MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Lãnh thổ Việt Nam trải dài từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau với dải đất
liền hình chữ S có diện tích 33 vạn km
2
, nằm trọn trong khu vực Đông Nam châu Á.
Việt Nam có 54 dân tộc anh em, mỗi cộng đồng dân tộc nhìn chung đều mang bản
sắc văn hoá riêng. Trong đó, vốn tri thức dân gian về kinh nghiệm sử dụng cây
thuốc chữa bệnh rất đa dạng và phong phú [31].
Với vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm ở châu Á, đặc điểm địa
hình và khí hậu đa dạng tạo cho Việt Nam có tính đa dạng sinh học rất cao và được
công nhận là một trong 25 nước có độ đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới [10].
Theo các số liệu điều tra và thống kê của Phạm Hoàng Hộ, ở Việt Nam có khoảng
12.000 loài thực vật bậc cao có mạch [15]. Trong số đó, có khoảng 3.800 loài cây
dùng làm thuốc, chiếm khoảng 36% trong số 10.500 loài đã biết. Trên thế giới có
khoảng 35.000 loài thực vật làm thuốc (theo A. P. Van Seters, 1997) thì Việt Nam
chiếm 11% và theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, trong số 21.000 loài thì Việt
Nam chiếm khoảng 18% [33]. Tuy số lượng có lớn, nhưng cũng chưa thể khẳng
định được chính xác số lượng các loài thực vật dùng làm thuốc của tất cả các dân
tộc anh em sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam vì mỗi dân tộc có một cách sử dụng
cây thuốc riêng với từng loại cây khác nhau.
Bằng những kinh nghiệm dân gian của những người làm thuốc trong mỗi dân
tộc, những tri thứ về cây thuốc được truyền miệng và lưu truyền cho con cháu đời
sau, thế hệ nối tiếp thế hệ. Dần dần, các bài thuốc có tính độc đáo và trở nên thông
dụng trong phương tiện chăm sóc sức khỏe người dân cộng đồng dân tộc mình và
những dân tộc xung quanh. Chính vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và
bảo tồn cây thuốc cũng như bảo tồn các tri thức y học dân gian được tiến hành và
mang lại kết quả quan trọng. Tuy nhiên, vấn đề bảo tồn cây thuốc còn gặp rất nhiều
khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau như: chiến tranh, đô thị hóa, kinh tế thị
trường… và sự suy giảm nguồn tài nguyên cây thuốc là điều không thể tránh khỏi.
Mặt khác, những tri thức dân gian của các dân tộc dùng để chữa các bệnh cũng ngày
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC
1.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam
Hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam của chúng ta đã trải
qua cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đấu tranh với thiên nhiên và bệnh tật.
Trong quá trình đó, tổ tiên ta đã sớm phát hiện ra những cây cỏ có thể sử dụng làm
thuốc, đồng thời trong cuộc sống lao động, đấu tranh với bệnh tật đã sáng tạo ra
những phương pháp chữa bệnh như: xoa bóp, châm cứu…[31].
Nhân dân ta còn biết sử dụng những cây cỏ rất đơn giản và biến chúng thành
những vị thuốc, gia vị dùng trong nấu nướng thường ngày như: Gừng, Riềng. Theo
Long Y Bí thư thì ở Giao Chỉ đến thế kỷ thứ II TCN đã có hàng trăm vị thuốc được
phát hiện như: quả Giun, Sắn dây, Sen, Quế, Thông, Thường sơn, Hương phụ…
[13].
Từ thời Hùng Vương, tổ tiên ta đã biết nấu rượu, biết dùng Thủy ngân để ướp
xác và đã có sử sách ghi chép về một lương y tên là Thôi Vỹ đã biết chữa lao hạch ở
thời An Dương Vương (257 – 207) [31].
Thời nhà Lý (1010 – 1221) đã có tổ chức Ty Thái Y chăm lo và bảo vệ sức
khỏe cho nhà Vua, có nhiều thầy thuốc chuyên lo việc chữa bệnh cho nhân dân và
phương pháp chữa bệnh bằng tâm lý liệu pháp phát triển. Trong sử sách còn ghi lại
năm 1136, vua Lý Thần Tông bị điên được lương y Nguyễn Chí Thành người Gia
Viễn – Ninh Bình dùng tâm lý liệu pháp và tắm nước Bồ hòn chữa cho khỏi bệnh
[31]. Trong thời này, làng Đại Yên là một làng thuốc nổi tiếng, chuyên trồng và bán
các loại cây thuốc Nam phục vụ cho công tác chữa bệnh [35].
Đến đời nhà Trần, y học cũng khá phát triển, từ Ty Thái Y chuyển thành Viện
Thái Y phụ trách việc chăm nom sức khỏe cho Vua quan trong triều. Nổi bật ở thời
này là Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá Tĩnh) – được nhân dân tôn trọng, gọi là “Ông thánh
thuốc Nam”. Tuệ Tĩnh đã xây dựng 74 ngôi chùa làm nơi chữa bệnh cho nhân dân,
ông đã thu thập các bài thuốc dân gian, các vị thuốc nam, viết sách truyền bá y học.
Đồng thời, ông đã xây dựng được phong trào trồng và sử dụng thuốc Nam trong
nhân dân, chữa bệnh cho dân không lấy tiền [4]. Tác phẩm mà Tuệ Tĩnh để lại gồm
có: Bộ “Nam dược thần hiệu”; Bộ “Hồng Nghĩa Giác tư Y thư”. Tuệ Tĩnh đã đặt
Năm 1952, ông đã cho bổ sung và xây dựng thành bộ “Les plantes de médicinales
du Cambodge, du Laos et du Vietnam”, gồm 4 tập và thống kê được 1.482 vị thuốc
thảo mộc ở ba nước Đông Dương [17].
Từ 1945 - 1954, là khoảng thời gian thuận lợi cho các nhà khoa học thực hiện
một số nghiên cứu về thực vật cũng như cây cỏ làm thuốc ở Việt Nam. Tiêu biểu có
thể kể đến bộ sách “Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập, do Đỗ Tất
Lợi biên soạn năm 1957 và đến năm 1961, cuốn sách này được tái bản in thành 2
tập. Trong đó, ông đã mô tả chi tiết và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam
[24]. Đỗ Tất Lợi đã tiếp tục dày công nghiên cứu và trong những năm từ 1962 –
1965, ông cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập,
năm 1969 tái bản trong 2 tập. Cuốn sách này của ông đã đề cập đến trên 500 vị
4
thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật. Ông đã kiên trì nghiên cứu,
bổ sung liên tục các loài cây thuốc trong các công trình nghiên cứu của mình và
sách đã được tái bản nhiều lần vào các năm 1970, 1977, 1981, 1986, 1995, 1999,
2001, 2003. Lần tái bản thứ 7 (1995) số cây thuốc của ông nghiên cứu đã lên tới
792 loài và gần đây nhất là lần tái bản lần thứ 13 (2005) [17]. Bộ sách của ông đã
mang lại một giá trị khoa học và giá trị thực tiễn sâu sắc, thể hiện sự kết hợp giữa
khoa học dân gian với khoa học hiện đại.
Được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, ngày càng có nhiều công trình
nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc Việt Nam. Năm 1976, để phục vụ cho công tác
giảng dạy và nghiên cứu cây thuốc, dược sĩ Vũ Văn Chuyên đã cho ra đời cuốn
“Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc” [17]. Năm 1980, Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân
Chương đã giới thiệu “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” giới thiệu 519 loài cây thuốc,
trong đó có 150 loài mới được phát hiện [17]. Viện Dược liệu đã cho xuất bản cuốn
“Dược điển Việt Nam” tập I, II đã tổng kết các công trình nghiên cứu về cây thuốc
trong nhiều năm, cuốn “Danh lục cây thuốc miền Bắc Việt Nam”; “Danh lục cây
thuốc Việt Nam”; “Atlas – Bản đồ cây thuốc”, đã thống kê và công bố một danh
sách về cây thuốc từ 1961 – 1972 ở miền Bắc là 1.114 loài, từ 1977 – 1985 ở miền
Nam là 1.119 loài [17]. Theo kết luận của Viện Dược liệu, trong quá trình thu thập
truyền tại huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế [48], do Viện Dược liệu tổ chức
tổng kết (10/04/2010) về các loài cây thuốc và bài thuốc của cộng đồng dân tộc ở
nhiều nhiều vùng trên cả nước: người Dao (khu vực Vườn Quốc gia Ba Vì): 579
loài và 125 bài thuốc; người Mường (Cẩm Liên, Cẩm Thủy, Thanh Hóa): 136 loài
và 102 bài thuốc; người H'mông (Kỳ Sơn, Nghệ An): 206 loài và 32 bài thuốc;
người Tày: (Vị Xuyên, Hà Giang): 292 loài; người Tày - Nùng (Tràng Định, Lạng
Sơn): 126 loài và 51 bài thuốc; bản Mường (xã Vĩnh Lạc, Lục Yên, Yên Bái): 40
loài và 40 bài thuốc; 85 bài thuốc của cộng đồng người Dao; 72 bài thuốc của cộng
đồng người H'mông; 16 bài thuốc của cộng đồng người Thái và Khơ Mú; 11 bài
thuốc của cộng đồng Bru - Vân Kiều
Việc phát triển và bảo tồn dược liệu là mục tiêu phấn đấu của ngành y tế nước
ta. Vì vậy, nhà nước đã triển khai thành công nhiều dự án. Trong đó, hai dự án bảo
tồn và phát triển cây thuốc “Dự án bảo tồn cây thuốc tại Vườn Quốc gia Ba Vì”, do
Australia tài trợ, đa phần giúp cho các cộng đồng địa phương bảo vệ, quản lý vững
chắc một số loài dược thảo truyền thống. Đã thống kê các loài cây thuốc chữa bệnh
theo truyền thống, xác định các cây thuốc có tầm quan trọng nhất đối với địa
phương về tập quán sử dụng và giá trị kinh tế. “Bảo tồn nguồn gen cây thuốc Nam”
tại xã Bình Dương (Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) được tiến hành năm 1999 do Quỹ Môi
trường toàn cầu tài trợ, đã hoàn thành sau 2 năm [47].
Như vậy, việc điều tra và thống kê các loài cây thuốc đã để lại những công
trình mang tính khoa học, tính dân tộc sâu sắc, để lại cho con cháu mai sau một kho
tàng tri thức dân gian quý báu.
6
1.2. Tình hình nghiên cứu cây thuốc của cộng đồng dân tộc Dao
Dân tộc Dao ở Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc. Có lẽ, sự di cư của họ
vào đất nước ta bắt đầu từ thế kỷ XIII cho đến những năm 40 của thế kỷ XX. Họ
phân bố rải rác ở khắp nơi nhưng chủ yếu là tại các vùng núi cao. Người Dao còn có
các tên gọi khác: Mán, Đông, Trại, Dìu Miền, Kim Miền, Lù Gang, Làn Tẻn, Đại
Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Đầu v.v, là một dân tộc thiểu số trong 54
dân tộc ở Việt Nam. Theo tổng điều tra dân số năm 2009, ở Việt Nam có 751.067
công trình nghiên cứu, điều tra, nhằm đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây
thuốc của các cộng đồng dân tộc thiểu số sinh sống trên khắp đất nước. Trong đó,
có các nghiên cứu về cây thuốc của dân tộc Dao như: “Điều tra các nhóm cây có
ích trong cộng đồng dân tộc Mường và Dao Tiền tại xã Chiềng Yên (Mộc Châu-
Sơn La)” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Thị Thuỷ, Phạm Văn
Thính, Trương Anh Thư, Bùi Văn Thanh, Hà Tuấn Anh (Viện Sinh thái và Tài nguyên
sinh vật) [34], [43]. Kết quả thu được: cộng đồng người Mường đã khai thác và sử
dụng 12 nhóm cây tài nguyên, nhóm cây thuốc là 198 loài. Người Dao đã khai thác
và sử dụng 12 nhóm cây tài nguyên, nhóm cây thuốc là 165 loài. Kết quả “Nghiên
cứu bảo tồn cây thuốc và y học dân tộc Dao, khu vực Vườn Quốc gia Ba Vì” (Do bộ
môn Thực vật, Trường Đại học Dược, Hà Nội đảm nhiệm) [34], thống kê được 501
loài cây, thuộc 307 chi, 114 họ thực vật được cộng đồng người Dao, Ba Vì dùng
làm thuốc, trong đó có 50 loài thường xuyên được sử dụng và có 4 loài ghi trong
sách đỏ Việt Nam (Lá khôi, Củ dòm, Hoàng đằng, Gió đất). “Nghiên cứu bảo tồn
cây thuốc và y học dân tộc Dao và H’mông, huyện Sapa, Lào Cai” (Phòng Thực vật
dân tộc học, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và Trạm nghiên cứu cây thuốc
Sapa, Viện Dược liệu chủ trì) [34]. Kết quả thu được: 451 loài thuộc 108 họ được
cộng đồng dùng làm thuốc, trong đó có nhiều loài ghi trong sách của Đỗ Tất Lợi và
Võ Văn Chi, nhiều loài thuộc loại quý hiếm, đặc hữu của nước ta, nhiều loài đã bị
khai thác cạn kiệt, có nguy cơ tuyệt chủng. “Điều tra, đánh giá, về tài nguyên cây
thuốc và kinh nghiệm sử dụng các loài thực vật làm thuốc của một số dân tộc (Dao,
Tày, Hoa) tại Yên Tử - Quảng Ninh”, của Nguyễn Thị Phương Thảo và cộng sự
(2001), kết quả thu được 326 loài thực vật làm thuốc [1]. Nghiên cứu “Cây thuốc
truyền thống của người Dao, huyện Sapa, tỉnh Lào Cai” của tác giả Lưu Đàm Cư
(2005), kết quả xác định được 312 loài cây thuốc [1].
Như vậy, các công trình nghiên cứu nhằm bảo tồn nguồn cây thuốc, bảo tồn và
phát triển những tri thức dân gian của người dân tộc Dao đã đóng góp vào công tác
bảo tồn nguồn dược liệu nước nhà, bảo tồn những bài thuốc hay.
1.3. Tình hình nghiên cứu cây thuốc dân tộc tại Thái Nguyên
Từ xa xưa, đất Thái Nguyên đã được chú ý bởi sự giàu có sản vật dùng làm
nghiên cứu “Điều tra cây thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm của cộng đồng dân
tộc Dao ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên thuộc vùng đệm Vườn
Quốc gia Tam Đảo phục vụ bảo tồn và phát triển bền vững” (2009) của tác giả Đinh
Thị Bạch Yến (Khoa Sinh học, trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc
Gia Hà Nội) [37]. Theo kết quả điều tra đã thống kê được 130 loài cây thuốc, thuộc
109 chi, 62 họ của 4 ngành thực vật bậc cao có mạch và 21 bài thuốc được sử dụng
theo kinh nghiệm của cộng đồng dân tộc Dao ở xã Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh
Thái Nguyên.Và đây cũng là tài liệu nghiên cứu đầu tiên về kinh nghiệm sử dụng
cây thuốc của dân tộc Dao tại Thái Nguyên. “Nghiên cứu sự đa dạng nhóm cây có
ích ở Phú Lương (Thái Nguyên)” của nhóm tác giả Lê Ngọc Công, Bùi Thị Dậu,
Đinh Thị Phượng (2007), ghi nhận được 296 loài thuộc 90 họ nằm trong bốn ngành
thực vật bậc cao có mạch [17]. Công trình nghiên cứu “Điều tra và đánh giá tính đa
dạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở xã Bình Thuận huyện Đại Từ (2007) của
9
Nguyễn Quỳnh Nga [17]. Công trình nghiên cứu “Điều tra cây thuốc và kinh
nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Cao Lan xã Dân Tiến, huyện Võ
Nhai, tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Lê Thị Thanh Hương và Nguyễn Thị Thuận
[18], kết quả đã thống kê được 136 loài cây thuốc thuộc 122 chi, 63 họ của 3 ngành
thực vật.
Xã Hợp Tiến, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên là một trong số những xã
miền núi của tỉnh. Nơi đây có tất cả 7 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc
Dao là dân tộc có số lượng đông nhất trong toàn xã, chiếm 86,7% tổng dân số [23].
Khi điều kiện kinh tế còn khó khăn, trạm Y tế chưa thể đáp ứng được nhu cầu chữa
bệnh của bà con, họ chủ yếu chữa bệnh bằng những cây thuốc vốn có nguồn gốc từ
thiên nhiên, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Xã Hợp Tiến cũng đã tổ
chức phòng chẩn trị phối hợp với trạm y tế hàng năm khám bệnh, điều trị trên 3.000
lượt người bệnh chiếm tỷ lệ 50% tổng bệnh nhân trên địa bàn xã [49]. Hiện nay,
phòng chẩn trị đã tách ra làm tư nhân nhưng vẫn đảm bảo việc khám chữa bệnh cho
bà con trong xã và những bà con dân tộc khác trên địa bàn lân cận.
Đáng tự hào hơn, nơi đây đã sinh ra một người con của núi rừng, mà bà con
dân tộc Dao ở khu vực nghiên cứu.
- Tiến hành đánh giá mức độ quý hiếm của các loài cây thuốc thu được ở khu
vực nghiên cứu.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu và nội dung mà đề tài đã đề ra, chúng tôi sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau đây:
2.3.1. Phương pháp kế thừa
Kế thừa những kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các ông lang, bà mế người
dân tộc Dao và các công trình nghiên cứu khoa học trước đây về cây thuốc, các tài
liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài, có chọn lọc và phê phán.
2.3.2. Phương pháp điều tra phỏng vấn
11
Phỏng vấn người dân, đặc biệt là các ông lang, bà mế người dân tộc Dao về
những kinh nghiệm sử dụng các loài cây làm thuốc và các bài thuốc gia truyền theo
các tiêu chí trong “Phiếu điều tra cây thuốc dân tộc cổ truyền” của Bảo tàng thực
vật - Đại học Quốc gia Hà Nội – HNU (phụ lục 1).
2.3.3. Phương pháp thu thập và xử lý mẫu vật
* Phương pháp thu mẫu: tiến hành thu mẫu ở thực địa theo nguyên tắc và
phương pháp thu mẫu của Nguyễn Nghĩa Thìn [25], [27].
* Dụng cụ thu và xử lý mẫu: bản gỗ ép mẫu, túi đựng mẫu, bao tải dứa, kéo cắt
cây, giấy báo, dây buộc, etyket, bút chì, bút chữ A, sổ ghi chép, cồn, máy ảnh [25].
Hình 2.1. Các dụng cụ xử lý mẫu cây thuốc
* Nguyên tắc thu mẫu: trong quá trình đi thực địa để điều tra và thu thập mẫu
cây thuốc, chúng tôi đã thu thập đầy đủ các bộ phận cây được sử dụng làm thuốc,
bao gồm: thân, rễ, lá, hoa, quả, hạt. Mỗi cây thu từ 3 đến 10 mẫu, các mẫu cùng cây
đánh cùng một số hiệu mẫu, đồng thời ghi chép những đặc điểm dễ nhận biết của
cây ngoài thiên nhiên mà sau khi khô có thể bị mất đi [25]. Đồng thời, chúng tôi
cũng tiến hành thu mẫu thực vật chứa đựng giá trị tri thức dân tộc như bộ phận
dùng, các bộ phận có đặc điểm để phân biệt bởi tri thức dân tộc, các sản phẩm có
nguồn gốc từ thực vật.
+ Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi) [9].
+ Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi) [24].
+ Iconographia Cormophytorum Sinicorum – ICS [42].
+ 450 cây thuốc nam có tên trong bảng dược thảo Trung Quốc [38]
+ Danh lục các loài thực vật Việt Nam [32]…
2.3.5. Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc
13
Để đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc của đồng bào dân tộc
Dao ở xã Hợp Tiến, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi dựa theo phương
pháp đánh giá của Nguyễn Nghĩa Thìn [25], đánh giá theo các tiêu chí sau:
- Đa dạng về bậc phân loại: ngành, lớp, họ, chi, loài.
- Đa dạng về dạng sống: kí sinh, dây leo, gỗ trung bình, gỗ nhỏ, thảo, bụi.
- Đa dạng về môi trường sống: rừng, đồi, vườn, ven suối.
- Đa dạng về bộ phận sử làm thuốc: thân, rễ, lá, hoa, quả, hạt, nhựa, cả cây.
- Đa dạng về cách chế biến cây thuốc: khô và tươi.
- Đa dạng về các nhóm bệnh chữa trị: bệnh về xương, khớp, thần kinh
2.3.6. Phương pháp đánh giá mức độ nguy cấp
Đánh giá mức độ nguy cấp của các loài cây thuốc, xác định những cây thuốc
thuộc diện bảo tồn đã thu thập được dựa trên: Sách đỏ Việt Nam, phần Thực vật
(2007); Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam trong Cẩm nang Cây thuốc cần bảo vệ ở
Việt Nam của Nguyễn Tập (2007) và Nghị định 32/2006/NĐ – CP.
14
Chương 3
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1. Vị trí địa lý
Hợp Tiến là một xã vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn của huyện Đồng Hỷ. Xã
Hợp Tiến nằm trên quốc lộ 259 đi huyện Yên Thế - Bắc Giang, cách trung tâm
huyện Đồng Hỷ 30 km về phía Đông Nam [23].
Ranh giới hành chính tiếp giáp với các xã như sau: phía Bắc: giáp huyện Võ
- Đất lâm nghiệp 3747,75 68,60
- Đất rừng sản xuất 3747,75 68,80
2. Đất phi nông nghiệp 247,56 4,54
3. Đất chưa sử dụng 31,92 0,59
- Đất bằng chưa sử dụng 21,24 0,39
- Đất đồi núi chưa sử dụng 10,68 0,20
(Theo thống kê của phòng địa chính xã Hợp Tiến năm 2010)
16
Đất đai của xã được hình thành từ đá mẹ như: phiến thạch sét, đá mácma axit,
một số ít là đá mácma trung tính và đá biến chất. Do đó có thể chia thành các loại
đất chủ yếu sau: đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ; đất đỏ vàng biến đổi do trồng
lúa; đất nâu đỏ phát triển trên đá mácma bazơ và trung tính; đất đỏ vàng phát triển
trên đá phiến sa thạch; đất đỏ vàng phát triển trên đá biến chất [23].
Nhìn chung, với diện tích rừng vẫn còn khá nhiều, điều kiện về địa chất, thổ
nhưỡng, chúng tôi nhận thấy đây là nơi có điều kiện thuận lợi cho thực vật phát
triển, nhất là các loài cây thuốc.
3.1.4. Đặc điểm khí hậu
Hợp Tiến mang đặc điểm chung của khí hậu vùng miền núi phía Bắc. Đó là
khí hậu nhiệt đới gió mùa. Hàng năm chia thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa
khô.
- Mùa mưa: kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, đặc điểm mùa này là mưa
nhiều, tập trung chủ yếu vào tháng 6, 7, 8 chiếm trên 70% lượng mưa cả năm, lượng
mưa trung bình mỗi tháng là 207,15 mm. Nhiệt độ trung bình ngày mùa này là
28,5
0
C, số giờ nắng trung bình là 7,4 giờ/ngày, tổng tích ôn toàn mùa là 5752,5
0
C
[23].
- Mùa khô: bắt đầu tháng 11 và kết thúc vào tháng 3 năm sau, mùa này có
Do điều kiện sinh thái và địa hình của xã, thảm thực vật ở xã Hợp Tiến khá đa
dạng và phong phú và được thể hiện như sau:
Rừng trên núi đất: rừng trên núi đất bao gồm rừng thứ sinh sau khai thác,
rừng thứ sinh phục hồi và rừng tre nứa.
- Rừng thứ sinh sau khai thác: loại rừng này chiếm diện tích chủ yếu ở xã. Ở
đây, những loài cây quý, cây to bị suy giảm, tầng rừng bị phá hoại.
- Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy: rừng thứ sinh phục hồi sau nương
rẫy và sau khi bị chặt phá thường nằm sát khu vực nơi dân cư sinh sống. Sau khi bị
khai thác, UBND xã đã thực hiện kế hoạch giao đất giao rừng cho các hộ gia đình
nên hiện nay, một số diện tích đất rừng loại này chủ yếu được dùng để trồng Lim,
Bạch đàn…
- Rừng tre nứa: rừng tre nứa có nguồn gốc tự nhiên nhưng được người dân
quản lý bảo vệ, phân bố rải rác ở các xóm trong toàn xã. Đây là nguồn nguyên liệu
cho xây dựng, đồng thời giúp bảo vệ môi trường.
Rừng trồng: rừng trồng trong khu vực chủ yếu được trồng từ nguồn vốn của
chương trình 327, 661 và một phần nhỏ do người dân tự bỏ vốn trồng. Các loại rừng
trồng thường gặp là rừng Bạch đàn, Keo và cây bản địa chủ yếu là cây Phấn. Loại
rừng này đã đem lại thu nhập nhanh chóng và đáng kể cho người dân trong vùng.
Trảng cây bụi: Ở xã Hợp Tiến chủ yếu là rừng trên núi đất nên trảng cây bụi
cũng chủ yếu là kiểu trảng cây bụi trên núi đất. Kiểu này gặp phổ biến trong toàn
xã, đây là hậu quả của quá trình phá hủy rừng nhiệt đới vùng núi phía Bắc.
Trảng cỏ: Trảng cỏ thứ sinh sau nương rẫy là hậu quả của quá trình đốt
nương, làm rẫy, rồi chăn thả trâu bò hay cháy rừng nhiều lần, đất bị thoái hóa, các
loài cây gỗ không còn khả năng tái sinh tự nhiên.
18
3.2. Điều kiện xã hội
3.2.1. Dân cư, dân tộc
Thái Nguyên là một tỉnh giàu tài nguyên. Vì thế ngay từ thời xa xưa đã thu hút
dân cư ở nhiều vùng đồng bằng và các vùng lân cận đến khai hoang, làm ăn sinh
sống. Thái Nguyên cũng là mảnh đất giàu truyền thống, có nhiều dân tộc cư trú
Giao thông: nhìn chung hệ thống giao thông của xã hiện nay đã có bước phát
triển đáng kế, tuyến đường đi Yên Thế - Bắc Giang đã được nâng cấp thành đường
nhựa, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại, vận chuyển hàng hóa của người dân.
Hệ thống đường làng đã có một số xóm có đường bê tông. Tuy nhiên, đường đất
vẫn là chủ yếu [23].
Hệ thống lưới điện: hiện tại xã Hợp Tiến chỉ có một trạm biến áp 160 KVA
với hệ thống đường cao thế và hạ thế đang cung cấp điện cho 10 thôn với tổng số hộ
dùng điện là 1.040 hộ [23].
Giáo dục đào tạo: hiện trên địa bàn xã có 81 giáo viên với tổng số học sinh là
1410. Trong đó cụ thể có 1 trường cấp I với số lượng học sinh là 740 em, tỷ lệ tốt
nghiệp cao đạt 99%, một trường cấp II với tổng số học sinh là 510 em, tỷ lệ tốt
nghiệp hàng năm đạt 98%. Tại các thôn đều có lớp mẫu giáo [23].
Y tế: xã có một trạm y tế được xây dựng nhà cấp 4, 1 phòng khám đông y, 1
phòng tây y và 14 giường bệnh, y dụng cụ, tủ thuốc khá đầy đủ, có đội ngũ cán bộ y
tế khá nhiệt tình và có trách nhiệm với 1 bác sỹ, 5 y sỹ, dược tá và 13 y tá thôn bản.
Năm 2008 phòng chẩn trị đông y xã Hợp Tiến được coi là phòng chẩn trị điển hình
tiên tiến [16]. Ngoài ra còn có một số phòng khám đông y được mở để phục vụ
công tác chăm sóc sức khỏe của bà con trong địa bàn xã và một số xã, huyện lân
cận.
20
Chương 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đa dạng các bậc taxon của nguồn tài nguyên cây thuốc
Quá trình điều tra, nghiên cứu cây thuốc được sử dụng theo kinh nghiệm của
đồng bào dân tộc Dao tại xã Hợp Tiến, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, chúng
tôi đã tiến hành thu thập và xử lý, giám định tên khoa học và tổng hợp trong bảng
sau:
Bảng 4.1. Số loài cây thuốc đã phát hiện ở khu vực nghiên cứu
TT Nhóm Nấm và Ngành thực vật Số họ Số chi Số loài
1 Nấm (Fungi) 1 1 1
(Ngành Mộc Lan)
Họ Chi Loài
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Dicotyledoneae
(Lớp Hai lá mầm)
58 77,33 122 81,88 147 81,67
Monocotyledoneae
(Lớp Một lá mầm)
17 22,67 27 18,12 33 18,33
Tổng 75 100 149 100 180 100
Trong hai lớp của ngành Mộc lan thì lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) có số
họ, chi, loài được dùng làm thuốc ưu thế hơn hẳn lớp Một lá mầm. Lớp Hai lá mầm
có 147 loài, chiếm tỷ lệ là 81,67%; 122 chi, chiếm tỷ lệ 81,88% và 58 họ, chiếm tỷ
lệ 77,33% so với tổng số loài, chi, họ trong ngành. Trong số này có những loài có
giá trị như: Reynoutria japonica Houtt. (Cốt khí củ - Hùng lìn đòi) chữa ung thư dạ
con, Heliciopsis lobata (Merr.) Sleum (Đìa đụn - Đìa chủn) giúp hồi phục sức khỏe
sau khi sinh…
Lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) chỉ có 33 loài, chiếm tỷ lệ 18,33%; 27
chi, chiếm tỷ lệ 18,12% và 17 họ, chiếm tỷ lệ 22,67% so với tổng số loài, chi, họ
trong ngành Mộc lan. Tuy chiếm tỷ lệ không lớn, nhưng lớp này cũng có một số cây
có giá trị như: Eleutherine bulbosa (Mill.) Urban.(Sâm đại hành – Sâm hành) chữa
suy tim, Acorus calamus L. (Thủy xương bồ - Sìn bầu đú) giúp hồi phục sức khỏe
sau khi sinh, Disporopsis longifolia Craib (Hoàng tinh hoa trắng – Mục cù lì xỉng)
bổ máu…
Theo kết quả nghiên cứu của Đinh Thị Bạch Yến khi điều tra về kinh nghiệm
sử dụng một số cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao tại xã Quân Chu, huyện Đại
Từ, tỉnh Thái Nguyên thu được 130 loài cây thuốc thuộc 62 họ, 109 chi của 4 ngành
thực vật. Trong đó, ngành Mộc lan chiếm số lượng chủ yếu với 124 loài, 103 chi và
56 họ thực vật. Qua đó, ta thấy số lượng các loài cây thuốc được sử dụng nhiều nhất
vẫn nằm trong ngành Mộc lan với tỷ lệ 95,38% (theo Đinh Thị Bạch Yến) và
4
loài
5
loài
6
loài
7
loài
8
loài
9
loài
Trên
10 loài
và
dưới
15 loài
Fungi 1 0
Lycopodiophyta 0 1
Polypodiophyta 4 0
Magnoliophyta 38 16 7 3 4 2 1 2 1 1
Dicotyledoneae 30 9 7 2 4 2 0 2 1 1
Monocotyledoneae 8 7 0 1 0 0 1 0 0 0
Tổng số họ 43 17 7 3 4 2 1 2 1 1
Tỷ lệ số họ / tổng
số họ (%)
53,09 20,99 8,64 3,70 4,94 2,47 1,23 2,47 1,23 1,23
Số loài 43 34 21 12 20 12 7 16 9 13
Tỷ lệ số loài / tổng
số loài (%)
Việt Nam. Có những họ nhiều loài như: Euphorbiaceae (13 loài) chiếm 3,06%,
Fabaceae (9 loài) chiếm 1,91%, Rubiaceae (8 loài) chiếm 2%, Asteraceae (8 loài)
chiếm 2,38%, Zingiberaceae (7 loài) chiếm 6,42%, Myrsinaceae (6 loài) chiếm
4,32%, Verbenaceae (6 loài) chiếm 4,58% so với số loài trong từng họ của cả
nước Đây cũng là những họ có số loài lớn trong hệ cây thuốc Việt Nam. Chúng ta
có thể dự đoán về khả năng phát hiện thêm những loài cây làm thuốc mới trong các
họ lớn đó ở Việt Nam.
4.1.2. Đa dạng ở bậc chi
Sự đa dạng và phong phú về thực vật làm thuốc ở xã Hợp Tiến, huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên không chỉ thể hiện trong sự đa dạng ở bậc họ mà sự phong
phú về các chi cũng khá rõ. Điều này được thể hiện trong bảng 4.5:
Bảng 4.5. Thống kê các chi có nhiều loài được sử dụng làm thuốc
TT Tên chi Thuộc họ Số lượng
1 Ardisia Myrsinaceae ( Họ Đơn nem) 4
2 Clerodendrum Verbenaceae ( Họ Cỏ roi ngựa) 3
3 Piper Piperaceae ( Họ Hồ tiêu) 3
4 Rubus Rosaceae ( Họ Hoa hồng) 3
Tổng 13
Theo bảng 4.5 ở khu vực nghiên cứu có 4 chi nhiều loài nhất là Ardisia (4
loài) , Clerodendrum, Piper, Rubus (3loài). Một số loài cây thuốc có giá trị sử dụng
phổ biến trong các chi này như: chi Ardisia có Lá khôi – Đìa sàng phản (Ardisia
gigantifolia Stapf.) giúp hồi phục sức khỏe sau khi sinh, Trọng đũa – Tồng lồng xi
25