KỸ THUẬT GÂY TRỒNG CÂY DÓ TRẦM
(Aquilaria crassna Pierre)
Tên khác: Trầm hương, Dó bầu, Trầm dó, Trà hương
1. Đặc điểm sinh học
Là cây gỗ lớn, thân thẳng, cao trung bình từ 18-25m, đường kính trung
bình từ 40-45m (có cây cao tới 30-40m, đường kính đạt 70-80cm). Vỏ ngoài có
mầu nâu bạc hay xám trắng, có nhiều sợi bền có thể bóc thành mảng lớn dọc
theo thân cây. Rễ bàng phát triển mạnh ra bốn hướng, rễ cọc ăn sâu.
Lá đơn, mọc cách, hình trứng hoặc trứng ngược, dài 8-12cm, rộng 3-6cm,
cuống lá dài 4-5cm, mặt trên xanh bóng, mặt dưới xanh nhạt, có lông. Hoa mọc
thành cụm ở kẽ lá, màu trắng, nhị 10, bầu thượng hai ô, mỗi ô có một noãn, gốc
đài có tuyến mật.
Quả nang khô nẻ, hình lê, có lông, rộng 3-3.5cm, dài 4-5cm, vỏ quả có
lông mềm ngắn, khi chín có màu vàng xám có mang đài, nứt thành 2 mảnh. Quả
chín vào tháng 6-7.
Hạt hình trứng ngược, dài 1.2-1.5cm, rộng 0.5-0.7cm, phía trên vỏ hạt
phát triển thành cuống dài.
Gỗ có trầm (kỳ nam) là phần gỗ của Dó trầm có những điểm nhựa có
hương thơm, cho vào nước thì chìm xuống nên có tên gọi là trầm hương. Trầm
hương có hình dáng và kích thước không nhất định, thường có vết nhăn gồ ghề
trông giống cánh chim ưng nên còn có tên gọi gỗ chim ưng. Cũng có khi là
những cục hình trụ dài khoảng 10cm, rộng 2-4cm, hai đầu có vết như dao cắt.
Đôi khi lại giống miếng gỗ mục, mặt ngoài màu vàng nâu hoặc có những vết dọc
sẫm màu, cứng và nặng, cắt ngang có thể thấy những đám nhựa màu đen hoặc
nâu đen, có mùi thơn dễ chịu, khi đốt có mùi rất thơm.
(Theo các tác giả trong Kỹ thuật trồng và khai thác đặc sản rừng, NXBLĐ-2006)
2. Công dụng
Trầm hương là loài cây đặc sản quí, là loài cây gỗ lớn nửa rụng lá, hàng năm
thay lá nhiều vào tháng 3, tháng tư mọc tự nhiên ở rừng Việt Nam. Trên nhiều
cây trầm hương có dạng nhựa tích tụ gọi là trầm kỳ. Kỳ Nam có giá trị trong y
dược và là mặt hàng có giá trị xuất khẩu cao.
về đường tiết niệu (bí tiểu tiện)…
• Các lĩnh vực khác Sản phẩm biếu tặng trong lĩnh vực ngoại giao.
• Tôn giáo: đốt trong các chùa chiền, đền thờ…vào các dịp lễ đặc biệt, làm nhang
để đốt vào lúc cúng kiến.
• Chế tác đồ thủ công mỹ nghệ: Tượng, vật cảnh, đồ trang trí…
• Làm giấy quý (vẽ tranh, viết kinh thánh…)
• Ướp xác…
3. Phân bố
Trầm hương phân bố khá rộng từ Bắc vào Nam. Vùng phân bố tập trung
bao gồm các tỉnh như: Gia Lai, Kon Tum, Kiên Giang, Quảng Nam , Đà Nẵng,
Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hoà Bình. Trầm hương thường phân bố ở đai
cao từ 250m - 1000m so với mực nước biển. Độ dốc có thể trên 35
0
.
4. Đặc điểm sinh thái
Trầm hương có khả năng sinh trưưỏng phát triển tốt ở những khu vực có điều
kiện khí hậu như sau:
- Nhiệt độ bình quân năm 20-25
o
C
- Lượng mưa hàng năm trên 1500 mm
- Độ ẩm không khí trên 80%.
Có thể trồng trầm trên nhiều loại đất khác nhau (trừ đất đá vôi, đất cát, đất
ngập úng). Độ dày tầng đất trên 50 cm, đất ẩm, thoát nước, đất nhiều mùn
(>3%), độ pH
KCL
từ 4-6.
Các dạng trạng thái thực bì thích hợp với trồng Dó trầm là: Rừng thứ sinh
nghèo kiệt, rừng sau nương rẫy.
5. Kỹ thuật gây trồng
2
.
- Đối với luống đặt bầu đất phải làm sạch cỏ dại, mặt luống cần phải phẳng, kích
thước luống tương tự luống gieo. Luống làm theo hướng Đông - Tây.
- Đất đóng bầu: là đất thịt nhẹ đến trung bình, đất còn tính chất đất rừng, ít sỏi
đá, nhiều mùn. Đất cần chuẩn bị trước từ 30-40 ngày. Đất phải đập nhỏ, sàng kỹ.
- Tạo bầu: Vỏ bầu sử dụng bầu polyetylen kích thước 10x16 cm, không thủng
đáy, đục lỗ hai bên thành bầu. Hỗn hợp bầu gồm 85% đất + 14% phân chuồng
hoai + 1% lân. Hỗn hợp ruột bầu phải trộn đều, vừa đủ ẩm. Đổ hỗn hợp trên vào
bầu cho đầy và chặt. Yêu cầu ruột bầu không quá chặt, bầu tròn đều vỏ không
nhăn. bầu sau khi đóng được xếp vào luống. Bầu xếp sát nhau trên mặt luống đã
san phẳng, đặt bầu theo hình nanh sấu, luống xếp bầu cần thẳng. Xung quanh
luống đặt bầu lấp đầy đất thành gờ cao bằng 2/3 - 3/4 chiều cao bầu. Việc làm
đất, đóng bầu phải hoàn thành trước khi cấy cây từ 7-10 ngày.
- Trước khi gieo hạt hay đặt bầu cần phun dung dịch Benlát để chống nấm bệnh
với nồng độ 1 gam thuốc Benlát trong 1 lít nước, lượng phun 0,5-0,6 lít/m
2
.
• Xử lý hạt giống: Ngâm hạt trong dung dịch thuốc tím, nồng độ 0,1% trong 3-4
giờ, sau đó rửa sạch nhặt hạt lép, hạt thối rồi đem gieo.
• Gieo hạt: Hạt gieo vãi đều khắp trên mặt luống, lượng hạt gieo 0,2 - 0,25 kg/m
2
.
Dùng đất bột hay cát mịn sàng đều lên mặt luống để phủ kín hạt với độ dày 2,5-
3 cm.
• Chăm sóc cây mầm
- Thường xuyên tưới đủ ẩm đến khi cây mầm đủ tiêu chuẩn đem đi cấy.
- Luống gieo hạt phải có giàn che, chế độ che sáng 50-60%. Có thể dùng tế guột
cắm trên luống gieo thay cho giàn che.
- Định kỳ 4-5 ngày phun dung dịch Benlát 1ần, nồng độ 0,5 gam pha trong 1 lít
ngày nhổ cỏ phá váng 1 lần.
- Bón phân: Sử dụng hỗn hợp phân N.P, có tỷ lệ 1 đạm 2 lân tính theo trọng
lượng. Hoà tan hỗn hợp N.P với nước, nồng độ 0,5% (1kg/200l nước) rồi tưới
cho cây, việc bón phân được tiến hành sau khi làm cỏ, phá váng. Tưới dung dịch
phân vào lúc trời râm mát, không mưa. Sau khi bón phân phải tưới nước để rửa
sạch lá, lượng nước tưới 1,5-2 lít/m
2
.
- Đảo bầu và phân loại cây: Bầu cây con ở giai đoạn vườn ươm phải được đảo ít
nhất 2 lần. Chọn thời tiết râm mát, có mưa nhỏ để đảo bầu. Lần đầu khi cây
được 5-6 tháng tuổi, chiều cao cây từ 18-22cm. Lần cuối trước khi đem trồng
25-30 ngày. Khi đảo bầu kết hợp phân loại cây, những cây có cùng kích thước
xếp vào cùng khu vực. Sau khi đảo bầu xong phải lấp gờ luống và tưới nước đủ
ẩm cho cây trong 7-10 ngày đầu, mỗi ngày tưới 2 lần vào buổi sáng trước 9 giờ
và chiều sau 4 giờ.
- Phòng trừ sâu bệnh hại: Thường xuyên theo dõi tình hình sâu bệnh hại, đặc
biệt là bệnh thối cổ rễ xuất hiện vào mùa mưa. Để phòng trừ các bệnh này cần
sử dụng dung dịch Ben lát, có nồng độ 0,5-1gam thuốc hoà tan trong 1 lít nước,
lượng phun 0,8 - 1 lít/m
2
. Định kỳ 15 ngày phun 1 lần. Nếu có sâu keo, sâu xanh
ăn lá phải trực tiếp bắt hoặc dùng thuốc Trebon, nồng độ 2ml thuốc hoà trong 1
lít nước, lượng phun 0,8-1 lít /m
2
.
5.3 Trồng rừng
• Tiêu chuẩn cây con trồng
Cây con đem trồng cần đạt trên 12 tháng tuổi và đảm bảo các tiêu chuẩn
sau đây:
- Cao trên 40 cm, đường kính cổ rễ trên 0,35 cm.
rễ cây có trong lòng hố. Đào hố phải hoàn thành trước khi trồng 25-30 ngày.
- Lấp hố, bón phân: Dùng đất mặt trộn đều với phân để lấp hố, lượng phân bón
lót từ 0,25-0,3kg NPK cho 1 cây. Thành phần 2 đạm, 1 lân, 1 kali. Hố lấp xong
phải cao hơn mặt đất tự nhiên 2-3 cm. Việc lấp hố bón phân phải hoàn thành
trước khi trồng 7-10 ngày.
• Mật độ trồng
- Nếu trồng trên các loại đất rừng nghèo kiệt, mật độ trồng từ 400-500 cây/ha.
Cây cách cây 2m, hàng cách hàng từ 10-12,5 m.
- Nếu trồng trên các loại đất rừng sau nương rẫy, mật độ trồng 1.660 cây/ha, cây
cách cây 2m, hàng cách hàng 3 m.
• Thời vụ trồng
Thời vụ trồng thích hợp là vào giữa mùa mưa. Chọn những ngày có mưa nhỏ
liên tục, thời tiết râm mát, đất rừng còn ẩm thì đem cây đi trồng.
• Kỹ thuật trồng
Trước khi trồng dung dao, kéo rạch bỏ vỏ bầu. Dùng cuốc, bay khơi rộng
lòng hố vừa đủ đặt bầu, chiều sâu cao hơn chiều cao bầu từ 1-2 cm. Đặt cây
ngay ngắn, thân thẳng, sau đó lấp đất lèn chặt xung quanh bầu. Vun đất quanh
gốc cây cao hơn mặt đất tự nhiên 4-5 cm.
5.4 Chăm sóc, bảo vệ rừng, khai thác
• Chăm sóc rừng mới trồng: Rừng mới trồng cần chăm sóc theo chế độ sau
đây:
- Năm thứ 1: Chăm sóc 1-2 lần
- Năm thứ 2 đến năm thứ 3, Chăm sóc mỗi năm 3 lần
- Năm thứ 4 đến khi rừng khép tán: Chăm sóc mỗi năm 1 lần.
Nội dung chăm sóc:
- Trồng dặm lại những cây Dó trầm bị chết vào lần chăm sóc đầu tiên của năm
thứ nhất. Chọn cây sinh trưởng tốt, kích thước tương đương với cây đã trồng để
giặm.
- Luỗng phát dây leo, cây bụi, cỏ dại ở rừng trồng.
- Xới đất quanh gốc cây thành vòng tròn, đường kính 0,8-1m cho những lần
khô (rẫy khi đào hố), cành lá ở xung quanh tủ vào gốc để giữ ẩm cho cây
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quy phạm kỹ thuật trồng cây Dó trầm, Văn bản tiêu chuẩn kỹ thuật lâm
sinh, tập II, NXBNN-2001.
2. Kỹ thuật trồng và khai thác đặc sản rừng, Chu Thị Thơm, Phan Thị Lài,
Nguyễn Văn Tó, NXBLĐ-2006.
3. Trầm hương, Trần Ngọc Hải, Lê Thanh Chiến, Dự án hỗ trợ chuyên
ngành lâm sản ngoài gỗ Việt nam, NXBLĐ-2007.