Đất ngập nước và tình trạng khai thác đất ngập nước ở Việt Nam pot - Pdf 15

Chuyên đề: Đất ngập nước
& tình trạng khai thác
ĐNN ở Việt Nam
GVGD: TS. Nguyễn Thị Hai
SVTH : Trần Thị Trà My
Huỳnh Thị Mỹ Nga
Trần Thảo Nguyên

1) Tổng quan về đất ngập nước:
1.1 Đất ngập nước là gì?
Theo công ước Ramsar (điều 1.1): “ĐNN là những vùng đầm lầy,
than bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo,
thường xuyên hay tạm thời, có nước chảy hay nước tù, là nước
ngọt, nước lợ hay nước biển, kể cả những vùng nước biển có độ
sâu không quá 6m khi triều thấp”.
Ngoài ra, Công ước ( Điều 2.1) còn quy định các vùng đất ngập
nước: “ Có thể bao gồm các vùng ven sông và ven biển nằm kề
các vùng đất ngập nước, cũng như các đảo hoặc các thuỷ vực
biển sâu hơn 6m khi triều thấp, nằm trong các vùng đất ngập
nước”.

1.2 Vai trò của đất ngập nước:

ĐNN là những hệ sinh thái có năng suất cao, cung cấp cho
con người nhiều loại nhiên liệu, thức ăn, là nơi vui chơi giải
trí

Cung cấp 20% nguồn thực phẩm trên toàn cầu.

Ngoài ra, ĐNN còn có vai trò quan trọng trong thiên nhiên
và môi trường như lọc nước thải, điều hòa khí hậu, chống

tế như: nông nghiệp, thủy sản, giao thông vận tải,
du lịch, khai khoáng…và là nguồn sống của hàng
triệu người dân, là nơi cư trú của nhiều loài động
thực vật quý hiếm.

Các hệ sinh thái nước ngọt có khoảng 2611 loài thủy
sinh vật, 1.403 loài tảo biển, 190 loài giáp xác, 147 loài
trai ốc, 54 loài cá, 157 loài động vật nguyên sinh Các
vùng đất ngập mặn nội địa lớn như Đồng Tháp Mười,
U Minh và hệ thống suối là nơi chứa nhiều loài động,
thực vật đặc hữu.

Ở vùng ven biển Việt Nam đã xác định được 350 loài
san hô tạo rạn (sống gắn bó với cùng 2.000 loài sinh
vật đáy, cá và nhiều loài hải sản khác), 15 loài cỏ biển,
667 loài rong biển, 94 loài thực vật ngập mặn.

Hiện nay, sản lượng thủy sản nước ta đạt trên 2.536
triệu tấn, trong khi đó khai thác hải sản đạt 1.426 triệu
tấn và nuôi trồng 1.110 tấn. Đa dạng sinh học còn
nuôi dưỡng nguồn gen quý như: trai ngọc, bào ngư,
đồi mồi, bò biển
ĐNN tại Việt Nam có tính đa dạng sinh học rất cao
với các tiềm năng như:

Đất ngập nước ven biển Việt Nam với chiều dài bờ
biển hơn 3.000 km, là nơi phân bố của rất nhiều
sân chim với các loài chim di cư.

Rừng ngập mặn, các thảm cỏ biển và các rạn san

Vịnh Hạ Long, Cát Bà, Phú Quốc, Côn Đảo, Phong Nha
- Kẻ Bàng, Mũi Cà Mau, ĐBSCL ngày càng gia tăng

Giá trị lớn về khoa học giáo dục, bởi Việt Nam là mảnh
đất có rất nhiều bí ẩn cần phải nghiên cứu và khám phá
và cần giáo dục cho các thế hệ hiểu biết giá trị và bảo
tồn đất ngập nước.

Giá trị về lịch sử là nơi bảo tồn nhiều di tích lịch sử
như: đường Hồ Chí Minh trên biển và rất nhiều khu di
tích khác gắn liên với đất ngập nước.
2.2 Hiện trạng ĐNN hiện nay ở Việt Nam
Trong 15 năm qua, diện tích đất ngập nước tự nhiên đã giảm đi, diện tích đất
ngập nước nhân tạo tăng lên. Cụ thể là các khu rừng ngập mặn tự nhiên
ven biển đã mất dần, thay vào đó là các đầm nuôi thủy sản, các công trình
du lịch và một số ít diện tích trồng rừng. Diện tích rừng ngập mặn đã giảm
183.724ha trong 20 năm qua. Trong khi diện tích nuôi trồng thủy sản đã
tăng lên 1,1 triệu ha năm 2003.
Diện tích đất ngập mặn ven biển năm 1982 là 494.000 ha, đến năm 2000 là
606.792 ha do mở rộng diện tích nuôi tôm. Năm 1976 diện tích trồng lúa ở
ĐBSCL là 2.062.000 ha, đến năm 2004 tăng lên 3.815.000 ha
Một số vùng đất ngập nước đã khai thác quá tiềm năng ví dụ như
các hoạt động đánh cá ven bờ làm mất khả năng phục hồi. Có
vùng nuôi trồng thủy sản đã vượt quá khả năng hệ sinh thái.
Ví dụ như ở một số vịnh biển tỉnh Quảng Ninh Khu công
nghiệp mọc lên đến đâu, rừng ngập mặn bị mất đi đến đó. KCN,
đô thị, khai trường khai thác than tại vùng vịnh Cửa Lục, các
cảng biển Cái Lân, cảng than Làng Khánh đã làm mất đi hàng
nghìn ha rừng ngập mặn, bãi triều, để xảy ra tình trạng nước rửa
trôi bề mặt trong quá trình san gạt mặt bằng làm đục vùng ven bờ

lý các hóa chất bảo vệ thực vật và phân bón trong sản
xuất nông nghiệp,v.v… làm cho nguồn tài nguyên quý giá
này đang đứng trước nguy cơ bị suy thoái và cạn kiệt.
3) Bảo tồn ĐDSH ở hệ sinh thái ĐNN

Để ngăn chặn sự suy thoái của đất ngập nước, Việt Nam
cần phải tiến hành các biện pháp bảo tồn gắn liền với sử
dụng bền vững. Nước ta đang trong quá trình phát triển và
chuyển đổi, nếu chúng ta chỉ quan tâm thuần túy đến bảo
tồn thì cũng không khả thi. Trong bối cảnh là một trong 5
nước bị ảnh hưởng nặng của biến đổi khí hậu, Việt Nam
phải bắt đầu từ việc có một quy hoạch phát triển bền vững
đất ngập nước có tính đến các kịch bản của biến đổi khí
hậu toàn cầu.
.
Trước hết cần ứng dụng công nghệ hiện đại trong khai
thác khoáng sản ven bờ để hạn chế gây ô nhiễm môi
trường, hủy hoại cảnh quan thiên nhiên, đồng thời
khuyến khích du lịch sinh thái biển. Cần hạn chế phát
triển các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu đô thị ở
các vùng đất ngập nước có nhiều thiên tai và nhạy cảm
môi trường như vùng ven biển Thái Bình, Nam Định,
Ninh Bình…
Cuối cùng là hạn chế khai thác, chế biến dầu khí và các
khoáng sản ven bờ, nhất là nơi có rừng ngập mặn, rạn
san hô, thảm cỏ biển; hạn chế đánh bắt, khai thác thủy
hải sản ở vùng ven bờ, cửa sông, đầm phá, bãi triều và
nâng cao ý thức người dân sống xung quanh những khu
vực này.


gia Xuân Thủy
Một số hình ảnh ĐNN ở Việt Nam
Một số hình ảnh ĐNN ở Việt Nam
Đầm Đông HồĐNN ở ĐBSCL
Một số hình ảnh ĐNN ở Việt Nam
Một số hình ảnh ĐNN ở Việt Nam
ĐNN Vân Long
Ninh Bình
Rừng ngập mặn
cửa sông Ông Đốc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status