Luận văn: BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU LỜI THOẠI TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG - Pdf 15


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Hoàng Thị Quỳnh Ngân

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU LỜI THOẠI
TRONG VĂN XUÔI VI HỒNG
Chuyên ngành: Ngôn ngữ.
Mã số: 60 22 01.

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. Đào Thị Vân
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ

Thái Nguyên, năm 2008
MỤC LỤC

Trang
Phần mở đầu
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Lịch sử vấn đề
2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
6
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
7
5. Phương pháp nghiên cứu
7

3.1. Những lớp hành vi ngôn ngữ được sử dụng trong lời thoại (trong
văn xuôi Vi Hồng)
64
3.2. Chủ ngôn của các hành vi ngôn ngữ trong lời thoại (trong văn
xuôi Vi Hồng)
86
3.3. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp được
sử dụng trong lời thoại (trong văn xuôi Vi Hồng)
91
3.4. Kết luận chương
102
Chương 4 - Những yếu tố cơ bản tạo nên nét riêng của lời thoại
trong văn xuôi Vi Hồng
103
4.1. Lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng sử dụng hệ thống từ của tiếng
dân tộc
103
4.2. Lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng sử dụng hệ thống thành ngữ
108
4.3. Phương thức diễn đạt trong lời thoại (trong văn xuôi Vi Hồng)
110
4.4. Phong tục tập quán của dân tộc Tày thể hiện trong lời thoại
(trong văn xuôi Vi Hồng)
114
4.5. Kết luận chương
116
Phần kết luận
117
Tài liệu tham khảo và tư liệu khảo sát
119

2
miền núi, qua đó góp phần quan trọng vào sự phát triển thể loại tiểu thuyết
văn học thiểu số nói riêng và văn học Việt Nam nói chung.
Trong những năm qua, các tác phẩm của Vi Hồng chưa được giới ngôn
ngữ học quan tâm đúng mức. Đã có khá nhiều bài viết cũng như công trình
nghiên cứu về các tác phẩm của ông nhưng các bài viết hay công trình này
mới chỉ dừng lại dưới dạng đánh giá chung hoặc phê bình một vài tác phẩm
cụ thể. Việc tìm hiểu ngôn ngữ nói chung, đặc biệt nghiên cứu về lời thoại nói
riêng trong tiểu thuyết của Vi Hồng đến nay dường như còn để ngỏ.
1.3. Tiếp cận tiểu thuyết Vi Hồng để tìm hiểu đặc điểm lời thoại trong
thể loại này của ông không chỉ giúp ta thấy được phong cách nghệ thuật của
văn xuôi Vi Hồng mà còn giúp ta thấy được lối nói riêng của người miền núi
Cao Bằng, thấy được sự đa dạng của lời thoại, từ đó góp phần củng cố lý
thuyết hội thoại nói riêng và lý thuyết ngữ dụng nói chung.
Thiết nghĩ, những điều trình bày trên đây cho thấy việc tìm hiểu lời
thoại trong văn xuôi Vi Hồng là công việc cần thiết và nên làm. Đó cũng
chính là những lý do cơ bản khiến chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu này.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Về nghiên cứu lý thuyết hội thoại
Từ lâu, hội thoại đã trở thành lĩnh vực được các nhà nghiên cứu ngôn
ngữ đặc biệt quan tâm. Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về
hội thoại.
Trên thế giới, hội thoại được các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng như
C.K.Orecchioni, H.P.Grice, G.Leech, D.Wilson khai thác khá toàn diện về
các vấn đề như: cấu trúc hội thoại, các quy tắc hội thoại hay sự vận động hội
thoại v.v
Ở Việt Nam, những vấn đề lý thuyết hội thoại đã được các nhà ngôn
ngữ học tiêu biểu như GS.TS Đỗ Hữu Châu, GS.TS Nguyễn Đức Dân,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3

2.2.1. Từ góc độ văn chương
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu các tác phẩm của nhà văn
Vi Hồng đã được quan tâm và chú trọng. Một số luận văn tốt nghiệp của sinh
viên Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã khai thác các tác phẩm của
nhà văn Vi Hồng dưới nhiều góc độ khác nhau.
Trong luận văn“Tính dân tộc trong tiểu thuyết: Tháng năm biết nói;
Chồng thật vợ giả và Núi cỏ yêu thương của nhà văn Vi Hồng" (Luận văn cử
nhân, ĐHSP Thái Nguyên, 2004), Nông Thị Quỳnh Trâm đã làm sáng tỏ và
khẳng định những đặc sắc của tính dân tộc trong tiểu thuyết của Vi Hồng trên
hai phương diện: nội dung (tìm hiểu tính dân tộc qua cảm hứng về thiên
nhiên, về phong tục tập quán, về nhân vật và cốt cách - tâm hồn nhân vật
trong tác phẩm) và hình thức (biện pháp so sánh - liên tưởng, câu văn giàu
hình ảnh, cách xây dựng kết cấu theo lối truyền thống ).
Cũng nghiên cứu về tính dân tộc trong tác phẩm của Vi Hồng, luận văn
thạc sĩ "Tính dân tộc trong tiểu thuyết Vi Hồng" (Luận văn thạc sĩ, ĐHSP
Thái Nguyên, 2003) của tác giả Hoàng Văn Huyên được xem là công trình
nghiên cứu công phu nhất về tiểu thuyết Vi Hồng từ trước đến nay. Trong đó,
luận văn đã chỉ ra cốt cách tâm hồn dân tộc Việt Bắc trong hệ thống nhân vật
Vi Hồng, chỉ ra một số phương diện nghệ thuật mang đậm bản sắc dân tộc
như: lời văn giản dị, mộc mạc…
Còn tác giả Vi Hà Nguyên thì tìm hiểu "Hình tượng nhân vật thiếu nhi
trong truyện viết cho thiếu nhi của Vi Hồng" (Luận văn cử nhân, ĐHSP Thái
Nguyên, 2004). Trên cơ sở những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân
vật thiếu nhi của Vi Hồng, luận văn đã có được cái nhìn đúng đắn về sự phản
ánh con người miền núi trong sáng tác của nhà văn, thấy được nét độc đáo
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
trong sáng tạo nghệ thuật của tác giả, góp phần khẳng định những đóng góp
của Vi Hồng trong nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam.
Đặc biệt, sự nghiệp sáng tác của nhà văn Vi Hồng đã được TS Phạm

một trong số những nhà văn dân tộc thiểu số miền núi tiêu biểu của Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lời thoại trong văn xuôi của Vi Hồng, luận văn nhằm bốn
mục đích chính sau đây:
Thứ nhất: Tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của lời thoại trong văn xuôi Vi
Hồng để hiểu thêm về phong cách nghệ thuật của ông.
Thứ hai: Tìm hiểu lời thoại trong văn Vi Hồng để hiểu thêm về ngôn ngữ
của đồng bào dân tộc Tày nói riêng và đồng bào miền núi Việt Bắc nói chung.
Thứ ba: Bước đầu tìm hiểu lý thuyết hội thoại từ góc nhìn văn hóa.
Thứ tư: Làm tư liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu về ngôn
ngữ trong văn Vi Hồng nói riêng và trong văn xuôi nói về miền núi Việt Bắc
nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nói trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ sau đây:
- Tìm hiểu một số vấn đề lý thuyết ngôn ngữ như: lý thuyết về ngữ dụng
học, lý thuyết ngữ pháp tiếng Việt (từ, câu ), lý thuyết về cơ sở văn hoá.
- Khảo sát và phân loại lời thoại trong văn Vi Hồng theo các tiêu chí
đặt ra.
- Miêu tả lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng về các phương diện: cấu tạo
ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng học.
- Tìm hiểu những yếu tố cơ bản tạo nên nét riêng của lời thoại trong văn
xuôi Vi Hồng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
4. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là lời thoại trong một số tác
phẩm văn xuôi tiêu biểu của Vi Hồng, đó là:
- Chồng thật - vợ giả;

luận văn gồm 4 chương:
Chƣơng 1. Cơ sở lý thuyết
Chƣơng 2. Lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng xét từ phương diện cấu tạo
ngữ pháp
Chƣơng 3. Lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng xét từ phương diện
dụng học
Chƣơng 4. Những yếu tố cơ bản tạo nên nét riêng của lời thoại trong văn
xuôi Vi Hồng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
PHẦN NỘI DUNG

Chƣơng 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT Luận văn này lấy lý thuyết về ngữ dụng học và lý thuyết về ngữ pháp
tiếng Việt là cơ sở chính để tìm hiểu lời thoại trong văn xuôi Vi Hồng.

a. Các lớp hành vi ngôn ngữ được phân loại theo quan điểm của
J.L.Austin
J.L.Austin cho rằng có ba loại hành vi ngôn ngữ lớn đó là: hành vi tạo
lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời.
- Hành vi tạo lời là hành vi sử dụng các yếu tố của ngôn ngữ như: ngữ
âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu…để tạo ra một phát ngôn về hình thức
và nội dung. Ví dụ: Để có được hành vi yêu cầu "Ngày mai các bạn phải tập
trung đúng giờ", trước hết người nói phải sử dụng các từ kết hợp với nhau
theo một quy tắc nhất định để tạo được phát ngôn đó.
- Hành vi mượn lời là hành vi "mượn" phương tiện ngôn ngữ, đúng hơn
là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người
nghe, người nhận hoặc ở chính người nói. Ví dụ: Khi nghe phát ngôn sai
khiến: Bật quạt lên!, người nghe đứng dậy, đi về phía công tắc điện và bật quạt
lên. Song vì bị sai khiến nên người nghe có thể càu nhàu và tỏ vẻ khó chịu. Hành
động bật quạt, càu nhàu và thái độ khó chịu đều thuộc hành vi mượn lời. Chức
năng hành động của giao tiếp được thực hiện bằng các hiệu quả mượn lời.
- Hành vi ở lời là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng.
Chúng gây ra phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận. Các
hành vi như: hỏi, khuyên, mời, ra lệnh, hứa…đều là các hành vi ở lời. Ví dụ:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Hành vi khuyên "Tôi khuyên bạn không nên hút thuốc lá" được thực hiện
ngay khi người nói phát âm ra phát ngôn và gây ra hiệu quả nhất định đối với
người nghe, đó có thể là sự nghe lời (đồng ý bỏ thuốc lá) hoặc phản đối
(không đồng ý bỏ thuốc lá). Ngữ dụng học chỉ quan tâm đến hiệu lực ở lời do
hành vi ở lời tạo ra.
Dựa vào động từ ngữ vi và một số tiêu chí khác, Austin đã chia hành vi
ở lời thành 05 phạm trù khác nhau như sau:
- Phạm trù thứ nhất là phán xử. Đây là những hành vi đưa ra những lời
phán xét về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cớ hiển nhiên

- Thứ năm là tính quan yếu của mối liên hệ giữa người nói và người
nghe. Ví dụ: hành vi sai bảo nhạy cảm với mối quan hệ liên cá nhân giữa Sp1
và Sp2 còn hành vi trần thuật thì không.
- Thứ sáu là định hướng của đích tại lời. Ví dụ hành vi khoe hướng về
Sp1, hành vi an ủi hướng về Sp2.
- Thứ bảy là sự khác biệt trong thiết lập mối quan hệ với thành phần
còn lại của diễn ngôn. Ví dụ: câu hỏi và câu trả lời là hai thành phần của một
cặp kế cận, còn sai bảo thì không.
- Thứ tám là nội dung mệnh đề. Ví dụ Sp2 thực hiện một hành động
nào đó là đặc trưng của nội dung mệnh đề của hành vi sai bảo, còn Sp1 thực
hiện một hành động nào đấy là đặc trưng của nội dung mệnh đề của hành vi
hứa hẹn.
- Thứ chín là sự khác biệt giữa hành động luôn luôn là hành động
phát ngôn với những hành động có thể thực hiện bằng lời hoặc không bằng
lời. Ví dụ: hành vi hứa hẹn chỉ có thể thực hiện bằng lời tức là thực hiện một
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
hành vi ở lời trong khi hành vi chào có thể thực hiện bằng phương thức khác
không phải bằng lời.
- Thứ mười là thể chế xã hội. Ví dụ: hành vi kết án phải có thể chế xã
hội mới có hiệu lực nhưng hành vi trần thuật thì không đói hỏi như vậy.
- Mười một là động từ nói năng. Không phải tất cả động từ gọi tên
hành vi ở lời đều là động từ nói năng. Ví dụ: khoe và dọa không phải là động
từ ngữ vi.
- Mười hai là phong cách thực hiện hành vi ở lời. Ví dụ: công bố và
thổ lộ khác nhau ở phong cách thực hiện.
Với 12 tiêu chí này, Searle chỉ lấy 4 tiêu chí làm căn cứ chính để phân
loại hành vi ngôn ngữ là: đích ở lời, hướng khớp ghép lời với hiện thực mà lời
đề cập, trạng thái tâm lý được thể hiện và nội dung mệnh đề.
Theo các tiêu chí trên, Searle đã phân loại hành vi ngôn ngữ thành 05

+ Đích ở lời của lớp hành vi này là bày tỏ trạng thái tâm lý phù hợp với
hành vi ở lời.
+ Lớp hành vi này không có hướng khớp ghép.
+ Trạng thái tâm lý của lớp hành vi này thay đổi tuỳ từng hành vi.
+ Nội dung mệnh đề của lớp hành vi này là một hành động hay một
tính chất nào đó của Sp1 hoặc Sp2.
+ Lớp hành vi này bao gồm các hành động nói như: chúc mừng, cảm
ơn, mong muốn
- Lớp thứ năm là lớp hành vi tuyên bố
+ Đích ở lời của lớp hành vi này là nhằm tạo ra tác dụng nội dung của
hành vi.
+ Hướng khớp ghép của lớp hành vi này vừa là lời - hiện thực, vừa là
hiện thực - lời.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
+ Trạng thái tâm lý của lớp hành vi này không có đặc trưng khái quát
nhưng có các yếu tố thể chế làm cho lời có giá trị.
+ Nội dung mệnh đề của hành vi lớp này là một mệnh đề.
+ Lớp hành vi này bao gồm các hành động nói như: tuyên bố, kết luận,
đuổi
1.1.1.3. Những dấu hiệu xác định hành vi ngôn ngữ
Có nhiều dấu hiệu xác định hành vi ngôn ngữ. Dưới đây là một số dấu
hiệu cơ bản:
a. Động từ ngữ vi
Austin và Searle đã tiến hành phân biệt động từ chỉ hành động vật lý và
động từ nói năng. Động từ nói năng là các động từ chỉ hành vi ngôn ngữ.
Trong các động từ nói năng, ta thấy có những động từ có thể thực hiện
chức năng ngữ vi, tức là thực hiện chức năng ở lời, đó là động từ ngữ vi.
"Động từ ngữ vi là những động từ mà khi phát âm chúng ra cùng với
biểu thức ngữ vi (có khi không cần biểu thức ngữ vi đi kèm) là người nói thực

dụng học đã nói mà còn bao gồm những kết cấu cụ thể ứng với từng hành vi ở lời.
Ví dụ: Các kết cấu hành vi cầu khiến trong tiếng Việt thường là: hãy,
đừng nữa, làm ơn Hành vi ngôn ngữ cảm thán lại bao gồm 2 kiểu kết cấu:
từ ngữ cảm thán kết hợp với câu hỏi (Ví dụ: Trời ơi! Sao tôi khổ thế này?) và
từ ngữ cảm thán kết hợp câu trần thuyết (Ví dụ: Ôi! Phong cảnh ở đây thật
đẹp) v.v
c. Những từ ngữ chuyên dụng cho một kiểu hành vi ngôn ngữ
Những từ ngữ chuyên dụng là những từ ngữ chuyên dụng để tổ chức
kết cấu của một biểu thức ngữ vi cụ thể. Chẳng hạn, với biểu thức ngữ vi hỏi,
ta có các từ ngữ chuyên dụng như: có không, đã chưa, ai, cái gì
Ví dụ: - Ai đấy?
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
- Em đã làm bài tập chưa?
- Đây là cái gì thế?
- Bạn có đi Hà Nội không?
Những từ ngữ chuyên dụng được gạch chân trên cho ta biết hành vi
ngôn ngữ được thực hiện trong các ví dụ trên là hành vi ngôn ngữ hỏi.
Những từ ngữ chuyên dụng trong các biểu thức ngữ vi khuyên lại là:
nên, không nên
Ví dụ: - Bạn nên đi học đúng giờ.
- Anh không nên hút thuốc lá.
Những từ ngữ chuyên dụng được gạch chân trên cho ta biết hành vi
ngôn ngữ được thực hiện trong các ví dụ trên là hành vi ngôn ngữ khuyên.
Ngoài ra, còn có những từ ngữ mở đầu chuyên dùng cho các biểu thức
đánh giá như: thật là , quả là hay các từ ngữ chuyên dùng cho các hành vi
biểu cảm: ôi, trời ơi, ối cha mẹ ơi
Ví dụ: - Bộ phim này thật là hay! (Hành vi đánh giá)
- Ôi! Em đẹp quá! (Hành vi biểu cảm)
Tóm lại, những từ ngữ chuyên dụng trên thường được sử dụng trong

Hành vi ngôn ngữ xét trong mối quan hệ giữa mục đích diễn đạt và
hình thức diễn đạt có thể chia thành hai loại là hành vi ngôn ngữ gián tiếp và
hành vi ngôn ngữ trực tiếp. Hai loại hành vi ngôn ngữ này được phân biệt với
nhau ở điểm cơ bản nhất là đích ở lời mà chúng hướng đến.
a. Hành vi ngôn ngữ trực tiếp
Như đã biết, hành vi ở lời là những hành vi ngôn ngữ được người nói
thực hiện ngay khi nói năng. Những hành vi ngôn ngữ được thực hiện đúng
với điều kiện sử dụng, với đích ở lời của chúng được gọi là hành vi ngôn ngữ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
trực tiếp. Tác giả Đỗ Hữu Châu đã gọi là hành vi ngôn ngữ trực tiếp là “hành
vi ngôn ngữ chân thực” [52, 145].
Ví dụ: Phát ngôn “Bạn cho mình mượn quyển sách này nhé” là phát
ngôn thể hiện hành vi ngôn ngữ đề nghị. Phát ngôn “Ngày mai tôi sẽ đến” là
phát ngôn thể hiện hành vi ngôn ngữ hứa hẹn. Hành vi ngôn ngữ đề nghị và
hứa hẹn trên là hành vi ngôn ngữ trực tiếp.
Trong cuộc sống hàng ngày, hành vi ngôn ngữ trực tiếp luôn được sử
dụng thường xuyên và rộng rãi bởi nghĩa tường minh, chân thực của nó.
b. Hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Hành vi ngôn ngữ gián tiếp được sử dụng với bề mặt là hành vi ngôn
ngữ này nhưng lại nhằm đạt tới đích ở lời của một hành vi ngôn ngữ khác. Đỗ
Hữu Châu cho rằng: "Một hành vi được sử dụng gián tiếp là một hành vi
trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho
người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho
cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác" [12,146].
Ví dụ:
A: Cho tớ vay ít tiền nhé!
B: Mình vừa nộp học phí hết rồi.
Trong ví dụ này, Sp1 (vai nói) đề nghị Sp2 (vai nghe) cho vay tiền
nhưng Sp2 không trả lời là có hay không mà đưa ra một lời thông báo mình

gián tiếp chào khá phổ biến, như phát ngôn "Bác đi đâu đấy ạ?". Phát ngôn này
có hình thức diễn đạt là biểu thức ngữ vi là hỏi nhưng lại lại có đích là chào.
Nhưng biểu thức ngữ vi đặc thù là dấu hiệu để nhận ra hành vi ngôn
ngữ gián tiếp rất hiệu quả.
1.1.2. Lý thuyết về hội thoại
1.1.2.1. Khái niệm hội thoại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
Hiểu một cách thông thường nhất, hội thoại là "nói chuyện với nhau".
Hội thoại là hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con người.
Hội thoại được nghiên cứu đầu tiên tại Mỹ trên phương diện xã hội học, ngôn
ngữ học, dân tộc ngôn ngữ học. Từ năm 1970, hội thoại là đối tượng chính
thức của phân ngành ngôn ngữ học Mỹ, phân ngành phân tích hội thoại. Sau đó,
phân tích hội thoại được tiếp nhận tại Anh, tại Pháp…Cho đến nay, ngành ngôn
ngữ học của hầu hết các nước trên thế giới đều đã, đang bàn về hội thoại.
Trong hội thoại diễn ra sự tương tác hai chiều giữa người nói và người
nghe với sự luân phiên lượt lời. Các hình thức của hội thoại gồm có: song
thoại (hội thoại diễn ra giữa hai người), tam thoại (hội thoại diễn ra giữa ba
người) và đa thoại (hội thoại diễn ra giữa nhiều người).
Mỗi cuộc hội thoại bao giờ cũng có lúc bắt đầu và lúc kết thúc. Mỗi
cuộc hội thoại có thể có nhiều chủ đề, mỗi chủ đề lại chứa đựng nhiều vấn đề.
Tập hợp các lượt lời trao đổi về một vấn đề làm thành một đoạn thoại. Có
những căn cứ để phân biệt các cuộc hội thoại với nhau, như: thoại trường, số
lượng nhân vật hội thoại, cương vị và tư cách của người tham gia hội thoại,
đích của hội thoại, hình thức của hội thoại và ngữ vực của hội thoại, v.v
1.1.2.2. Vận động hội thoại
Bất cứ cuộc hội thoại nào cũng có ba vận động chủ yếu là:
- Vận động trao lời;
- Vận động trao đáp;
- Vận động tương tác.

chủ yếu trong hội thoại cho nên ngữ dụng học hội thoại còn được gọi là ngữ
dụng học tương tác.
Sự liên hoà phối khiến cho một cuộc thoại là một hoạt động đặc biệt
của con người, trong đó “có thể xem mỗi nhân vật tương tác là những nhạc

Trích đoạn Cấu trúc hội thoại và các đơn vị hội thoạ Vấn đề liên kết các đơn vị hội thoạ Cơ chế tạo ra nghĩa hàm ẩn Phong tục tập quán của dân tộc Tày thể hiện trong lời thoạ PHẦN KẾT LUẬN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status