1Tiểu luận
Thị trường chứng khoán Việt
Nam hiện nay thực trạng và giải
pháp 2
Mở đầu
Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay là một trong những thị
trường tiềm năng, đang phát triển rất nóng, đang nhận được sự quan tâm
rất lớn từ công chúng đến Chính phủ vì nó có vai trò quan trọng trong
việc huy động vốn, cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng, tạo môi
trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Với vai
trò quan trọng đó thì một câu hỏi đặt ra là thị trường chứng khoán Việt
Nam đã làm tốt vai trò của mình chưa? Hay nó còn nhiều hạn chế và
chưa phát huy hết tính hiệu quả của nó. Để trả lời cho câu hỏi đó tôi
chọn đề tài: “ Thị trường chứng khoán Việt Nam hạn chế và giải pháp”.
Phần 1: Những vấn đề chung của thị trường chứng khoán
1.1. Sơ lược về thị trường chứng khoán
1.1.1. Thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta
mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích kiếm
lời.
Tuy nhiên, đó có thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung. Tính
tập trung ở đây được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất.
Hình thái điển hình của TTCK tập trung là Sở Giao Dịch chứng
- Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp: Thông qua chứng
khoán, hoạt động của doanh nghiệp được phản ánh một một cách tổng 4
hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của
doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một
môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn,
kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
- Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách
kinh tế vĩ mô: Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế
một cách nhạy bén và chính xác. Giá chứng khoán tăng lên cho thấy đầu
tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại, giá chứng khoán
giảm sẽ cho thấy dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, TTCK được
gọi là phong vũ biều của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp
Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua TTCK,
Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu
bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ
cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK
nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh
tế.
1.1.3. Cơ cấu thị trường chứng khoán
Xét về sự lưu thông của chứng khoán trên thị trường,, TTCK có 2
loại:
Thị trường chứng khoán sơ cấp
TTCK sơ cấp là nơi diễn ra quá trình mua bán lần đầu các
chứng khoán mới phát hành. Thị trường sơ cấp còn được gọi là thị
trường cấp một hay thị trường phát hành.
Chức năng của thị trường sơ cấp:
hành cạnh tranh nhau để bán chứng khoán của mình cho các nhà đầu tư,
các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo các mục tiêu
của mình. Trên thị trường thứ cấp, cá nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do
để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất, và đánh giá theo phương
thức đấu giá.
- Nguyên tắc công bằng: Công bằng có nghĩa là mội người
tham gia thị trường đều phải tuân thủ những qui định chung, được bình
đẳng trong việc chia sẻ thông tin và trong việc gánh chịu các hình thức
xử phạt nếu vi phạm vào những qui định đó.
- Nguyên tắc công khai: Chứng khoán là loại hàng hoá trừu
tượng nên TTCK phải được xây dựng trên cơ sở hệ thống công bố thông
tin tốt. Theo luật định, các tổ chức phát hành có nghĩa vụ phải cung cấp
thông tin đầy đủ thông tin theo chế độ thường xuyên và đột xuất thông
qua các phương tiện thông tin đại chúng, SGD, các CTCK và các tổ
chức có liên quan.
- Nguyên tắc trung gian: Nguyên tắc này có nghĩa là các giao
dịch chứng khoán được thực hiện thông qua tôt chức trung gian là các
công ty chứng khoán. Trên thị trường sơ cấp, các nàh đầu tư không mua
trực tiếp của nhà phát hành mà mua từ các nhà bảo lãnh phát hành. trên
thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh, các
công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán giúp cá khách hàng, hoặc
kết nối các khách hàng với nhau qua việc thực hiện các giao dịch mua
bán chứng khoán trên tài khoản của mình. 7
- Nguyên tắc tập trung: Các giao dịch chứng khoán chỉ diễn ra
trên sở giao dịch và trên thị trường OTC dưới sự kiểm tra giám sát của
cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tự quản.
1.1.5. Các thành phần tham gia thị trường chứng khoán
doanh của công ty. Chính đặc điểm này làm cho bộ máy quản lý trở nên
chuyên chế và có xu hướng chú trọng tới lợi ích các nhân của mình hơn
là lợi ích của các cổ đông và các chủ sở hữu. Điều mà chúng ta vẫn
thường thấy trong các doanh nghiệp nhà nước.
Trước hiện trạng đó câu hỏi đặt ra là các công ty kiểm toán độc
lập, người chịu trách nhiệm về sự trung thực của các báo cáo tài chính
do các công ty này công bố và cá nàh đầu tư, liệu đã làm hết trach nhiệm
của mình? Và các thông tin được SSC yêu cầu công bố là hoàn toàn
không đủ để có thể phân tích và đánh giá một cách sát thực hơn về tình 9
hình kinh doanh và tài chính của các công ty này. Một số công ty còn
cung cấp thông tin một cách thiếu trung thực và không đầy đủ.
Đánh giá về các công ty niêm yết:
Các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam hầu như đều là các
DNNN cổ phần hoá. Trong một vài năm trước và sau khi cổ phần hoá,
các công ty này tạo được mức lợi nhuận tương đối hấp dẫn vì được
hưởng những lợi thế nhất định từ khi chuyển đổi sở hữu. Phần lớn các
công ty đầu tiên được lựa chọn để tiến hành cổ phần hoá (theo kiểu thí
điểm) đều là các công ty đang hoạt động tương đối tốt của các Bộ, các
Tổng công ty hoặc của các địa phương. Ngoài ra, việc được hưởng ưu
đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp trong những năm đầu sau khi cổ phần
hoá tạo cho các doanh nghiệp này khả năng tạo được mức lợi thế tương
đối hấp dẫn. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, lợi thế của một số
công ty có được là nhờ một số lợi thế độc quyền mà đơn vị chủ quản
trước đây mang lại. Những lợi thế này chỉ tạo được khả năng duy trì lợi
nhuận trong một khoảng thời gian ngắn và hầu như không xuất phát từ
tiềm năng và khả năng cạnh tranh thực lực của doanh nghiệp. Chính vì
vậy, doanh nghiệp không có khả năng đối phó với những biến động của
hệ thống hành chính công.
Quí 1 năm 2007, tiền gửi (bằng tiền đồng) của các tổ chức kinh tế
tăng mạnh (11,4% so với mức 1,05% của quí 1-2006) thì tiền gửi của 11
dân cư tăng thấp (6,6% so với mức 13,2% của quí 1-2006 (Báo cáo của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư). Nguyên nhân được xác định là trong quí 1
nhiều doanh nghiệp đã tích cực phát hành cổ phiếu, trái phiếu để tăng
vốn trong khi người dân dồn tiền vào chứng khoán thay vì gửi vào ngân
hàng. TTCK tiếp tục phát triển nhưng không ổn định. Nguyên nhân có
phần do tác động tích cực của tình hình kinh tế tăng trưởng cao và ổn
định nhưng chủ yếu do nhu cầu tăng quá lớn và do hoạt động đầu cơ trên
trên thị trường
Cơ chế hạn chế đầu tư đã đặt các kế hoạch của chính phủ nhằm cải
cách các doanh nghiệp nhà nước làm ăn thiếu hiệu quả hoặc thua lỗ vào
tình huống khó xử. Hiện nay, với việc Việt Nam gia nhập tổ chức
thương mại Thế giới WTO, hoạt động M&A đã bắt đầu có những bước
tiến ổn định đầu tiên, bằng việc các nhà đầu tư nước ngoài đã tận dụng
được lợi thế của các doanh nghiệp đã cổ phần hòa kết hợp với môi
trường pháp lý đang được hoàn thiện, gia nhập vào đội ngũ các doanh
nghiệp trong nước, hoặc là đối tác kinh doanh hoặc là thông qua kênh
hoạt động độc lập.
Hầu hết các công ty trong nước rất cần đến nguồn vốn đầu tư từ
nước ngoài, những bí quyết công nghệ - kỹ thuật và phương pháp quản
lý của nước ngoài, để có thể cạnh tranh với thị trường thế giới cũng như
để duy trì một vị thế vững chắc trước sự đổ xô đầu tư của các đối thủ
cạnh tranh nước ngoài vào thị trường trong nước. Mặc dù vẫn trong quá
trình chuyển đổi từ một nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trường,
các doanh nghiệp Việt Nam đang dần thích nghi để theo kịp sự phát triển
ở thị trường trong nước đã tăng gần gấp 4 lần từ 32000 tài khoản lên 13
120000 tài khoản trong năm 2007, trong khi đó số các công ty niêm yết
trên thị trường chứng khoán đã tăng gấp đôi lên con số 107 trong vòng
sáu tháng cuối năm 2006.
Có những thay đổi quan trọng về quy định đối với thẻ tín dụng,
nhằm giảm bớt sự lo ngại đang gia tăng của các nhà đầu tư và tạo khung
pháp lý về đầu tư của Việt Nam phù hợp hơn với các tiêu chuẩn của
WTO đề ra, một luật về chứng khoán mới đã được ban hành vào đầu
năm 2007, nhằm thiết lập những tiêu chuẩn mới đối với các công ty
trong việc công bố thông tin và công tác quản lý, cho dù các công ty đó
được giao dịch trên sàn giao dịch OTC hay trên sàn giao dịch chính
thức. Các quy định về thị trường cũng đang dần theo hướng các tiêu
chuẩn tài chính quốc tế cũng như các tiêu chuẩn quốc tế về kiểm toán
đối với các doanh nghiệp quốc doanh.
Nếu các quy định pháp lý về thị trường chứng khoán theo kịp được
tốc độ lưu chuyển vốn nhanh của các tổ chức nước ngoài. Những dự
đoán tiêu cực về sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Việt Nam đã
buộc chính phủ phải cấp thiết đưa ra việc kiểm soát chặt chẽ, trong đó có
mô hình hạn chế của Thái Lan, trong đó bắt buộc các nhà đầu tư nước
ngoài, nếu muốn đầu tư, thì phải cam kết tối thiểu là trong thời hạn 1
năm mới được rút vốn ra khỏi thị trường này. Cho dù là tốt hơn, hay xấu
đi, cho đến nay, các nhà lãnh đạo Đảng cũng đã lưu tâm tới ý kiến đóng
góp của nước ngoài là để cho thị trường tự điểu chỉnh hơn là ban hành
những quy định về mặt hành chính để điểu chỉnh việc định giá của cổ
phiếu, đây là dấu hiệu gần đây nhất trong những cam kết của Việt Nam
hướng tới kinh tế thị trường.
15
Hiện nay, đến 70-80% vốn đổ vào chứng khoán là để đầu cơ chứ
chưa phải là đầu tư vốn cho nền kinh tế”.
Theo đánh giá của các chuyên gia, TTCK không chính thức bắt
đầu hình thành tự phát không có sự quản lý một vài năm trước khi Trung
tâm Giao dịch chứng khoán Tp. HCM đi vào hoạt động năm 2000.
Nguồn cổ phiếu chính được giao dịch trên thị trường không có sự quản
lý của cơ quan quản lý TTCK là ủy ban Chứng khoán Nhà nước và
Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM, là các doanh nghiệp nhà
nước trước đây đã được cổ phần hóa và các công ty cổ phần do các tổ
chức kinh doanh và đầu tư tư nhân thành lập.
Trong gần 6.700 công ty cổ phần, thì đến nay đã có 131 công ty đã
được niêm yết và đăng ký giao dịch tại Trung tâm Giao dịch Chứng
khoán Tp.HCM và Hà Nội tính đến ngày 22/12/2006. Số còn lại chưa
niêm yết và vẫn đang được giao dịch trên thị trường không chính thức.
Theo ước tính, khối lượng giao dịch cổ phiếu của thị trường không chính
thức lớn gấp khoảng 3 đến 6 lần so với lượng giao dịch tại trung tâm
giao dịch chứng khoán, và giá trị giao dịch cổ phiếu bình quân mỗi ngày
cũng lớn hơn 3 lần. Tuy nhiên, mức độ rủi ro trong thanh toán trên
TTCK không chính thức khá cao. Việc thanh toán các giao dịch không
chính thức không được bảo vệ bởi luật pháp hay tổ chức nào, và hoàn
toàn phụ thuộc vào uy tín cá nhân của nhà môi giới chứng khoán không
có giấy phép.
Ngoài ra, TTCK không chính thức cũng không bảo vệ cho nhà đầu
tư, không có cơ chế thị trường hiệu quả, công bằng và trật tự, cũng
không có được sự minh bạch như ở các trung tâm giao dịch chứng 16
khoán. Các quy định của TTCK không được áp dụng bên ngoài các
Nếu với lượng tiềm năng thị trường rất lớn cả về cung và cầu như
vậy, tại sao chúng ta chưa có số lượng trao đổi mua bán lớn. Cung và
cầu chưa gặp được nhau chính bởi sự ngăn cách của bức tường thông tin
Hiện nay, người mua có rất ít thông tin và điều kiện để thẩm định
giá trị của loại cổ phiếu mình mua:
Thứ nhất, rất khó tìm kiếm báo cáo tài chính của một doanh
nghiệp, cần phải nhìn nhận vấn đề công khai thông tin như một điều kiện
tiên quyết cho một thị trường chứng khoán lành mạnh.
Thứ hai, một số các công ty cung cấp thông tin một cách thiếu
trung thực và không đầy đủ như sự kiện của Bánh kẹo Biên Hoà hay Cơ
khí Bình Triệu (2005), làm giảm độ tin cậy của thông tin. Thị trường
chứng khoán không thể thiếu các qui định được tuân thủ nghiêm ngặt về
kế toán và kiểm toán.
Thứ ba,nếu các công ty chứng khoán đưa ra thông tin chính xác
thì khả năng phân tích toàn diện để xác định giá trị cổ phiếu là rất khó
khăn đối với nhà đầu tư. Việt Nam rất cần những tổ chức độc lập có đủ
trình độ và uy tín để đánh giá đúng "sức khoẻ" của các doanh nghiệp.
Những đánh giá chính xác và công bằng của họ sẽ giúp các nhà đầu tư
đủ tự tin để quyết định mua hàng. 18
2.2.2. Sự tham gia của những nhà đầu tư có tổ chức trên thị trường
ít
Về phía cầu, những nhà đầu tư cổ phiếu trên TTGDCK Việt Nam
hầu hết là cá nhân mang tính đầu cơ hơn là đầu tư, góp phần tạo tính bất
ổn định của thị trường. Điều này làm cho chính các doanh nghiệp ngần
ngại khi quyết định huy động vốn qua TTGDCK. Những nhà đầu tư tổ
chức Việt Nam cũng như nước ngoài chưa tham gia nhiều vào mua cổ
phiếu của các công ty niêm yết, một phần là do tính kém hấp dẫn của các
chứng khoán Việt Nam (qua Quyết định số 163/2003/QD-TTg ra ngày
5/8/2003 định ra các mục tiêu chiến lược như đưa tổng giá trị thị trường
chứng khoán đạt 2-3% GDP vào năm 2005 và 10-15% GDP vào năm
2010), nhưng các quy định pháp lý hiện hành cũng như những biện pháp
triển khai dường như lại không thống nhất với chiến lược này. Ví dụ như
theo văn bản Nhà nước gần đây nhất về cổ phần hóa (Chỉ thị số 01
Chính phủ tháng 1 năm 2003), Nhà nước vẫn sẽ nắm giữ ít nhất 51% cổ
phần đối với các DNNN cổ phần hóa có vốn trên 5 tỷ đồng và sản xuất
kinh doanh có lãi. Như vậy, trong số gần 2.000 DNNN nằm trong kế
hoạch cổ phần hóa đến năm 2005, sẽ có rất ít trường hợp mà cổ đông tư
nhân được chiếm phần đa số trong các công ty lớn.
2.2.5. Quy mô nhỏ và mức độ công khai thông tin thấp của các
doanh nghiệp Việt Nam
Các công ty tư nhân của Việt Nam mới phát triển trong vòng hơn
một thập kỷ qua, đặc biệt là từ năm 2000. Vì vậy, hầu hết các công ty tư 20
nhân đều ở một quy mô nhỏ hoặc rất nhỏ và thường được quản lý theo
kiểu gia đình. Hơn nữa, nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam thường
tìm cách duy trì chế độ nhiều sổ sách và không công khai thông tin. Ví
dụ, số doanh nghiệp báo cáo tài chính theo quy định của Luật Doanh
nghiệp chỉ chiếm khoảng 15-20%.3 Nguyên nhân của tình hình này
không chỉ do ý định chủ quan, thói quen của doanh nghiệp mà còn do sự
thiếu vắng khung pháp lý và các chuẩn mực về công khai thông tin, kiểm
toán, kế toán của Việt Nam. Các vấn đề này tiếp tục là trở ngại đối với
nhà đầu tư và không khuyến khích được hoạt động huy động vốn cổ
đông.
2.3. Giải pháp
2.3.1. Về phía Nhà nước
22
Kết luận
Sự gia nhập WTO của Việt Nam là một mốc quan trọng. Hội nhập
nhanh hơn vào nền kinh tế toàn cầu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc
phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay.
Chính vì lẽ đó, trong những năm sắp tới Chính phủ cần đưa ra
những biện pháp mạnh để làm cho thị trường chứng khoán lành mạnh
hơn, tạo sự tin tưởng của các nhà đầu tư trong nước cũng như nước
ngoài, sẽ giúp cho nền kinh tế tăng trưởng mạnh để sau 10 năm nữa Việt
Nam chính thức bước vào sân chơi quốc tế với sự cạnh tranh gay gắt.