MỞ ĐẦU
Trong thời đại khu vực hoá và toàn cầu hoá, chất lượng sản phẩm và dịch vụ
có một vai trò hết sức quan trọng và đang trở thành một thách thức to lớn đối
với mọi quốc gia trên con đường hội nhập vào thế kỷ 21.
Thất bại hay thành công trong cuộc cạnh tranh vô cùng khốc liệt trên
thương trường hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ thích hợp của hàng hoá và
dịch vụ, sự hợp lý về giá cả, điều kiện mua bán giao nhận, xác định được thời
điểm đưa hàng hoá ra thị trường…Muốn cạnh tranh hữu hiệu trên thị trường
quốc tế cũng như trong nước để đạt lợi nhuận cao thì doanh nghiệp cần phải
xây dựng một hệ thống quản lý chất lượng thích hợp tiên tiến.
Đối với Việt Nam với đường lối đổi mới và chính sách đa phương hoá
trong các lĩnh vực, trước hết trong lĩnh vực kinh tế,việc nâng cao chất lượng
hàng hoá và dịch vụ đang trở thành phương thức tất yếu, một biện pháp có
hiệu lực để đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế và đáp ứng ngày một tốt hơn
yêu cầu xã hội, góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập.
Đối với nhà máy Thuốc lá Thăng Long nói riêng, trải qua hơn 45 năm
tồn tại và phát triển ngày nay đã trở thành một trong những đơn vị vững
mạnh của cả nước. Mặc dù sản phẩm thuốc lá bị hạn chế sử dụng vì có hại
cho sức khoẻ nhưng nhà máy Thuốc lá Thăng Long hiện giờ vẫn chưa thể
ngừng sản xuất được. Nếu giả sử như tất cả các cơ sở sản xuất thuốc lá của
Việt Nam không hoạt động nữa thì thị trường thuốc lá nội địa sẽ bị lũng đoạn
bởi thuốc lá nước ngoài.Hiện nay sản phẩm của nhà máy Thuốc lá Thăng
Long đã được người tiêu dùng chấp nhận và chất lượng sản phẩm đã được cải
thiện rõ rệt, nhưng trong công tác quản lý vẫn còn một số hạn chế nhất định.
Để tìm ra những biện pháp thúc đẩy hơn nữa công tác quản lý chất lượng ở
nhà máy Thuốc lá Thăng Long, tôi đã chọn đề tài ”một số biện pháp nâng
cao chất
1
lượng sản phẩm ở nhà máy Thuốc lá Thăng long" làm đề tài tốt nghiệp.
Đề tài gồm ba phần chính như sau:
Phần 1: Nâng cao chất lượng sản phẩm là mục tiêu quan trọng của
chung nhìn nhận chất lượng sản phẩm theo góc độ của người sản xuất còn có
một số hạn chế:
Thứ nhất, quan điểm này tách sản phẩm ra khỏi thị trường, chưa gắn
sản phẩm với nhu cầu. Bởi vì thực tế là có rất nhiều sản phẩm đạt tiêu chuẩn
kỹ thuật nhưng không đáp ứng được những mong muốn của khách hàng và
dẫn đến sản phẩm sản xuất ra nhưng chưa chắc đã bán được trên thị trường.
Thứ hai, quan niệm này làm cho chất lượng sản phẩm bị tụt hậu so với
nhu cầu của thị trường. Vì nhu cầu của con người luôn luôn thay đổi trong
khi đó các tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm laị cố định một cách cứng nhắc.
Cho nên luôn có khoảng cách giữa chất lượng trong tiêu chuẩn thiết kế với
tiêu chuẩn chất lượng theo nhu cầu của người tiêu dùng.
4
Cuối cùng do những quan niệm về chất lượng theo cách quan sát sản
phẩm nên công tác quản lý chất lượng chủ yếu tập trung vào khâu sản xuất,
đầu tư vào kiểm soát, kiểm tra sản phẩm cuối cùng. Cho nên có thể nói rằng
khâu quản lý chất lượng mang tính chất rất cục bộ.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp sản xuất hoặc mua sản
phẩm là để bán cho người tiêu dùng. Chính vì vậy cần thiết phải nhìn nhận
chất lượng sản phẩm dưới quan điểm của người tiêu dùng.
1.2. Chất lượng sản phẩm theo hướng thị trường:
Đứng trên góc độ của người tiêu dùng chất lượng sản phẩm phải thể
hiện các khía cạnh sau:
_chất lượng sản phẩm là tập hợp các chỉ tiêu, những đặc trưng thể hiện
tính năng kỹ thuật hay tính hữu dụng của nó.
_chất lượng sản phẩm được thể hiện cùng với chi phí. Người tiêu dùng
không dễ gì mua một sản phẩm với bất kỳ gía nào.
_chất lượng sản phẩm phải được gắn với điều kiện tiêu dùng cụ thể của
từng người, từng địa phương…phong tục tập quán của một cộng đồng có thể
phủ định hoàn toàn những thứ mà thông thường ta có thể cho là" có chất
lượng "
chỉnh, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng.
Vì vậy khi xuất nguyên vật liệu ra khỏi kho đưa vào quá trình sản
xuất,nhất thiết phải kiểm tra tiêu chuẩn của các yếu tố đầu vào này.Ngoài ra
doanh nghiệp cũng phải quan tâm đến việc xây dựng cho mình một hệ thống
6
20%
80%
lçi do s¶n xuÊt lçi do qu¶n lý
các nhà cung ứng đầy tín nhiệm và bền chặt để tránh sự phụ thuộc quá nhiều
vào một nhà cung cấp mà vẫn đem lại lợi ích cho cả hai bên
Thứ hai là:Kỹ thuật-công nghệ tiến bộ: Quá trình công nghệ là một quá
trình phức tạp, qua quá trình này tính chất ban đầu của nguyên vật liệu được
thay đổi, bổ sung hoặc cải thiện theo hướng phù hợp với công dụng của sản
phẩm. Cho nên công nghệ là yếu tố quyết định đến việc hình thành chất
lượng sản phẩm. Còn khoa học là yếu tạo ra lực đẩy, khả năng cải tiến và
nâng cao chất lượng. Điều này được thể hiện qua sự sáng tạo, sáng chế ra các
sản phẩm mới, sản phẩm thay thế có tính năng sử dụng cao hơn, hoặc tạo ra
các máy móc thiết bị mới có khả năng sản xuất các sản phẩm tốt hơn, ở trình
độ cao hơn. Mặc dù kỹ thuật và công nghệ được đổi mới nhưng thiết bị cũ thì
không thể nào nâng cao được chất lượng sản phẩm. Hay nói cách khác nhóm
yếu tố kỹ thuật-công nghệ –thiết bị có mối quan hệ tương hỗ khá chặt chẽ,
không chỉ góp phần vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn tăng tính
cạnh tranh của sản phẩm trên thương trường, đa dạng hoá chủng loại nhằm
thoả mãn nhu cầu tiêu dùng tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao mà chi
phí bỏ ra lại thấp.
Yếu tố thứ ba là phương pháp tổ chức quản lý
Có nguyên vật liệu tốt, có kỹ thuật thiết bị công nghệ hiện đại, nhưng
không biết tổ chức lao động, tổ chức sản xuất, tổ chức kiểm tra chất lượng
sản phẩm, tổ chức tiêu thụ, vận chuyển, dự trữ bảo quản hàng hoá, sửa chữa
vận hành và nâng cấp máy móc thiết bị…hay nói cách khác không biết tổ
dùng.Vấn đề con người phải được đặt lên hàng đầu, con người cần phải được
đào tạo mà trước mắt là cán bộ quản lý rồi mới đến công nhân kỹ thuật. Mọi
người phải có nhận thức rằng việc nâng cao chất lượng sản phẩm là trách
nhiệm và vinh dự của mọi thành viên, là sự sống còn, là quyền lợi thiết thân
đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
8
Sự phân chia tách bạch các yếu tố trên chỉ là qui ước, để hiểu rõ tác
động của từng nhân tố đến chất lượng sản phẩm chứ thực ra trong yếu tố này
có yếu tố kia, yếu tố kia lại quay trở lại tác động vào yếu tố này. Các yếu tố là
một thể thống nhất, có mối quan hệ hữu cơ với nhau và được thể hiện qua sơ
đồ 2:
Sơ đồ 2:
2.2 Nhóm yếu tố bên ngoài doanh nghiệp
Doanh nghiệp cũng như một cơ thể sống, cũng phải trao đổi với môi
trường bên ngoài. Doanh nghiệp nào mà tự tách mình ra khỏi môi trường thì
doanh nghiệp đó khó có thể tồn tại được huống chi là nói đến vấn đề phát
triển và mở rộng qui mô. Cho nên khi xét đến các nhân tố ảnh hưởng đến chất
lượng sản phẩm không thể bỏ qua các nhân tố về thị trường, về sự phát triển
của khoa học kỹ thuật, về chính sách quản lý của nhà nước…
2.2.1.Nhu cầu của nền kinh tế
*Đòi hỏi của thị trường: Nhu cầu của thị trường về sản phẩm đó như
thế nào: cỡ, loại, tính năng kỹ thuật, số lượng, cho ai sử dụng, vào những lúc
nào…Hơn nữa, đòi hỏi của thị trường trong nước lại khác với thị trường nước
ngoài. Trên mỗi thị trường lại có yêu cầu khác nhau đối với từng đối tượng
sử dụng. Đó là chưa nói đến sự biến đổi của thị trường về một phương diện
9
Men
Con
người
tác kinh tế, khoa học kỹ thuật nhằm tạo con đượng đặc thù trong phát triển
kinh tế trong một thời kỳ nhất định nào đó cũng trực tiếp chi phối sự thuận
lợi hay không thuận lợi cho sự phát triển về chất lượng sản phẩm.
2.2.2.Sự phát triển của khoa học công nghệ
Trong thời đại ngày nay, cùng với đặc điểm là khoa học công nghệ trở
thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì trình độ chất lượng của bất cứ sản phẩm
nào cũng gắn liền và bị chi phối bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc
biệt là sự ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật công nghệ vào sản
10
xuất. Xét trong việc tổ chức ra một sản phẩm cụ thể nào đó, cái quyết định để
có sự nhảy vọt về năng suất, chất lượng và hiệu quả chính là việc ứng dụng
các thành tựu tiến bộ. Hướng chính của việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ hiện
nay là:
-Sáng tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế. Bằng nghiên cứu ứng
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, xác lập các vật liệu mới (đặc biệt là các
nguồn nguyên liệu có sẵn, chủ động ) có thể hoặc tạo nên những tính chất đặc
trưng mới cho sản phẩm tạo thành, hoặc thay thế cho sản phẩm cũ nhưng duy
trì được tính chất cơ bản của sản phẩm. Ở đây có điều quan trọng là khi sáng
tạo ra vật liệu mới hay vật liệu thay thế nhất thiết phải qua nghiên cứu, thử
nghiệm, đánh giá, kết luận về công dụng của nó có đúng nghĩa vật liệu mới
hay vật liệu thay thế không.
-Hướng thứ hai là cải tiến hay đổi mới công nghệ: Với sản phẩm đã
xác định, một công nghệ nào đó chỉ cho phép đạt tới một mức chất lượng tối
đa ứng với nó. Công nghệ chế tạo càng tiến bộ thì càng có khả năng tạo ra
sản phẩm có chất lượng cao hơn, ổn định hơn. Ví dụ trong ngành đúc, công
nghệ đúc bằng khuôn kim loại có năng suất và chất lượng hơn khuôn đúc cát;
trong nhiệt luyện, tôi trên máy tần số chất lượng gia công bề mặt đồng đều
hơn là tôi ở lò điện hay lò phản xạ. Ở nước ta nói chung, trình độ trang bị
công nghệ của các ngành sản xuất chưa cao, còn nhiều bất hợp lý tiềm năng
chưa khai thác hết. Vì vậy, đồng thời với việc thiết lập các hệ thống công
các mặt sau đây:
*Kế hoạch hoá phát triển kinh tế: Một quan điểm, một phương pháp kế
hoạch hoá đảm bảo nguyên tắc cân đối các yếu tố vật chất và tinh thần, cân
đối giữa số lượng và chất lượng, cân đối giữa tích luỹ và tiêu dùng, lấy yêu
cầu chất lượng tiêu dùng làm điểm xuất phát thì nhất định sự phát triển sản
xuất sẽ đi vào con đường đảm bảo chất lượng. Trong quá trình xây dựng, xét
12
duyệt, đánh giá hoàn thành kế hoạch, nếu luôn luôn tính tới yếu tố chất
lượng, không đem chất lượng đối lập với số lượng, phân tích sâu sắc tỉ mỉ
hiệu quả chung đem lại …thì chắc chắn sản phẩm làm ra sẽ đạt được tới mức
chất lượng hợp lý nhất trong điều kiện cho phép.
*Giá cả: Giá cả phải định theo mức chất lượng.Sản phẩm có nhiều mức
chất lượng khác nhau thì phải có giá trị tương ứng khác nhau. Đồng thời,
chênh lệch giá giữa các sản phẩm cùng loại có mức chất lượng khác nhau
phải đảm bảo khuyến khích sản xuất ra sản phẩm có mức chất lượng cao.
*Chính sách đầu tư: Chú trọng đầu tư theo chiều sâu để nâng cao hiệu
quả tổng hợp của lực lượng sản xuất bằng cách dành lực lượng như thiết bị,
cán bộ…thích đáng cho việc nghiên cứu, chế thử…nhằm nâng cao chất
lượng. Đây là hướng đầu tư quan trọng nhất để nâng cao chất lượng và hiệu
quả chung của nền kinh tế .
*Tổ chức quản lý về chất lượng : Đó chính là việc hình thành cơ chế
quản lý chất lượng sản phẩm trong cơ chế chung của quản lý kinh tế. Mục
tiêu chất lượng và hiệu quả phải được thể hiện trong từng việc làm và kết quả
cụ thể của mọi mặt hoạt động có liên quan từ nghiên cứu, thiết kế, chế thử
đến tổ chức sản xuất, lưu thông, sử dụng sản phẩm.
Tóm lại một cơ chế hợp lý, một môi trường pháp luật bình đẳng và
đồng bộ là điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực chất lượng hoạt động. Chính nhà
nước sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, buộc các doanh nghiệp
muốn đứng vững để phát triển phải đưa vấn đề nâng cao chất lượng lên hàng
đầu.
chu kỳ sau dựa trên cơ sở của chu
kỳ trước và do đó đưa chất lượng
sản phẩm tiến lên.
-Nhiệm vụ của quản lý chất
lượng là xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng thông qua việc xác định mức
yêu cầu chất lượng, đa dạng hoá mức chất lượng sản phẩm đưa ra thị trường.
1.2.Chức năng của quản lý chất lượng
*Lập kế hoạch chất lượng
Kế hoạch chất lượng chính xác đầy đủ là cơ sở để doanh nghiệp định
hướng các hoạt động tiếp theo .Cũng giống như mọi kế hoạch khác kế hoạch
chất lượng được xây dựng theo các bước sau:
-Thứ nhất là xây dựng chương trình, chiến lược và kế hoạch chất
lượng.
14
-Thứ hai là xác định những yêu cầu chất lượng phải đạt tới trong từng
giai đoạn nhất định.
-Thứ ba là chỉ ra những phương hướng cụ thể để thực hiện từng mục
tiêu chất lượng.
-Cuối cùng là xác định kết quả dài hạn của những biện pháp thực hiện.
*Tổ chức thực hiện: Tổ chức thực hiện có ý nghĩa quyết định đến việc
biến các kế hoạch chất lượng thành hiện thực.Các bước tiến hành:
-Tạo sự nhận thức một cách đầy đủ về mục tiêu chất lượng đối với
từng người.
-Tổ chức những chương trình đào tạo và giáo dục, khuyến khích người
lao động tham gia tích cực vào quản lý chất lượng .
-Xây dựng ban hành các tiêu chuẩn qui trình bắt buộc.
-Cung cấp đầy đủ nguồn lực để thực hiện kiểm soát chất lượng.
*Kiểm tra, kiểm soát chất lượng :Mục đích là tìm kiếm những nguyên
nhân gây ra khuyết tật của sản phẩm để có những biện pháp ngăn chặn kịp
thời. Nhiệm vụ chủ yếu:
-Chỉ tiêu về kích thước: thường được áp dụng cho các mặt hàng như :
giày dép, hàng dệt, hàng may mặc…hoặc để hợp lý hoá sản xuất,đóng gói
vận chuyển, bảo quản.
-Chỉ tiêu về cơ lý như khối lượng các thông số, các yêu cầu về kỹ thuật
như độ bền, độ chính xác, độ tin cậy, độ an toàn trong sử dụng…
-Chỉ tiêu về sinh hoá như thành phần hoá học biểu thị giá trị dinh
dưỡng của thực phẩm, khả năng sinh nhiệt, hệ số tiêu hoá…sự có mặt của
thành phần hoá học bổ sung đôi khi dẫn đến những thay đổi quan trọng về
chất lượng.
16
Việc lựa chọn những chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ làm cơ sở để kiểm tra
đánh giá một số mặt hàng nào đó phải xuất phát từ công dụng, đặc điểm cấu
tạo cũng như điều kiện sử dụng sản phẩm ấy.
*Nhóm chỉ tiêu kiểu dáng thẩm mỹ bao gồm:
-Tính biểu hiện của kiểu dáng thể hiện ở bố cục rõ ràng, từng bộ phận
đường nét đều tạo nên hiệu quả thẩm mỹ.
-Tính hoàn chỉnh thể hiện sự thống nhất hữu cơ giữa các bộ phận riêng
lẻ, vừa tinh tế vừa hài hoà.
-Sự phong phú về kiểu cách, mẫu mã nhưng lại phù hợp với nhu cầu
tiêu dùng
-Sản phẩm phải đảm bảo sự hài hoà về màu sắc, làm tôn tính độc đáo
của sản phẩm
*Nhóm chỉ tiêu kinh tế
Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến
chất lượng mà còn phải xem xét kỹ về giá cả của sản phẩm.
Một sản phẩm có khả năng cạnh tranh cao là một sản phẩm đạt chất lượng
cao mà chi phí của chất lượng lại thấp: đó là toàn bộ các chi phí liên quan đến
quá trình sản xuất, tiêu dùng và các chi phí xã hội khác. Như vậy, nhóm các
chỉ tiêu kinh tế quyết định đến chất lượng sản phẩm.
3.NỘI DUNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TRONG CÁC KHÂU CỦA QUÁ
của mình nếu nguyên liệu và vật tư mà bên cung ứng giao cho không đạt tiêu
chuẩn hay có khuyết tật. Vì vậy chất lượng nguyên vật liệu của người cung
cấp được đặc biệt quan tâm. Việc đảm bảo chất lượng nguyên vật liệu cũng là
điều kiện cần thiết để kế hoạch hoá nhịp nhàng các công đoạn sản xuất, nâng
cao năng suất và lập kế hoạch giảm chi phí. Nội dung của việc bảo đảm chất
lượng trong khâu cung ứng nguyên vật liệu bao gồm các bước sau:
-Lập kế hoạch cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất.
18
-Lựa chọn nguồn cung ứng.
-Tạo lập hệ thống thông tin phản hồi chặt chẽ, thường xuyên giữa
doanh nghiệp và nhà cung ứng.
-Thoả thuận việc đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng vật tư cung ứng,
các phương pháp kiểm tra, xác minh nguyên vật liệu.
-Xác định các phương án giao nhận và thời hạn giao nhận
-Xác định rõ, đầy đủ và thống nhất các điều khoản trong việc giải
quyết các trục trặc của quá trình cung ứng nguyên vật liệu.
Muốn đánh giá việc cung ứng nguyên vật liệu có đạt tiêu chuẩn hay
không phải căn cứ vào ba chỉ tiêu chính sau:
+Một là số lần cung ứng đúng thời hạn.
+Hai là tỷ lệ nguyên vật liệu không đạt tiêu chuẩn chất lượng .
+Ba là tổng chi phí cho việc cung ứng.
Khi đã có những chỉ tiêu chất lượng mà thị trường đặt ra trong giai
đoạn thiết kế sản phẩm, khi đã có nguyên vật liệu đúng yêu cầu doanh nghiệp
phải bắt tay ngay vào sản xuất sản phẩm. Và vấn đề trung tâm ở đây là muốn
nâng cao chất lượng sản phẩm phải quản lý chất lượng trong giai đoạn sản
xuất .
3.3.Quản lý chất lượng trong giai đoạn sản xuất:
Mục đích của quản lý quá trình sản xuất không phải là loại bỏ những
sản phẩm xấu, kém chất lượng vừa sản xuất xong mà là ngăn chặn sao cho
không có những sản phẩm xấu xuất hiện trong quá trình sản xuất. Trong sản
không thể lường trước được, đó là những vấn đề thoả mãn những khiếu nại
của người tiêu dùng khi chất lượng sản phẩm của mình gặp phải những sự cố.
Nhà sản xuất cung cấp sản phẩm chất lượng thấp, khách hàng sẽ khiếu
nại. Nhưng thông thường chỉ khiếu nại những sản phẩm giá cao, còn những
sản phẩm rẻ tiền đôi khi khách hàng cũng bỏ qua. Và thế là những thông tin
20
về chất lượng thấp của sản phẩm không đến được nhà sản xuất . Còn người
tiêu dùng thì lẳng lặng tìm mua sản phẩm của hãng khác.Vì vậy các nhà sản
xuất còn phải làm sao thu thập được những khiếu nại của người tiêu dùng
ngay cả đối với những sản phẩm có giá trị thấp.
Tuy nhiên thông tin khiếu nại về chất lượng sản phẩm có hữu hiệu, có
được giải quyết triệt để hay không còn tuỳ thuộc vào thái độ, vào cách thức tổ
chức của nhà sản xuất . Biện pháp hữu hiệu nhất là tổ chức mối liên hệ
ngược đối với các khiếu nại của người tiêu dùng.
21
Trình tự thoả mãn các khiếu nại như sau :
Ngoài ra bảo hành là một hoạt động cần thiết và quan trọng để đảm bảo
chất lượng sản phẩm trong quá trình sử dụng . Cần phải có thời gian bảo hành
sản phẩm đơn vị sản xuất chịu chi phí nếu sản phẩm trục trặc trong quá trình
sử dụng .Bảo hành,bảo dưỡng kỹ thuật là sự thoả thuận giữa nhà kinh doanh
và người tiêu dùng.Thuận lợi cho người tiêu dùng càng nhiều thì uy tín của
nhà kinh doanh và lợi nhuận của họ càng lớn.
Hơn nữa nguyên nhân dẫn đến làm hỏng sản phẩm do việc sử dụng
không đúng, vận hành trong những điều kiện bất thường hoặc kiểm tra định
kỳ không đầy đủ… Chính vì vậy đối với tất cả các sản phẩm, nhất là các sản
phẩm sử dụng lâu, cần phải có tài liệu hướng dẫn sử dụng, hướng dẫn kiểm
tra định kỳ…thật chi tiết. Tài liệu hướng dẫn cần phải được trình bày dễ hiểu,
đầy đủ sao cho bất cứ người nào cũng phải sử dụng được. Trong tài liệu này
cũng cần nêu rõ những quyền lợi của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm
và trách nhiệm của nhà sản xuất đối với trục trặc của sản phẩm .
Thị trường không còn là độc quyền của một số nước mà có sự tham gia của
rất nhiều doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác nhau. Xu hướng toàn cầu hoá
nền kinh tế một mặt tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt
Nam nắm bắt được cơ hội kinh doanh mới nhưng mặt khác cũng làm cho
cạnh tranh gay gắt hơn. Đảm bảo sản phẩm sản xuất ra có thị trường tiêu thụ
các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm. Chất
lượng là một trong những giải pháp quan trong để các doanh nghiệp Việt
Nam tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường, tăng khả năng hội nhập
với nền kinh tế thế giới. Ngược lại khả năng cạnh tranh cao tạo điều kiện cho
đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm.
-Chất lượng sản phẩm tốt là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện chiến
lược mở rộng thị trường, tạo uy tín, danh tiếng cho sản phẩm. Từ đó làm cơ
sở cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
-Hiệu quả kinh tế : sự thành công của một doanh nghiệp không chỉ phụ
thuộc vào sự phát triển sản xuất có năng suất mà còn được tạo bởi sự tiết
kiệm ( tiết kiệm nguyên vật liệu, thiết bị và lao động ) trong quá trình sản
xuất và sự tiết kiệm nhờ không lãng phí do không sản xuất ra những sản
phẩm sai hỏng kém chất lượng. Nâng cao chất lượng sản phẩm đồng nghĩa
với tính hữu ích của sản phẩm được nâng cao, thoả mãn nhu cầu của người
tiêu dùng đồng thời giảm chi phí trên một đơn vị sản phẩm ( giảm nguyên vật
23
liệu sử dụng, tiết kiệm tài nguyên, giảm những vấn đề về ô nhiễm môi trường
). Như vậy nâng cao chất lượng sản phẩm chính là con đường ngắn nhất đem
lại hiệu quả kinh tế cao .
-Chất lượng sản phẩm nâng cao giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu đ
lợi nhuận. Chất lượng sản phẩm góp phần đẩy mạnh tiến bộ sản xuất, tổ chức
lao động trong doanh nghiệp, đảm bảo việc làm ổn định cho người lao động,
tăng thu nhập cho họ và làm cho họ tin tưởng gắn bó với doanh nghiệp.
Chính họ là người tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao giúp doanh
nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả hơn