GVHD: Đặng Thị Thu Huyền SVTH: Đỗ Văn Mạnh
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hoá nhu hiện nay bất kỳ quốc gia nào trên thế giới
cũng coi mục tiêu phát triển kinh tế là mục tiêu quan trọng cần đạt được.
Nhưng để đạt được mục tiêu quan trọng đó Chính phủ phải có những chính
sách, chiến lược phù hợp và hiệu quả để sử dụng tối đa những nguồn lực hiện
có của đất nước, đồng thời phải tiếp thu và phát triển những thành tựu trên thế
giới.
Trong nền kinh tế thị trường thì thị trường tài chính đóng vai trò hết sức
quan trọng. Sự lớn mạnh của thị trường tài chính có ảnh hưởng rất lớn đến
nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng và thế giới nói chung. Chủ thể quan
trọng của thị trường tài chính là Ngân hàng, Ngân hàng có mặt trong tất cả
các mối quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Vì thế muốn một nền
kinh tế ổn định và phát triển thì đòi hỏi bản thân hệ thống Ngân hàng cũng
phải ổn định và phát triển.
Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển chi nhánh bắc Hưng Yên là một bộ phận
của Ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam viết tắt là BIDV (Bank for
Investerment and Development of Việt Nam). Tuy mới được thành lập từ năm
2009 nhưng BIDV bắc Hưng Yên đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.
Cũng như đặc điểm chung của các NHTM, tín dụng là một trong ba nghiệp vụ
cơ bản trong BIDV bắc Hưng Yên: Nhận tiền gửi, tín dụng và trung gian
thanh toán. Đặc biệt tín dụng cũng là nguồn sinh ra nhiều lợi nhuận nhất cho
chi nhánh, nó chiếm khoảng 2/3 lợi tức nghiệp vụ ngân hàng có từ tiền lãi cho
vay và đây cũng là nghiệp vụ ngân hàng chú trọng phát triển. Hoạt động tín
dụng trong đó có tín dụng ngắn hạn của chi nhánh đã đạt được những kết quả
đáng kể song vẫn còn đó những hạn chế về quy mô và chất lượng.
Trường: ĐH Chu Văn An Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Lớp : 08 LTN
1
GVHD: Đặng Thị Thu Huyền SVTH: Đỗ Văn Mạnh
đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo em trong quá trình thực hiện chuyên đề này.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ, nhân viên trong Ngân hàng
BIDV chi nhánh bắc Hưng Yên đã hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho em
trong thời gian thực tập tại chi nhánh.
SINH VIÊN
Đỗ Văn Mạnh
Trường: ĐH Chu Văn An Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Lớp : 08 LTN
3
GVHD: Đặng Thị Thu Huyền SVTH: Đỗ Văn Mạnh
Chương I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI
NHTM
1.1 Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm
NHTM đã hình thành và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát
triển của nền kinh tế hàng hoá. Sự phát triển của hệ thống NHTM có tác động
rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của kinh tế hàng hoá, ngược lại
kinh tế hàng hoá phát triển kéo theo NHTM ngày càng hoàn thiện và trở
thành một địnhc chế tài chính không thể thiếu.
Có rất nhiều định nghĩa về NHTM. Ở Mỹ “ NHTM được định nghĩa là
công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chínhvà hoạt động
trong ngành công nghiệp tài chính ”. Đạo luật ngân hàng của Pháp cũng đã
định nghĩa “ NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nghề nghiệp thường xuyên
nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hoặc dưới các hình thức
khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong nghiệp vụ chiết khấu, tín
dụng, tài chính ”.
Ở Việt Nam định nghĩa NHTM như sau: “ NHTM là tổ chức kinh doanh
tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền ký gửi tù khác
hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện
1.1.2.3 Chức năng tạo tiền
Tạo tiền là một chức năng quan trọng phản ánh rõ bản chất của NHTM.
Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh
mang tính đặc thù của mình vô hình chung đã thực hiện chức năng tạo tiền
cho nền kinh tế.
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là
chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian
Trường: ĐH Chu Văn An Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Lớp : 08 LTN
5
GVHD: Đặng Thị Thu Huyền SVTH: Đỗ Văn Mạnh
tín dụng ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền đó lại
được khách hàng sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch vụ trong khi số
dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ
phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hoá, thanh toán dịch
vụ… Với chức năng này NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán
trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
1.1.2 Hoạt động chủ yếu của NHTM
1.1.2.1 Hoạt động huy động vốn
Ngân hàng thương mại kinh doanh tiền tệ chủ yếu dưới hình thức huy
động, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn - hoạt
động tạo nguồn vốn cho NHTM – đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới chất
lượng hoạt động của ngân hàng.
Nguồn vốn ngân hàng huy động được sử dụng để tiến hành cho vay phục
vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế của
địa phương và của cả nước. Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng ngày
càng mở rộng và phát triển sẽ càng tạo uy tín và tiền đề cho ngân hàng trong
mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế từ đó mang lại lợi
nhuận cho ngân hàng. Do đó, ngân hàng phải căn cứ vào các chiến lược phát
triển của địa phương cũng như của cả nước để đưa ra các chính sách huy động
Nghiệp vụ trong đó ngân hàng tiến hành mua các chứng khoán với mục
đích thu lợi từ việc sở hữu các chứng khoán này. Lợi tức bao gồm lãi của
chứng khoán do nhà phát hành đưa ra và lợi nhuận mà ngân hàng thu được
khi bán lại chứng khoán với giá cao hơn giá mua vào. Nghiệp vụ đầu tư
thường được chia thành hai nhóm: Đầu tư với mục đích thanh khoản và đầu
tư với mục đích lợi nhuận.
Trường: ĐH Chu Văn An Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Lớp : 08 LTN
7
GVHD: Đặng Thị Thu Huyền SVTH: Đỗ Văn Mạnh
Với mục đích thanh khoản, ngân hàng nắm giữ chứng khoán là nhằm tối
đa hoá khả năng sinh lời của tài sản trong khi vẫn đảm bảo khả năng thanh
khoản cao. Các chứng khoán ngắn hạn thường được ưu tiên sử dụng cho mục
đích này bởi vì chúng có thể được ưu tiên sử dụng cho mục đích này bởi vì
nhu cầu thanh khoản với chi phí thấp. Các chứng khoán này đợc xem như dự
trữ thứ cấp của ngân hàng.
Ngược lại, với nhóm đầu tư với mục đích lợi nhuận, các chứng khoán
trong nhóm chủ yếu là chứng khoán dài hạn của Chính Phủ với mức lãi cao
và ngân hàng thường nắm giữ chúng cho tới ngày mãn hạn. Đây được xem là
một nguồn thu nhập quan trọng của ngân hàng
Nghiệp vụ cho vay
Cho vay là một chức năng, một nhiệm vụ cơ bản nhất của hệ thống ngân
hàng thương mại. Về bản chất, với nghiệp vụ này ngân hàng chuyển giao
quyền sử dụng đối với một lượng vốn nhất định của mình cho một bên thứ hai
để đổi lấy thu nhập về lãi. Đối với ngân hàng, cho vay là nghiệp vụ mang lại
lợi nhuận chủ yếu, là nguồn thu nhập chính bù đắp các chi phí trong hoạt
động của ngân hàng. Với một ngân hàng trung bình, thu nhập từ cho vay
chiếm 70 – 80% tổng số thu nhập. Tuy nhiên do mối quan hệ logic giữa thu
nhập và rủi ro, cho vay cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn nhiều mối lo ngại nhất cho
các ngân hàng, trong đó rủi ro lớn nhất mà ngân hàng thường xuyên phải đối
vụ quản lý, giám sát, thu nợ, đồng thời nó cũng cho phép ngân hàng có thể
đẩy nhanh tốc độ quay vòng tín dụng.
Bán nợ
Là nghiệp vụ ngân hàng tiến hành bán quyền sở hữu về thu nhập hoặc bán
quyền sở hữu hoàn toàn đối với các khoản vay của mình. Nghiệp vụ này là
Trường: ĐH Chu Văn An Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Lớp : 08 LTN
9
GVHD: Đặng Thị Thu Huyền SVTH: Đỗ Văn Mạnh
một phương pháp phổ biến của các ngân hàng trong việc giải quyết các khoản
nợ khó đòi, cho phép ngân hàng có thể nhanh chóng thu hồi một phần trị giá
khoản cho vay khó đòi.
Bảo lãnh
Với nghiệp vụ này, ngân hàng đứng ra bảo lãnh về một khả năng nào đó -
khả năng thanh toán - của bên được bảo lãnh và cam kết tiến hành thực hiện
hoặc bồi thường nếu bên bảo lãnh không thực hiện được khả năng nêu ra.
Nghiệp vụ này tạo điều kiện cho ngân hàng có thể tận dụng một cách triệt để
khả năng đánh giá, phân tích tài chính của mình trong nỗ lực tối đa hoá lợi
nhuận thu về.
1.2 Tín dụng ngân hàng
1.2.1 Khái niệm tín dụng
Tín dụng xuất phát từ tiếng Latinh – Gredittum – có nghĩa là sự tin tưởng,
tín nhiệm. Tín dụng được diễn giải theo nghĩa Việt Nam là sự vay mượn.
Trong thực tế, hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú. Ta có thể định
nghĩa tín dụng nhu sau: “ Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó là sản phẩm
của nền kinh tế hàng hoá. Tín dụng phản ánh mối quan hệ giao dich giữa hai
chủ thể trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị cho bên kia sử dụng
trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kêt hoàn trả
theo thời hạn đã thoả thuận”.
Mối quan hệ giao dịch này thể hiện các nội dung sau:
trọng lớn nhất.
Trường: ĐH Chu Văn An Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Lớp : 08 LTN
11
GVHD: Đặng Thị Thu Huyền SVTH: Đỗ Văn Mạnh
Tín dụng trung hạn: Theo quy định hiện nay của ngân hàng nhà nước
Việt Nam, tín dụng trung hạn có thời hạn từ 1-3 năm, còn đối với các NHTM
trên thế giới tín dụng trung hạn có thời hạn đến 7 năm. Tín dụng trung hạn
được sử dụng chủ yếu để mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết
bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy
mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
Tín dụng dài hạn: Theo quy định của Việt Nam thì đây là loại tín dụng
có thời hạn trên 3 năm, còn trên thế giới loại tín dụng này có thời hạn trên 7
năm. Tín dụng dài hạn được cung cấp để đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây
dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí
nghiệp mới. Nghiệp vụ truyền thống của NHTM là cho vay ngắn hạn, ngày
nay các ngân hàng đang nâng cao tỷ trọng cho vay trung-dài hạn.
1.2.2.3 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng
Theo căn cứ này tín dụng được chia làm hai loại:
Cho vay không đảm bảo là loại cho vay không cần tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín
của khách hàng. Đối với khách hàng có uy tín trong kinh doanh, có khả năng
tài chính mạnh,quản lý tài chính hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng
dựa vào uy tín của khách hàng mà không cần một nguồn thu nợ thứ hai bổ
sung.
Cho vay bảo đảm là loại cho vay được ngân hàng cung ứng phải có tài
sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba. Đối với khách
hàng không có uy tín cao với ngân hàng, khi vay vốn phải có sự bảo đảm. Sự
bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có một nguồn thu thứ hai bổ
Trường: ĐH Chu Văn An Chuyên Đề Tốt Nghiệp
GVHD: Đặng Thị Thu Huyền SVTH: Đỗ Văn Mạnh
dụng chữ ký. Tín dụng chữ ký bao gồm: Tín dụng chứng từ, bảo lãnh ngân
hàng…
1.3 Tín dụng ngắn hạn
1.3.1 Khái niệm
Tín dụng ngắn hạn là những khoản cho vay có thời hạn dưới một năm.
NHTM là nhà cung ứng phần lớn các khoản vay ngắn hạn cho các doanh
nghiệp. Các khoản vay này ít rủi ro về thanh toán cũng như lãi suất so với
khoản vay trung-dài hạn. Những khoản cho vay ngắn hạn thường được sử
dụng rộng rãi trong việc tài trợ mang tính thời vụ về vốn luân chuyển và tài
trợ tạm thời cho các khoản chi phí sản xuất.
1.3.2 Phân loại tín dụng ngắn hạn
Nếu xét theo cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp thì đây là loại tín dụng
tài trợ vốn lưu động. Nếu như vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp
không đủ trang trải loại vốn này thì doanh nghiệp đó phải xin vay tín dụng
ngân hàng. Nhu cầu vốn lưu động cao hay thấp phụ thuộc vào tình hình sản
xuất và khả năng quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp. Đây là các khoản
vay thường xuyên của doanh nghiệp.
Dưới góc độ kỹ thuật tín dụng, NHTM thực hiện cho vay ngắn hạn theo
các loại hình phổ biến sau:
1.3.2.1 Tín dụng ứng trước
Tín dụng ứng trước bao gồm các loại sau:
Tín dụng thế chấp
Loại tín dụng này được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng trong đó
khách hàng được sử dụng một mức cho vay trong một thời hạn nhất định.
Trường: ĐH Chu Văn An Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Lớp : 08 LTN
14
GVHD: Đặng Thị Thu Huyền SVTH: Đỗ Văn Mạnh
Ngân hàng cho khách hàng vay bằng cách mở cho họ một tài khoản ngân
thương phiếu là hối phiếu và lệnh phiếu được lập trên cơ sở hàng hoá đã được
chuyển giao cho người mua, đây là tiền đề để người mua thực hiện việc kinh
doanh của mình để có khả năng hoàn trả cho ngân hàng.
Mặc dù chiết khấu thương phiếu mang lại nhiều lợi ích cho cả ngân hàng
lẫn khách hàng tuy nhiên vẫn có rủi ro xảy ra. Vì vậy trước khi thực hiện
chiết khấu thương phiếu, ngân hàng phải kiểm tra kỹ khách hàng đến chiết
khấu, xem xét kỹ hối phiếu và những người có liên quan.
1.3.2.3 Tín dụng bằng chữ ký của ngân hàng
Loại tín dụng này thực chất là một cam kết lãnh nợ của ngân hàng do
ngân hàng đưa ra bằng việc phát hành các chứng thư bảo lãnh cam kết trả
thay cho người đi vay nếu người đi vay không trả được nợ. Thông thường để
thực hiện nghiệp vụ này ngân hàng phải lập một quỹ bảo lãnh theo tỷ lệ phần
trăm với vốn pháp định.
1.4 Vai trò của tín dụng ngắn hạn
Tín dụng góp phần ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế của đất nước.
Cũng như các loại tín dụng khác, tín dụng ngắn hạn cũng có vai trò rất quan
trọng, đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam là một quốc gia đang phát triển.
Vai trò của tín dụng ngắn hạn được thể hiện:
1.4.1 Đối với nền kinh tế
Ngân hàng trong nền kinh tế với tư cách là một doanh nghiệp kinh doanh
trên lĩnh vực tiền tệ. Với tu cách là một trung gian tài chính, ngân hàng là nơi
chuyển vốn tư nơi thừa đến nơi thiếu. Các kênh chuyển vốn qua thị trường tài
Trường: ĐH Chu Văn An Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Lớp : 08 LTN
16
GVHD: Đặng Thị Thu Huyền SVTH: Đỗ Văn Mạnh
chính là các nghiệp vụ tín dụng trung-dài hạn nhưng đã vấp phải sự cạnh
tranh mạnh mẽ của các tổ chức tài chính phi ngân hàng như các công ty bảo
hiểm, các quỹ đầu tư, công ty tài chính. Thị trường tiền tệ là kênh dẫn và huy
động những nguồn vốn và các giấy tờ có giá ngắn hạn. Thị trường này hoạt
để có thể linh hoạt trong việc vay vốn, đáp ứng các cơ hội kinh doanh. Do
tính chất của tín dụng ứng trước là doanh nghiệp phải trả lãi trên cả phần dư
nợ vay chưa sử dụng đến, do đó bắt buộc các doanh nghiệp phải quay vốn
nhanh và tính toán hoạt động kinh doanh có hiệu quả, mang lại lợi nhuận cho
cả doanh nghiệp và ngân hàng.
Tóm lại, tín dụng ngắn hạn không chỉ giúp các doanh nghiệp có được
nguồn bổ sung vốn lưu động mà còn là động lực giúp các doanh nghiệp làm
ăn có hiệu quả, trước là để trả nợ các khoản vay, sau là phát triển doanh
nghiệp.
1.4.3 Đối với ngân hàng
Hoạt động tín dụng nói chung và tín dụng ngắn hạn nói riêng đã đảm bảo
nguồn thu chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đó là công cụ để
tạo ra lợi nhuận và phòng ngừa rủi ro của ngân hàng. Trong quá trình hoạt
động, các nhà quản trị ngân hàng cần phải quan tâm đến các vấn đề: Phải tạo
được nguồn thu bù đắp các chi phí (chi phí huy động vốn, tiền lương, chi phí
quản lý…), mặt khác phải đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng. Tín
dụng ngắn hạn có thể giúp các nhà quản trị giải quyết vấn đề này.
1.5 Chất lượng tín dụng ngắn hạn
1.5.1 Khái niệm chất lượng tín dụng ngắn hạn
Trường: ĐH Chu Văn An Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Lớp : 08 LTN
18
GVHD: Đặng Thị Thu Huyền SVTH: Đỗ Văn Mạnh
Trong hoạt động ngân hàng thương mại, tín dụng là một nghiệp vụ mang
lại phần lớn doanh lợi nhưng cũng là nơi ẩn chứa nhiều rủi ro có khả năng xảy
ra với tỷ lệ cao. Trên thực tế nhiều nhân viên ngân hàng quan niệm cho vay
có tài sản cầm cố thế chấp, nhưng không quá tỉ lệ qui định là an toàn nhất.
Thực ra quan niệm này hết sức sai lầm, bởi vì kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh và khả năng tài chính của khách hàng là vấn đề quan trọng nhất để đảm
bảo khả năng trả nợ của khách và khả năng thu hồi vốn gốc và lãi của ngân
không những làm cho ngân hàng tăng thu nhập mà còn giúp ngân hàng hạn
chế rủi ro. Để đánh giá chất lượng tín dụng, người ta sử dụng hai chỉ tiêu: Chỉ
tiêu định lượng và chỉ tiêu định tính.
1.5.2.1 Nhóm chỉ tiêu định lượng
Chỉ tiêu nợ quá hạn: Nợ quá hạn là những khoản vay đến hạn mà khách
hàng không trả được số tiền trong hợp đồng tín dụng cộng thêm số tiền lãi của
khoản vay đó mà không được ngân hàng gia hạn. Số tiền này được ngân hàng
chuyển thành nợ quá hạn và áp dụng lãi suất quá hạn đối với những khoản
vay này (cao hơn lãi suất thông thường). Đây là những khoản vay có độ rủi ro
cao. Để đánh giá chất lượng tín dụng trên cơ sở nợ quá hạn, người ta thường
thông qua tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ đầu tư rủi ro:
- Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100%
-Tỷ lệ đầu tư rủi ro =
Đây là hai chỉ tiêu chủ yếu đánh giá chất lượng tín dụng của một ngân
hàng. Chỉ tiêu tỉ lệ nợ quá hạn ngắn hạn phản ánh chất lượng của khoản vay
ngắn hạn, còn chỉ tiêu tỉ lệ đầu tư rủi ro thì phản ánh chất lượng của tất cả các
Trường: ĐH Chu Văn An Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Lớp : 08 LTN
20
GVHD: Đặng Thị Thu Huyền SVTH: Đỗ Văn Mạnh
khoản đầu tư của ngân hàng. Các tỉ lệ này càng nhỏ thì phản ánh chất lượng
hoạt động của ngân hàng đó là hiệu quả, không có rủi ro mất vốn. Còn nếu
các tỉ lệ này càng lớn thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong kinh doanh, có thể
từ việc mất khả năng thanh toán hoặc tệ hơn nữa là phá sản.
Hai chỉ tiêu trên đều chịu ảnh hưởng của chính sách xóa nợ của ngân
hàng, một ngân hàng có chính sách tốt là phải thiết lập được quĩ dự phòng rủi
ro đủ mạnh và thông báo định kì về các món vay không có khả năng thu hồi,
để tránh tình trạng trong một lúc phải thông báo con số nợ không có khả năng
thu hồi là quá lớn và làm giảm tài sản của ngân hàng một cách nghiêm trọng.
việc thu nợ và giải quyết nợ quá hạn tốt. Tỷ lệ này cao thì một phần nói lên
kết quả kinh doanh tốt của ngân hàng, điều này rất quan trọng vì doanh thu từ
hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu của ngân hàng.
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cho vay ngắn hạn
- Vòng quay vốn tín dụng =
Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ vòng quay của tín dụng ngân hàng càng
nhanh, điều này cũng chứng tỏ việc thu hồi nợ nhanh và đúng hạn do đó tỷ lệ
này cao cũng chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng rất tốt. Mặt khác
vòng quay vốn tín dụng cao chứng tỏ tốc độ luân chuyển tiền tệ trong nền
kinh tế nhanh, ngân hàng đã tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông
hàng hoá. Với một lượng vốn nhất định nhưng do tốc độ chu chuyển vốn
nhanh nên ngân hàng có thể đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng của doanh nghiệp
trong phát triển kinh doanh.
- Chi phí cho một đồng vốn cho vay ngắn hạn =
Trường: ĐH Chu Văn An Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Lớp : 08 LTN
22
GVHD: Đặng Thị Thu Huyền SVTH: Đỗ Văn Mạnh
Tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt. Tỷ lệ này phản ánh hiệu quả của việc giải
ngân vốn. Chi phí cho vay ngắn hạn phụ thuộc vào nhiều yếu tố bao gồm chi
phí đầu vào như chi phí trả lãi huy động vốn, chi phí bảo hiểm… chi đầu ra
bao gồm chi phí tiền lương, chi phí quản lý… Tuy nhiên trong một số trường
hợp chỉ tiêu này không phản ánh đúng thực tế: Nếu chi phí cho vay tăng trong
khi đó danh mục đầu tư không tăng thì tỷ lệ này sẽ lớn, ngược lại nếu có
nhiều hợp đồng vay ngắn hạn được thực hiện trong một thời kỳ thì chi phí cho
một đồng vốn sẽ giảm.
- Hiệu suất sử dụng nguồn vốn ngắn hạn =
Chỉ tiêu này rất quan trọng vì nó đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của ngân
hàng.
Chỉ tiêu dư nợ, doanh số cho vay.
mục bên nguồn vốn và tài sản nhạy cảm với lãi suất thì có thể các khoản tín
dụng đó có thể không mang lại hiệu quả như mong đợi. Cũng có thể có những
biến động về tỷ giá hoặc biến động về thị trường làm cho chủ đầu tư bị bất
ngờ, dẫn đến tình trạng dòng tiền vào không như kế hoạch làm giảm khả năng
trả nợ cho ngân hàng. Như vậy chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng
chịu ảnh hưởng của môi trường kinh tế mà nó hoạt động, vấn đề đối với các
ngân hàng là phải làm tốt công tác dự báo và khả năng thích ứng nhanh khi có
sự biến động nhằm đảm bảo chất lượng của hoạt động tín dụng.
Môi trường pháp lý:
Một ngân hàng thương mại khi hoạt động phải tuân thủ đầy đủ các quy
định về luật pháp của Nhà nước, cũng như của ngân hàng Nhà nước như vậy
Trường: ĐH Chu Văn An Chuyên Đề Tốt Nghiệp
Lớp : 08 LTN
24
GVHD: Đặng Thị Thu Huyền SVTH: Đỗ Văn Mạnh
môi trường pháp lý có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động tín dụng
của ngân hàng. Một hệ thống pháp lý đầy đủ, đồng bộ và ổn định sẽ giúp các
ngân hàng dễ dàng hơn trong việc xây dựng kế hoạch kinh doanh của mình,
góp phần vào việc nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng.
Môi trường chính trị - xã hội:
Môi trường chính trị xã hội ổn định sẽ là một nhân tố quan trọng thúc đẩy
hoạt động đầu tư và mạnh dạn mở rộng hoạt động tín dụng. Điều này giúp cho
ngân hàng có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn. Tác động của môi trường
chính trị - xã hội tới chất lượng hoạt động tín dụng là không thường xuyên,
nhưng khi có những biến động về chính trị, tác động của nó tới các ngân hàng
là vô cùng lớn. Một sự thay đổi hệ thống chính trị bạo động có thể làm cho
các ngân hàng mất toàn bộ các khoản tín dụng của mình, điều này sẽ đẩy nó
đến bờ vực phá sản.
1.6.2 Nhân tố chủ quan
Chính sách tín dụng: