Nghiên cứu khoa học " KỸ THUẬT GÂY TRỒNG CÂY MĂC CA " - Pdf 14

KỸ THUẬT GÂY TRỒNG CÂY MĂC CA
I. Giới thiệu chung
Chi Macadamia gồm nhiều loài, nhưng nổi bật là Macadamia tetraphylla, và M.
integrifolia, thuộc Họ Proteaceae, hạt chứa dầu cho thương phẩm gần giống hạt
Điều. Đây là cây lấy quả nổi tiếng và đang trở thành cây trồng được quốc tế hoá
như cà phê, ca cao, cao su
Mắc ca nguyên sản ở bang Queensland nước úc , người châu Âu đầu tiên di cư đến
úc gọi cây này là Giẻ Queensland, về sau được nhập về trồng ở Ha-oai tạo ra hàng
xuất khẩu quy mô lớn, trên thương trường sản phẩm này đã được mang tên mới là
quả khô Ha-oai.
Để nông dân dễ tiếp thu, chúng tôi đề nghị đặt tên cho loài cây này là cây Mắc-ca,
cách gọi này bám sát tên khoa học, do đó ít gây khó khăn cho giao dịch quốc tế,
lại gần với cách gọi tên cây ở miền núi phía bắc nước ta.
Ha-oai trồng bằng cây ghép với các dòng đã tuyển chọn, cây cho quả ở tuổi 3, bắt
đầu sai quả ở tuổi 10, đến tuổi 12 sản lượng quả lại tăng gấp đôi so với tuổi 10.
Thời kỳ sai quả của cây có thể kéo dài tới tuổi 60 và tuổi thọ cây có thể đến 100
năm. Nếu trồng bằng hạt thì tuổi 5 hoặc 6 mới cho quả và năng suất sẽ thấp hơn.
Trồng thử bằng cây hạt ở Ba Vì (Hà Tây) đã cho quả sớm hơn một chút, khoảng 4
đến 5 tuổi. Quả hình trái đào, hoặc tròn như hòn bi, khi chín vỏ quả chuyển từ
xanh sang nâu, vỏ khô tự nứt, bên trong chứa một hạt, hiếm khi có 2-3 hạt. Nếu
quả chỉ chứa 1 hạt thì hạt tròn như hạt nhãn. Vỏ quả cứng và láng bóng như hạt sở,
đường kính hạt khoảng 2-3 cm, trọng lượng tươi khoảng 8-9 gram.
Thành phần hữu ích là nhân hạt mầu sữa trắng ngả vàng, chiếm gần 1/3 trọng
lượng hạt. Theo kết quả phân tích của Wenkham và Miller năm 1965, thành phần
dinh dưỡng trong nhân hạt Mắc-ca như sau:
Chất béo 78,2%
Các hợp chất đường 10%
Các hợp chất đạm(protein) 9,2%
Hàm lượng nước 1,5-2,5 % (nhân đã được làm khô theo yêu cầu bảo quản
lâu dài)
Kali 0,37%

cung mới đuổi kịp cầu, giá cả Mắc-ca trên thị trường thế giới vẫn không ngừng
tăng và là hàng nông sản đắt giá nhất trên thị trường thế giới hiện nay.
Năm 1960, giá thu mua hạt Măc-ca ở Ha-oai là 0,395 USD/kg
Năm 1980 - 1,540 USD/kg
Năm 1986 - 1,860 USD/kg
Tại Australia giá thu mua hạt Mắc-ca năm 1985 là 1,9 AUD/kg, năm 1996 là 3,0
AUD/kg (tỷ giá thời kỳ đó là 1 AUD= 0,6-0,7 USD)
Trọng lượng nhân bằng 1/3 trọng lượng hạt, phải nhân 3 để có trị số quy đổi thành
giá mỗi kg nhân. Đến năm 2000 giá mua bán nhân Mắc-ca trên thị trường thế giới
đã lên tới 12 – 15 USD/Kg. Giá bán lẻ trên thị trường nội địa Trung Quốc năm
2000 là 200 – 220 tệ/kg tương đương 24 – 27 USD/kg
Theo thống kê năm 1997, tổng diện tích cây Mắc-ca trên toàn thế giới đạt 46.000
Ha, sản lượng nhân đạt 61.000 tấn, phân bố chủ yếu tại 7 nước sau đây:
Australia 9.020 Ha sản lượng 26.000 tấn
Mỹ 8.215 Ha sản lượng 24.500 tấn
Bra-xin 6.300 Ha 1.000 tấn
Kê-nia 6.050 Ha 4.400 tấn
Côt sta-rica 6.000 Ha 3.100 tấn
Nam Phi 4.500 Ha 3.920 tấn
Gua tê mala 3.200 Ha 2.300 tấn
Đứng đầu diện tích và sản lượng vẫn là úc và Mỹ, 5 nước sau sản lượng chưa cao
do mới trồng hoặc khí hậu không thích hợp. Một số nước khác cũng đã bắt đầu
trồng thử như Mê-xi cô, Vênêduyê-la, Dimbabuê , Tanzania , Eti-ô-pia , Mali ,
Niu-zêlan.
Tại Trung Quốc, cây Mắc ca đã có mặt ở vườn thực vật Đài loan từ đầu thế kỷ 20,
nhưng việc trồng đại trà mới thực hiện trong khoảng 20 năm gần đây. Trung Quốc
đã nhập hàng chục dòng vô tính cao sản về khảo nghiệm và nhân bằng phương
pháp ghép truyền thống, đến nay đã trồng được hơn 2000 Ha, chủ yếu tại phía nam
giáp với Việt nam, Lào và Miến điện và có triển vọng đạt sản lượng 1.500 đến
2.500 tấn trong vài năm tới.

diện tích và sản lượng Mắc-ca hiện nay mới đủ làm bão hoà thị trường.
Tuy chậm chân mất vài chục năm nhưng về cơ bản vẫn có thể coi như Việt Nam
bước vào cuộc đua từ điểm xuất phát, sẽ không phải là kẻ đến sau gây đảo lộn thị
trường như trường hợp cây cà phê, mà sẽ là tham gia từ đầu quá trình hình thành
cung cầu. Như sẽ phân tích ở phần sau, biên độ sinh thái cây Măc-ca khá rộng, có
thể trồng làm cây mẫu ở vườn thực vật nhiều nơi trên thế giới, nhưng yêu cầu chế
độ khí hậu cho phân hoá chồi hoa, ngậm nụ thụ phấn và giai đoạn tích luỹ dầu
trong hạt để đạt năng suất cao lại tương đối đặc biệt, hay nói cách khác là để cây
sống thì có thể trồng ở nhiều nơi, nhưng để cây có quả hạt thì lại rất ít nơi trồng
được. Việt Nam có nhiều tiểu vùng khí hậu với diện tích lớn đáp ứng được yêu
cầu này mà các nước khác trong cuộc đua không có.
Nếu quyết tâm khai thác được thành tựu chọn giống và kinh nghiệm kỹ thuật của
úc, Mỹ, Trung Quốc và các nước khác thì ưu thế về tài nguyên khí hậu và con
người sẽ cho phép Việt Nam tạo được bước đột phá thứ hai sau cây cà phê và Việt
Nam có thể trở thành quốc gia hàng đầu về năng suất và có thể cả về diện tích
Mắc-ca trên thế giới trong tương lai khoảng mấy chục năm tới
Nếu sớm thực hiện được điều này chúng ta sẽ làm nản lòng các đối thủ cạnh tranh
và thời gian chờ đợi nước khác giảm diện tích sản lượng như trường hợp cà phê sẽ
không xẩy ra.
2- Nhu cầu về nhân Măc-ca trên thị trường thế giới sẽ lớn hơn cà phê rất nhiều.
Cách dùng cà phê khá nghèo nàn, chủ yếu là làm đồ uống, một phần nhỏ pha vào
rượu và kẹo bánh; nhưng ngay cả với người nghiện cà phê thì nhu cầu hàng ngày
cũng không thể quá nhiều. Trong khi đó thì đối tượng sử dụng Mắc ca lại rất rộng
lớn bao gồm mọi tuổi tác, giới tính, sắc tộc, truyền thống ẩm thực, sức khỏe….
Với nhân Mắc-ca, tình hình hoàn toàn không giống Cà phê, thậm chí cũng không
giống với Ca cao. Các đặc điểm ròn, bùi, thơm, ngậy hấp dẫn mọi lứa tuổi. Cách
ăn và chế biến rất phong phú từ ăn sống hoặc trộn trong sà lát, sào, nấu, làm nhân
bánh, kem, mứt… cho phép Mắc-ca vượt qua mọi ranh giới sắc tộc,tôn giáo,
truyền thống ẩm thực để đến với mọi người trên thế giới. Vì là đồ ăn nên lượng
tiêu dùng hàng ngày của mỗi người lớn hơn Cà phê, Ca cao rất nhiều. Hàm lượng

độ nhiệt 12, 15, 18, 21 0 C. Tốt nhất là 18 0 C , nhiệt độ ban đêm tháng 10 tháng
11 thấp hơn 12 và cao hơn 21 0 C đều không thể hình thành chồi hoa. Vì lẽ đêm
không đủ lạnh, các vùng lãnh thổ trong đới xích đạo từ 8-10 0 C nam vĩ đến 8-10
0 C bắc vĩ chỉ có thể chọn vùng núi có cao trình 600-1000m để trồng Mắc-ca. Sau
khi chồi hoa được hình thành, cần có thêm 60 ngày mới có thể thấy được nụ hoa
bằng mắt thường và hoa nở từ cuối tháng 2 kéo dài tới đầu tháng 4. Nụ hoa có thể
chịu đựng sương giá ngắn hạn 0-2 0 C trong 5-7 ngày, Đợt rét hiếm có vào trước
tết âm lịch mùa xuân năm 1999 ở bắc Việt Nam và nam Trung Quốc đã cho thấy
rõ tại Quảng Tây nhiệt độ tối thấp –5 0 C kéo dài 6 – 7 ngày chưa gây tổn thất rõ
ràng với nụ hoa nhưng lạnh sâu hơn và dài hơn sẽ làm nụ hoa thui chột. Kinh
nghiệm hơn 20 năm trồng Mắc-ca ở miền nam Trung quốc đã cho nhận xét là càng
áp sát biên giới phía nam thì sản lượng càng cao. Nếu trồng Mắc-ca ở bắc Việt
Nam thì triển vọng có thể khá hơn nam Trung Quốc.
Mùa hoa nở và sau hoa nở (tháng 3,4) gặp nắng hạn sẽ gây rụng hoa nghiêm trọng.
Cây Mắc-ca ra rất nhiều hoa, mỗi bông đuôi sóc có từ 100-300 hoa, nhưng tỷ lệ
đậu quả lại chỉ đạt 0,1 - 0,3%. Khí hậu không thuận lợi có thể hoàn toàn không
đậu quả.
Theo qui luật chung về khí tượng khí hậu học toàn cầu thì từ vĩ độ 8-10 0 đến 25-
30 0 là vùng nhiệt đới và á nhiệt đới mưa mùa, đây là vùng phân bố của rừng nhiệt
đới mưa mùa (rừng khộp) rồi đến thảo nguyên nhiệt đới và sa mạc. Toàn bộ địa
đới này đều có mùa xuân và đầu hè rất khô và nóng. Lý do trên làm cho tất cả các
vùng lãnh thổ trên vành đai này không phù hợp với các loại cây có nhu cầu sinh
thái gần giống như cây Trà Mi, cây Sở, cây Vải thiều, và 1 số giống Nhãn
Các nhà tự nhiên học Trung Quốc thường hay nói tới một đặc ân của tạo hoá là lẽ
ra các khối không khí lạnh cực địa phải di chuyển theo hướng tây nam rồi rẽ
ngang sang hướng tây và do đó từ lưu vực Trường Giang xuống phía nam phải là
vùng sa mạc hoặc sa van nhiệt đới; nhưng nhờ vùng cao nguyên Pamia, Hy-ma-
lay-a nối tiếp cao nguyên Vân nam Quý châu kéo dài xuống dải Trường sơn mà
không khí lạnh cực địa bị cưỡng bức chuyển hướng đông nam và đem lại mùa
đông đủ lạnh và ẩm ướt cho đông nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam. Từ đèo Hải

Như vậy Bắc bộ có triển vọng sẽ có diện tích rất rộng lớn để trồng cây Mắc-ca.
Ngoài ra, miền núi Thanh Hoá, Nghệ An tần suất bão không cao nếu mất 1 vụ mà
trúng 2 vụ thì vẫn có thể gây trồng Mắc-ca.
Vùng núi cao giáp ranh giữa Tây và Đông Trường Sơn, nơi được đón mưa Tây
Trường Sơn rất sớm đồng thời lại được hưởng mưa muộn của Đông Trường Sơn
như Khe Xanh, An Khê, vùng giáp ranh giữa Bảo Lộc và Tánh Linh cũng có thể
là vùng phù hợp với phát triển của cây Mắc-ca.
Tất cả những phân tích trên cho phép đi đến dự báo là miền núi phía bắc Việt Nam
vừa có thể có nhiều đất trồng được cây Mắc-ca, vừa có thể tạo nên những đỉnh cao
về năng suất, chúng ta có thể tính đến chuyện phát triển Mắc-ca thành một ngành
sản xuất hàng hoá có quy mô tương đối lớn, diện tích có triển vọng phát triển cây
Mắc- ca có thể đạt tới cả triệu Ha.
Để có căn cứ lựa chọn, xin dịch vài thông tin tham khảo trích dẫn từ tài liệu
“Hưỡng dẫn trồng Macadamia” của úc xuất bản năm 1995 (Growing Macadamias
in Australia, NSW Agriculture Publishing House).
Tài liệu này cho biết đầu tư trồng Mắc-ca năm đầu 10.000 đô la úc/ Ha tương
đương 80 triệu VNĐ (không bao gồm giá mua đất hoặc thuê đất). Tiếp đó mỗi
năm phải chi phí 2.000 đô úc – tương đương 16 triệu VNĐ cho việc chăm sóc.
Nếu làm tốt thì năm thú 12, sản lượng có thể đạt 4,5 tấn hạt/Ha, với giá năm 1994
2,80 đô úc/kg (hạt chứa 33% nhân, độ ẩm 10%).
Như vậy thu hoạch trên mỗi Ha là : 4.500 Kg x 2,80 đô = 12,600 đô úc
(Tương đương 110 triệu đồng Việt nam / Ha).
Mức đầu tư ở úc là tương đối cao vì : giá lao động rất cao và toàn dùng máy móc,
nhiều nơi ở vùng nguyên sản tại úc lượng mưa không cao và phân bố không đều,
chi phí cho bơm tưới cũng rất cao. Nhưng ở ta thì khác, có thể phần lớn dùng thủ
công và có thể chọn nhiều vùng không cần bơm tưới hoặc chỉ bơm tưới 1 lần vào
đầu mùa hoa và 1 lần vào mùa quả non. Vì vậy có thể mức đầu tư cho trồng Mắc-
ca ở ta sẽ ít hơn nhiều so với ở úc. Tác giả ước tính chỉ ngang đầu tư cho trồng Vải
thiều thì Mắc-ca cũng có thể đảm bảo thu hoạch khá, nhưng sau khi có thu hoạch,
đầu tư phân bón nên đạt mức tiên tiến thế giới để duy trì sản lượng cao và ổn định.

Do đó việc tạo tán chỉ cần tập trung vào mục tiêu tối ưu hoá hiệu quả quang hợp
điều này sẽ tạo nhiều thuận lợi cho hoạt động khuyến lâm.
Trồng Mắc ca sẽ có nhiều lợi thế cho nông dân ở khâu sau thu hoạch.
Cách thu hoạch chủ yếu là thu lượm quả chín rụng trên mặt đất bằng máy hoặc
bằng tay. Sản phẩm thu hoạch nói chung chín đều và do đó sẽ không có vấn đề
chất lượng như trường hợp cà phê do phải tuốt cả chùm bao gồm cả quả chín và
xanh.
Sau khi chín rụng phần lớn vỏ quả đã nứt sẵn, có thể tách lấy hạt ngay tại vườn.
Khâu thu hoạch có mấy khó khăn chính như sau:
• Phải thu nhặt hạt hàng ngày để giảm tổn thất do chuột, sóc.
• Phải làm sạch cây bụi cỏ dại để không bị bỏ sót hạt rụng.
• Mùa thu lượm trùng với mùa thu hoạch nông nghiệp nên thiếu nhân công.
Hiện nay đã có nhiều chất điều hoà sinh trưởng có thể sử dụng cho quả chín rụng
tập trung hơn, giảm bớt công vào rừng thu nhặt hàng ngày.
Vấn đề lớn nhất sau thu hoạch là làm khô.
Quả mới rụng hàm lượng nước có thể cao tới 30% phải nhanh chóng tách quả và
hong khô hạt trong bóng râm cho đến khi hàm lượng nước rút xuống 10%. Với
thuận lợi là mùa thu hoạch gặp mùa khô hanh đầu đông ở miền bắc nước ta nên
yêu cầu này dễ thực hiện. Với độ ẩm 10% hạt có thể bảo quản tới vài ba tháng.
Các chủ trang trại ở úc và Mỹ thường bán sản phẩm với tiêu chuẩn độ ẩm này.
Trong thưong mại Quốc tế tiêu chuẩn độ ẩm là 1,5% với độ ẩm này có thể bảo
quản hạt trong nhiều năm. Để làm khô tới độ ẩm này thường phải dùng lò sấy gần
giống lò sấy thuốc lá; nhiệt độ sấy ban đầu là 32 0 C, sau bốn năm ngày nâng dần
nhiệt độ lên 52 0 C theo độ khô của hạt.
Như vậy, về những vấn đề sau thu hoạch người nông dân sẽ gặp ít khó khăn hơn
so với trồng nhãn, vải, đào, mận hay hạt giẻ , nguy cơ bị lái thương bắt chẹt cũng
nhỏ hơn.
Năng suất hạt Mắc ca phổ biến ở úc, Hawaii , Trung Quốc là 3,0 - 4,5 tấn/ha. Giá
bán nhân, (1/3 trọng lượng hạt khô) là 12 nghìn đến 15 nghìn USD/tấn. Nếu tạm
tính với năng suất 3 tấn hạt với giá 12 nghìn USD/ tấn nhân thì chí ít người nông

với bờ biển đông úc, chủ yếu là trên lãnh thổ bang Quensland và một phần bang
Newsouth wales trong khoảng 25 - 28 o vĩ độ nam. Vùng phân bố tập trung nhất là
dãy núi Mepherson mà một bên là sông Nunaibah và bên kia là sông Mary ở phía
bắc trên giải rộng 24km, dài 442km.
Loài này cao tới 18m, tán rộng 15m, vỏ cành nhạt màu hơn loài M.ternifolia (mắc-
ca 3 lá), lá non màu xanh nhạt, lá hình trứng ngược hoặc thuôn ngược. Lá dài 10,2
- 30,5cm, rộng 2,5 - 7,6cm, có cuống lá ngắn, không có hoặc gần như không có
răng cưa, đuôi lá tròn, 3 lá hoặc 4 lá mọc xoáy ốc, nhưng ở cây con hoặc cành non
có thể gặp 1 đôi lá mọc đối.
Hoa tự thường mọc ra từ cành già, thường là mọc từ mắt lá sớm thành thục nhất ở
đoạn cuối cành (phía ngọn), Hoa tự thường dài 10,2 - 30,5cm; mỗi hoa tự có từ
100 - 300 bông hoa (Hoa màu trắng).
Quả chín rộ vào tháng 3 đến tháng 6 ở úc (mùa thu đông nam bán cầu) và từ tháng
7 đến tháng 11 ở Hawaii. Nhưng ở California quả chín từ tháng 11 năm trước đến
tháng 3 năm sau. Tại Quảng Châu và Bán đảo Lôi Châu quả chín từ giữa tháng 8
đến cuối tháng 9. Ngoài ra, ở cây cao tuổi ngoài mùa hoa tập trung vẫn có thể thấy
hoa nở rải rác suốt năm. Vì vậy có thể coi loài này là "hoa quả liên tục".
Quả hình tròn, vỏ quả không có lông nhung, màu xanh bóng. Vỏ hạt nhẵn, đường
kính hạt khoảng 1,3 - 3,2cm, nhân màu trắng sữa, có hương thơm, chất lượng rất
cao.
Hiện nay các giòng vô tính được gây trồng phổ biến ở quy mô thương mại chủ yếu
được tuyển chọn từ loài này.
1. 2- Macadamia tetraphylla L.A.S Johnoson, có thể gọi là mắc-ca 4 lá, mắc-
ca hạt nhám hoặc mắc-ca lá răng cưa, mắc-ca lá gai.
Nguyên sản tại vùng rừng mưa nhiệt đới phía đông đường phân thuỷ của châu úc
trong khoảng 28 - 29 o vĩ tuyến nam, chủ yếu là trên dải đất dài 120km từ bờ nam
sông Coomera và sông Nerang thuộc Quensland đến bờ bắc sông Richmont thuộc
New south Wales.
Cây cao khoảng 15m nhưng tán xoè rộng tới 18m, vỏ cành nhỏ xẫm màu hơn
mắc-ca vỏ láng, nhưng hơi nhạt màu hơn mắc-ca 3 lá (M.ternifolia). Lá non màu

hồng phai.
Mùa quả chín tại úc là tháng 4, tại California là tháng 11.
Vỏ quả xanh xám, có lông nhung màu trắng rất dày.
Vỏ hạt nhẵn bóng, cỡ hạt chừng 0,95 - 0,61cm, nhân đắng và rất khó ăn. Cho đến
nay loài này chủ yếu là dùng làm cây cảnh.
1. 4- Macadamia Prealta F.Muell - Mắc-ca cầu
Quả tròn như quả cầu. Phân bố trong vùng mưa giữa Quensland và New South
wales . Quả to chừng 5cm, rất tròn, chứa 1 - 2 hạt. Vỏ hạt mỏng, hiện chưa tìm ra
giá trị thương phẩm, nhưng có thể có triển vọng trong tương lai.
1.5- Macadamia Whelanii F.M.Bailey :
Cũng phân bố trong vùng rừng mưa giữa Quensland và New South wales . Lá
nguyên không răng cưa. Nhân sống có độc, nhưng thổ dân miền đông úc vẫn ăn
sau khi rang chín. Đến nay vẫn chưa gây trồng đến quy mô thương mại.
2- Các dòng vô tính đang được gây trồng :
Các dòng vô tính đang được gây trồng theo quy mô thương mại đều được tuyển
chọn từ 2 loài: Mắc-ca vỏ hạt láng (M. integrifolia) và Mắc-ca vỏ hạt nhám (M.
tetraphylla) và các dòng lai giữa 2 loài này.
Đến nay toàn thế giới đã tuyển chọn và đặt tên, gây trồng được trên 50 dòng trong
số đó được gây trồng phổ biến nhất là các dòng của úc và Hawaii .
2.1- Các dòng của Hawaii .
Từ năm 1922, trạm thực nghiệm nông nghiệp Hawaii đã dẫn giống và gây trồng
thử cây Mắc-ca ở quy mô thương mại, nhưng do trồng bằng cây hạt nên không đạt
hiệu quả kinh tế. Từ năm 1936, Trạm thực nghiệm nông nghiệp này bắt đầu tuyển
chọn ưu trội; từ 12.000 cá thể đã chọn và đặt tên được cho 15 cây trội và nhân vô
tính. Đến năm 1948 đã chính thức đặt tên các dòng đầu tiên và đến năm 1954 đã
đặt thành đề tài nghiên cứu, đánh giá một cách hệ thống và khẳng định các dòng
tuyển chọn, nghiên cứu kỹ thuật phối hợp dòng nhằm tối ưu hoá hiệu quả thụ phấn,
nghiên cứu kỹ thuật gây trồng, thu hái, bảo quản, chế biến.
Năm 1956 bắt đầu phổ cập các dòng đã tuyển chọn và khuyến khích gây trồng trên
quy mô thương mại.

sẽ cho sản lượng trên đơn vị diện tích cao.
Dựa trên sản lượng và các chỉ tiêu chất lượng nói trên, Hawaii đã đưa ra các dòng
sau đây :
Keauhou - HAES 246 Kakea - HAES 508
Nuuan - HAES 336 Kohala - HAES 386
Pahou - HAES 428
Các năm sau lại đưa ra thêm các dòng sau đây :
IKaika - HAES 333 Wailua - HAES 475
Keaau - HAES 660 Kau - HAES 344
Mauka - HAES 471 Makai - HAES 800
Purvis - HAES 294 Pahala - HAES 788
Denison - HAES 790
và một số dòng lai là Beaumont - HAES 695 và NSW 44 v.v
Các dòng sau đây đã được tuyển chọn và gây trồng rộng rãi tại Hawaii :
1) Keauhou (HAES 246)
Chọn ra vào năm 1936, đặt tên năm 1948.
Tán tròn, xoè rất rộng, chia cành rất nhiều và hơi uốn cong xuống đất, cành tương
đối nhỏ hoặc trung bình, đuôi lá ít nhọn và hơi cong lên, mép lá lượn sóng, răng
cưa (gai lá) ở mức trung bình, bản lá hay cong vặn.
Quả to, màu nâu
Rốn hạt to và hơi lồi, hạt có gân rộng hơi lõm thành rãnh và nhạt màu hơn các
phần khác của vỏ hạt. Hoa văn hình trứng tập trung nhiều quanh vùng rốn bằng
phẳng.
Tại Hawaii , trọng lượng hạt bình quân khoảng 7,2g; trong đó phần nhân được
2,8g, tỷ lệ nhân đạt 39%, tỷ lệ nhân quả loại 1 đạt 85% (so với hạt). Sản lượng cao,
nhưng không đều nhau giữa các vùng gây trồng. Tại Hawaii dòng này đặc biệt tốt
tại đảo Kô-na, tại các đảo khác thuộc quần đảo này thì tỷ lệ nhân cấp 1 không
được ổn định. Nhưng tại úc, dòng này được coi là đáng tin cậy, theo dõi suốt 4 vụ
liền dòng này đều có sản lượng cao hơn mức bình quân của các dòng khác (sản
lượng 36,5kg nhân/cây, tỷ lệ nhân 39,2%).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status