công ty.
- Đảm bảo nguyên tắc định hướng vào khách hàng.
- Đảm bảo sự tham gia của các thành viên.
- Đảm bảo cải tiến liên tục.
- Đảm bảo chất lượng trong thiết kế.
- Đảm bảo chất lượng trong sản xuất
- Đảm bảo chất lượng trong kiểm tra.
III. Chất lượng và vai trò của chất lượng sản phẩm.
1. Các khái niệm, quan điểm về chất lượng sản phẩm.
1.1.Theo quan điểm siêu việt.
Chất lượng sản phẩm là sự tuyệt hảo nhất của sản phẩm.
1.2. Chất lượng theo quan điểm từ phía sản phẩm.
* Chất lượng sản phẩm được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm
đó.
Hay theo quan điểm của Liên Xô cũ:
- Chất lượng sản phẩm là tập hợp những tính chất của sản phẩm chế định tính thích
hợp của sản phẩm đó để thỏa mãn những nhu cầu xác định phù hợp với công dụng của
nó.
- Hoặc: chất lượng sản phẩm là một hệ thống đặc trưng nội tại của sản phẩm được
xác định bằng những thông số này được lấy ngay trong sản phẩm đó hoặc trong giá trị sử
dụng nó.
1.3. Chất lượng sản phẩm xuất phát từ phía nhà sản xuất.
Chất lượng sản phẩm là sự hoàn hảo và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp
các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn, quy cách đã được xác định trước.
Theo quan điểm nàu chất lượng sản phẩm mới chỉ dừng lại và bó hẹp trong phạm vi
sản xuất, tức là chất lượng sản phẩm theo quan điểm này mới chỉ tiêu chất lượng đặt ra.
1.4. Chất lượng sản phẩm theo định hướng thị trường.
hoạch sản xuất sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường. Nhu cầu thị trường có thể nói là
thước đo giá trị của CLSP. Nhà cung ứng phải sản xuất ra sản phẩm theo đúng nhu cầu
thị trường như thế nào thì việc nâng cao CLSP mới thực sự đúng hướng. Chính điều này
thúc đẩy sản xuất phát triển mạnh cả về mặt chất và mặt lượng. Việc nâng cao CLSP là
giải pháp quan trọng để doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh.
2.1.2. Trình độ tiến bộ của khoa học - công nghệ (KH - CN).
Với sự phát triển nhanh và mạnh mẽ, ngày nay, KH - CN đã và đang trở thành một
lực lượng sản xuất trực tiếp, do đó chất lượng của bất kỳ sản phẩm nào cũng gắn liền và
bị quyết định bở sự phát triển của KH - CN, đặc biệt là ứng dụng những thành tựu KH -
CN vào sản xuất không những góp phần vào việc giảm chi phí mà còn nâng cao chất
lượng sản phẩm. Tiến bộ KH - CN không những tạo ra khả năng sản xuất mới, thúc đẩy
nhanh sự phát triển của một số ngành, tăng tỷ trọng của chúng trong cơ cấu công nghiệp
mà còn nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm.
Làm chủ được KH - CN , tạo điều kiện để ứng dụng một cách nhanh nhất, hiệu quả
nhất những thành tựu KH - CN vào sản xuất là vấn đề quyết định đối với nâng cao CLSP.
2.1.3. Hiệu lực của cơ chế chính sách, quản lý.
Dù ở bất kỳ hình thái kinh tế nào, sản xuất luôn luôn chịu tác động của cơ chế quản
lý kinh tế, kỹ thuật và xã hội nhất định. Hiệu lực của cơ chế chính sách quản lý, ảnh
hưởng tới CLSP chủ yếu ở các mặt sau:
Trên cơ sở một hệ thống luật pháp chặt chẽ quy định những hành vi, thái độ và
trách nhiệm pháp lý của nhà sản xuất đối với việc cung ứng những sản phẩm đảm bảo
chất lượng, Nhà nước tiến hành kiểm tra theo dõi chặt chẽ mọi hoạt động của người sản
xuất nhằm bảo vệ người tiêu dùng.
Căn cứ vào những mục tiêu cụ thể trong từng thời kỳ Nhà nước cho phép xuất
nhập khẩu các loại sản phẩm khác nhau. Điều này cũng làm cho các nhà sản xuất cần phải
quan tâm khi xây dựng các kế hoạch sản xuất - kinh doanh.
Về chức năng quản lý của Nhà nước đối với chất lượng sản phẩm việc xây dựng
các chính sách thưởng phạt về CLSP cũng ảnh hưởng đến tinh thần của các doanh nghiệp
trong những cố gắng cải tiến chất lượng. Việc khuyến khích và hỗ trợ của Nhà nước đối