BÀI THAM LUẬN :
NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ KINH TẾ VIỆT NAM
SAU KHỦNG HOẢNG
Đặng Kim Sơn- Viện CSCL PTNNNT
I. Tác động của khủng hoảng kinh tế tới Việt Nam
1. Khủng hoảng kinh tế tác động lớn đến khu vực nông thôn, làm gia tăng
mâu thuẫn và khoảng cách giữa nông thôn với thành thị :
- Số lượng người mất việc tăng lên : 17,8% lao động di cư trong nước, lao
động làm việc trong các doanh nghiệp tại địa phương bị mất việc từ đầu
năm đến tháng 7/2009; lao động di cư mất việc diễn ra ở 71% xã; lao
động làm việc trong các trang trại tại địa phương giảm 4,6%.
- Hộ nuôi trồng thuỷ sản và chăn nuôi lợn bị ảnh hưởng nặng : 18% diện
tích nuôi trồng thuỷ sản bỏ hoá, cao hơn năm 2008 là 3%. Do giá giảm
nên phần lớn hộ nuôi trồng thuỷ sản bị lỗ. Các trang trại, gia trại giảm
quy mô chăn nuôi và mặc dù vẫn có lãi, nhưng mức lãi rất thấp và giảm
60-90% so với năm 2008. Các hộ chăn nuôi lợn nhỏ lẻ phần lớn là lỗ, vì
vậy khoảng 20% hộ chăn nuôi lợn nhỏ lẻ đã ngừng chăn nuôi.
- Thu nhập của hộ nông dân bị ảnh hưởng khác nhau tuỳ thuộc vào hoạt
động sản xuất của hộ. Hộ chăn nuôi quy mô lớn, hộ có nhiều hoạt động
phi nông nghiệp bị ảnh hưởng nặng hơn. Ở vùng đồng bằng sông Hồng
và miền núi phía Bắc, các hộ nông dân bị giảm thu nhập từ 10 đến 37%
1
.
2. Ngành nông nghiệp giúp Việt Nam giảm bớt ảnh hưởng của khủng
hoảng.
- Trong thời gian qua, nền kinh tế Việt Nam đã kề cận bên lề 3 cuộc khủng
hoảng vào cuối thập kỷ 80, 90 và 2000. Cả 3 lần, trong khi công nghiệp
và dịch vụ giảm tăng trưởng thì nông nghiệp vẫn giữ được đà tăng
trưởng, tạo ra việc làm và thu nhập cho đông đảo lao động nông thôn và
quan trọng nhất là đảm bảo an ninh lương thực, giảm lạm phát, bình ổn
Giá trị
ban
đầu
Thay
đổi
% so
với
ban
đầu
Thay
đổi
% so
với
ban
đầu
Thay
đổi
% so
với
ban
đầu
GDP toàn quốc
722,01
1
8,628 1.19% 4,587 0.64% 6,812 0.94%
- NLTS
165,70
7
-2
0
2
4
6
8
10
12
14
16
1986
1987
1988
1989
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
343,13
5
2,302 0.67% 2,065 0.60% 4,115 1.20%
Lao động 42,526
1,026 2.41% 234 0.55% 369 0.87%
(Đơn vị vốn : tỉ đồng, lao động : ngàn người; tính toán dựa trên SAM 2005,
Tổng cục thống kê)
Kết quả trên cho thấy : kích cầu vào ngành nông nghiệp (nông lâm thuỷ sản)
mang lại hiệu quả cao nhất nhờ ngành nông nghiệp có liên kết xuôi và liên
kết ngược mạnh nhất so với các ngành khác trong nền kinh tế, và có sự tham
gia của 70% dân số nên có mức chi tiêu rất mạnh cho các sản phẩm hàng
hoá và dịch vụ trong nước. Như vậy, xét về khía cạnh hiệu quả đầu tư cho
phát triển, đầu tư cho nông nghiệp mang lại hiệu quả rất tốt cho tăng trưởng
kinh tế, phát triển và đảm bảo công bằng xã hội.
II. Hành động của các quốc gia trong khu vực sau khủng hoảng
1. Trung Quốc :
-
Tăng lương cơ bản để tăng thu nhập cho người lao động,
o Lương thấp gây ra một loạt các vụ tự sát của các công nhân tại nhà
máy Foxconn,
đình công đòi tăng lương tại nhà máy Toyota,
Honda, Foxconn (Hon Hai), KOK Machinary International,…
.
Lương thấp cũng dẫn đến suy giảm tiêu dùng, một yếu tố quan
trọng giúp tăng GDP.
o Sau khi hàng loạt các công ty nối tiếp nhau tăng lương ở Trung
Quốc.
Năm
Tỉ lệ tăng
tổng đầu tư
cho nông
nghiệp của
Trung Quốc
Tỉ lệ tăng đầu
tư cho nông
nghiệp từ
ngân sách
nhà nước của
Trung Quốc
2004
7.86
-1.23
2005
19.51
18.89
2006
9.77
7.93
đó có Việt Nam. Ngành thâm dụng lao động của Việt Nam có cơ hội phát
triển.
2. Một số nước châu Á khác
- Diễn ra cùng với quá trình suy thoái kinh tế thế giới là biến động chính trị
diễn ra ở một số quốc gia như Thái Lan, Nêpan, Srilanka, Những quốc
gia nằm trong tình trạng căng thẳng về chính trị như Apganixtan,
Pakistan, Bắc Triều Tiên, Myanmar, không có các cải thiện đáng kể về
ổn định xã hội. Tình hình này gắn chặt với sự yếu kém trong sản xuất
nông nghiệp và tình trạng bất bình đẳng giữa vùng thuận lợi với vùng
khó khăn, giữa nông thôn với đô thị. Ngay cả Trung Quốc, biến động Tân
Cương cũng là một báo động cho vấn đề này.
- Sau lần khủng hoảng về giá nông sản năm 2008 và trước tác động ngày
càng rõ rêt của biến đổi khí hậu, Nhiều nước ở châu Á, đặc biệt là khu
vực Đông Nam Á cũng tập trung chính sách ưu tiên khuyến khích phát
triển nông nghiệp, nông thôn. Nhiều nước đã tăng cường đầu tư cho sản
xuất nông nghiệp và áp dụng các chính sách trợ cấp, ít nhiều làm méo mó
thị trường nông sản và vật tư nông nghiệp, đồng thời đẩy sản lượng nông
nghiệp lên cao hơn mức hiệu quả kinh tế.
- Trước các dự báo tiêu cực về hậu quả của biến đổi khí hậu và suy giảm
tài nguyên, gần đây các nước công nghiệp đã cam kết đầu tư cao hơn để
hỗ trợ các nước nghèo trong sản xuất nông nghiệp. Một phần đáng kể
viện trợ lương thực thực phẩm trực tiếp được chuyển sang hỗ trợ sản xuất
nông nghiệp. Các nhà đầu tư nước ngoài gần đây có xu hướng ưu tiên
đầu tư cho nông nghiệp, đặc biệt là các ngành hàng có liên quan đến an
ninh lương thực, an ninh năng lượng.
III. Một số gợi ý chính sách cho Việt Nam
1. Chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài :
- Trong hoàn cảnh FDI có xu hướng rời bỏ Trung Quốc sang Việt Nam,
cần có chính sách đúng đắn để ngăn chặn tình trạng chất lượng FDI ngày
càng giảm, năng suất thấp lại gây ô nhiễm môi trường. Sớm hay muộn
2008
Tỷ trọng ĐT vào NN so
với tổng vốn đầu tư toàn
xã hội (%)
8,5 7,9 7,5 7,4 6,7 6,7
Nguồn : Tổng cục thống kê
Mặc dù Nghị quyết trung ương 7 đã cam kết tăng gấp đôi vốn đầu tư cho
nông nghiệp sau 5 năm, cho đến nay chưa diễn ra một bước chuyển đáng
kể. Cần kiên quyết tăng tỉ trọng đầu tư và thay đổi cơ cấu đầu tư hướng
vào những ngành hàng Việt Nam có lợi thế và những lĩnh vực đầu tư có
hiệu quả.
- Đẩy mạnh cải cách thể chế, cải cách hành chính song song với tăng đầu
tư để phát huy hiệu quả đồng vốn nhất là trong các lĩnh vực như nghiên
cứu khoa học, giáo dục đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, dịch vụ bảo vệ sản
xuất, dịch vụ phòng chống thiên tai, phát triển nông thôn và xoá đói giảm
nghèo.
3. Mở rộng thị trường cho ngành hàng nông sản
- Áp dụng những biện pháp cần thiết để khắc phục những khó khăn mới
xuất hiện do sự hồi phục ở các thị trường nhập khẩu truyền thông chưa
thực sự rõ nét trong giai đoạn sau khủng hoàng; chất lượng các mặt hàng
nông sản yếu kém; xu hướng siết chặt nhập khẩu bằng việc dựng lên các
hàng rào kỹ thuật khe khắt.
- Xây dựng hệ thống phân phối, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, củng
cố hàng rào kỹ thuật với hàng nhập khẩu nhất là nhập khẩu biên mậu để
phát triển thị trường trong nước.
4. Triển khai hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia phát triển nông thôn
mới
- Ngăn ngừa quan điểm chương trình mục tiêu quốc gia là dự án đầu tư