Mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam hậu khủng hoảng 2008 - Pdf 12


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

CÔNG TRÌNH DỰ THI
GIẢI THƢỞNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
“NHÀ KINH TẾ TRẺ – NĂM 2012”
TÊN CÔNG TRÌNH:
MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH
TẾ VIỆT NAM HẬU KHỦNG HOẢNG 2008

THUỘC NHÓM NGÀNH: KHOA HỌC KINH TẾ

ii
MỤC LỤC
1. Lời mở đầu 1
2. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trƣớc đây 3
2.1 Những nhân tố nào dẫn dắt các dòng FDI đến với các nƣớc thu nhập thấp? 3
2.2 Tác động của FDI lên tăng trƣởng kinh tế 6
3. Phƣơng pháp luận 12
3.1 Những nhân tố nào dẫn dắt các dòng FDI đến với Việt Nam? 12
3.1.1 Mô hình: 12
3.1.2 Phương pháp lấy số liệu: 14
3.1.2.1 Phương pháp đo lường sản lượng tiềm năng: 15
3.2.1.2 Phương pháp lấy số liệu về chỉ số rủi ro quốc gia 22
3.2 FDI và tác động tăng trƣởng 24
3.2.1 Mô hình 24
3.2.1.1 Tác động FDI ở VN 25
3.2.1.2 Tác động của ngưỡng (Threshold Effects) 26
3.2.1.3 Mô hình Var: 28
3.2.2 Phương pháp lấy số liệu: 28

GDP Tổng sản phẩm quốc gia
GMM Generalized Method of Moment System Estimation
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
ICRG Chỉ số đo lường rủi ro quốc gia
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế thế giới
OLS Phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất
WB Ngân hàng thế giới
VAR Mô hình tự hồi quy vecto
VECM Mô hình tự hiệu chỉnh sai số vecto

DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: GDP tiềm năng của tất cả các nước cần khảo sát 19
Bảng 3.2: Bảng mô tả biến 29
Bảng 4.1: Bảng kết quả hồi quy 1 30
Bảng 4.2: Kết quả kiểm định B-G 32
Bảng 4.3: Hệ số thống kê theo tiêu chuẩn ADF 33
Bảng 4.4: Bảng sai phân các biến ngẫu nhiên 33
Bảng 4.5: Bảng kết quả kiểm tra đồng liên kết của các biến 34
Bảng 4.6 : Kết quả mô hình VECM với các hệ số của biến nội sinh 37
Bảng 4.7 : Hiệu chỉnh phần dư trong mô hình VECM 38
Bảng 4.8: Sai phân cho các biến 41
Bảng 4.9: Kết quả kiểm định Granger 43
Bảng 4.10: Kết quả mô hình VECM với hệ số của các biến nội sinh và hiệu chỉnh phần
dư của mô hình. 44
Bảng 4.11: Kết quả của mô hình VECM khi xem xét tác động của suy thoái 46
Bảng 4.12: Hiệu chỉnh sai số của mô hình VECM 47
Bảng 4.13: Kết quả kiểm định tính dừng bằng kiểm định nghiệm đơn vị (unit root test)

viii
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu với mục tiêu nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ giữa FDI và tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam, trước và sau khủng hoảng, xoay quanh hai vấn đề chính
yếu, một là những yếu tố nào có vai trò trong việc định hướng dòng FDI vào Việt Nam,
hai là FDI có tác động ra sao lên tăng trưởng Việt Nam để từ đó có thể rút ra các biện
pháp thu hút vốn FDI hiệu quả cũng như làm cho FDI có tác động tích cực lên tăng
trường kinh tế. Bài nghiên cứu đạt được một số kết quả đáng chú ý.
Với câu hỏi, yếu tố nào tác động lên dòng vào FDI của Việt Nam, bằng phương
pháp nghiên cứu được hỗ trợ bởi mô hình hồi qui OLS đã cho kết quả đi từ đúng như
dự đoán như ảnh hưởng của GDP nước đi đầu tư lên FDI là tích cực cho đến những kết
quả bất ngờ rằng dòng vào FDI của Việt Nam đi ngược với GDP của chính nước mình
hay lãi suất thực RIR của nước đi đầu tư tăng lại có tương quan dương với FDI vào
Việt Nam. Khi sử dụng mô hình VECM để kiểm tra tác động của suy thoái lên chiều
quan hệ này, một điều thú vị mà tôi tìm được phải kể đến kết quả rằng “khi suy thoái,
dòng vốn FDI chảy vào Việt Nam nhiều hơn so với khi không suy thoái”. Đồng thời
khi kiểm định thực nghiệm chiều ngược lại của mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng
kinh tế Việt Nam, khi mà tăng trưởng đóng vai trò là một biến phụ thuộc, sử dụng mô

USD. Lý giải cho sự sụt giảm vốn đăng ký năm vừa qua, một phần do ảnh hưởng của
suy thoái kinh tế thế giới. Hòa vào xu hướng chung của dòng FDI nói chung, và dòng
FDI vào các nước thu nhập thấp nói riêng, có thể thấy được FDI vào Việt Nam đã giảm
sút. Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng của Việt Nam, nhất là trong thời
kì hậu suy thoái còn nhiều khó khăn này hay không? Dựa vào các nghiên cứu trên Thế

2
giới về vấn đề này, tôi thực hiện bài nghiên cứu nhằm tìm kiếm câu trả lời cho hai vấn
đề lớn như đã trình bày ở phần tóm tắt. Trên cơ sở đó, bài nghiên cứu sẽ chia thành
năm phần chính.
Mở đầu bài nghiên cứu, tôi sẽ trình bày một cách ngắn gọn mục tiêu nghiên cứu
và những kết quả đạt được như trên. Nội chung nghiên cứu chính, tức là các phần trình
bày sẽ được tóm tắt trong phần giới thiệu, cũng như vấn đề tại sao phải nghiên cứu đề
tài đó. Phần thứ hai là phần trình bày các nghiên cứu và các kết quả đã đạt được trước
đây. Đây là bài nghiên cứu mối quan hệ có tính hai chiều, một chiều FDI là biến phụ
thuộc, trong các biến độc lập có biến tăng trưởng của nước phát triển – nước đi đầu tư
và cả nước chủ nhà – Việt Nam; chiều còn lại tăng trưởng của Việt Nam sẽ là biến phụ
thuộc và FDI là một trong những biến độc lập bên. Vì thế, phần trình bày các nghiên
cứu trước đây, nhóm chia làm hai phần riêng biệt mỗi vấn đề. Phương pháp nghiên cứu
và nội dung, kết quả được trình bày trong phần ba và phần bốn, trả lời cho hai câu hỏi
lớn đã đặt ra ở phần giới thiệu sẽ có riêng hai phương pháp nghiên cứu khác nhau. Tuy
nhiên đều sử dụng hai mô hình hồi quy đã từng được các tác giả Era Dabla-Norris,
Jiro Honda, Amina Lahreche, và Geneviève Verdier sử dụng trong bài nghiên cứu
“FDI-flow to low income countries: Global driver and Growth Implication” Working
paper/10/132, năm 2010. Phần kết luận, thảo luận, kiến nghị của nhóm nằm trong phần
cuối cùng của bài nghiên cứu.
3

Reinhart and Reinhart (2008) cho rằng những yếu bên ngoài có một thành phần chu
kỳ quan trọng ảnh hưởng đến FDI thông qua các kênh khác nhau. Sự tăng trưởng kinh
tế ở các nước phát triển có thể tác động đến FDI thông qua tác động thu nhập (income
effect) và tác động thay thế (subsitution effect). Cụ thể như sau, trong thời kỳ suy thoái,
khi mà thu nhập ở các nước phát triển giảm làm cho mức độ đầu tư ở trong cũng như
ngoài nước cũng giảm xuống theo, kết quả là vốn FDI thuận chu kỳ. Nhưng tác động
thay thế thì có xu hướng ngược lại, nếu như công ty phân phối nguồn vốn của mình
dựa trên tỷ suất lợi nhuận, suy thoái ở các nước phát triển sẽ hiển nhiên dẫn đến tăng
khả năng sinh lợi cũng như mức độ thu hút của đồng vốn khi đầu tư ra bên ngoài nhiều
hơn so với đầu tư trong nước, đây được gọi là dòng vốn FDI phản chu kỳ. Quan điểm
này cũng nhận được sự đồng tình của Calvo et al. (2003)
Sự di chuyển thuận chu kỳ lãi suất ở các nước phát triển tác động đến việc tài
trợ bằng nguồn vốn FDI. Phần lớn nguồn vốn FDI được huy động chủ yếu ở thị trường
tài chính thế giới, do đó chi phí huy động vốn rất nhạy cảm đối với sự thay đổi trong tỷ
lệ lãi suất này. World Bank (2010)với một bài nghiên cứu gần đây cho giai đoạn 2003-
2007 đã nhận thấy rằng khi lãi suất trên toàn cầu giảm xuống sẽ dẫn tới hệ quả là chi
phí đi vay thấp hơn, điều này đóng góp không nhỏ cho việc tăng thêm 70% nguồn vốn
chảy vào các nước đang phát triển, đặc biết là nguồn vốn FDI.
Bằng cách sử dụng tổng hợp dòng vốn FDI và chu kỳ kinh tế của Mỹ đại diện
cho chu kỳ của tất cả các nước đi đầu tư, Reinhart and Reinhart (2001) và Calvo et
al. (2001) dòng vốn FDI trung bình vào những nước đang phát triển (đặc biệt vùng Mỹ
Latin và Caribbean) thường cao hơn khi nền kinh tế tăng trưởng và chính sách tiền tệ
mở rộng.
Levy, Yeyati, Ugo Panizza (2007) đã nghiên cứu tác động của chu kỳ kinh tế
(business cycle) và lãi suất (rate of return) ở những nước phát triển (đặc biệt là các
nước trong khối OECD) ảnh hưởng như thế nào đến dòng FDI vào các nước đang phát
triển. Sau khi tổng hợp các dòng FDI từ 3 nguồn lớn (Mỹ, châu Âu và Nhật Bản), bài

5
nghiên cứu chỉ ra rằng dòng FDI có xu hướng ngược chiều đối với “output” và chu kỳ

Phân tích dài dòng như vậy, nhưng mục đích chính của bài nghiên cứu của Levy,
Yeyati, Ugo Panizza (2007) chính là xoáy sâu vào bản chất chu kỳ của nguồn vốn FDI,
do đó tác giả sử dụng mô hình trọng lực chuẩn có điều chỉnh. Cụ thể hơn, tác giả sử
dụng logarit tuyến tính của GDP xu hướng (log-linear trend GDP) (đại diện cho mức
GDP bền vững) thay vì sử dụng số liệu GDP từng năm ở các nước đi đầu tư, để làm nổi
bật tác động của việc mở rộng hay suy thoái của những nước này lên dòng chảy FDI.
Tóm lại, các bài nghiên cứu trên đây đã đánh giá vai trò quan trọng của các yếu
tố bên ngoài – yếu tố đẩy trong việc phân phối nguồn vốn FDI vào các nước đang phát
triển. Nói chung, thường không như mọi người nghĩ,hầu hết các bài nghiên cứu đặc
biệt là bài nghiêu cứu của Levy, Yeyati, Ugo Panizza (2007) kết luận rằng suy thoái ở
những nước công nghiệp chính là cơ hội tốt cho dòng vốn FDI chảy vào các nước kém
phát triển để tìm kiếm cơ hội arbitrage, và thường chính là những nước có mối quan hệ
mật thiết với khối EU và nền kinh tế lớn nhất thế giới – Mỹ.
2.2 Tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế
Như đã nói, dòng ra FDI đến các nước thu nhập thấp đã thu hẹp lại suốt cuộc
suy thoái ở các nước phát triển và nhạy cảm với lãi suất. Cuộc suy thoái toàn cầu hiện
tại có mối quan hệ mật thiết nào không và hậu quả của nó cho viễn cảnh phát triển
trung hạn của các nước thu nhập thấp trong đó có Việt Nam (dưới mức trung bình) như
thế nào? FDI được mong chờ sẽ sản sinh nhiều lợi ích phát triển đáng kể bởi vì, thêm
vào làm tăng đầu tư, nó sẽ có một tác động tích cực lên năng suất thông qua chuyển
giao công nghệ và chuyên gia quản trị. Vì thế, một sự đảo ngược FDI sẽ tác động bất
lợi lên đà phát triển đã đạt được suốt 1 thập kỉ qua của các nước thu nhâp thấp.
Về lý thuyết, FDI được trông chờ sẽ đem lại những lợi ích phát triển trực tiếp và
gián tiếp tiềm năng cho các nước đang phát triển, và đặc biệt cho các nước có thu nhập
thấp. Lợi ích trực tiếp từ những tranh luận tân cổ điển tiêu chuẩn nói rằng FDI có thể
chảy từ các nền kinh tế giàu vốn đến các nền kinh tế nghèo nàn nguồn vốn với mức cao
tương đối của thu nhập trên vốn. Những dòng này có thể bổ sung nguồn tiết kiệm nội
địa có hạn trong các nền kinh tế nghèo nàn nguồn vốn và bằng cách giảm chi phí vốn,

7

đồng biến trong giai đoạn “khuyến khích xuất khẩu”.
Tuy nhiên, như đã nói, kết quả nghiên cứu là có nhiều đối nghịch. Nếu như
Chakraborty và Basu (2002) tranh luận rằng mối quan hệ là tích cực thì cũng với mẫu
nghiên cứu là Ấn Độ, Agrawal (2005) sử dụng dữ liệu gộp của 5 nước Nam Á trong đó
có Ấn Độ từ 1965-1996 cho thấy hệ số tương quan của FDI với GDP âm, mặc dù
không có ý nghĩa. Tương tự, Pradhan (2002) sử dụng hàm Cobb-Douglas với FDI là
biến đầu vào và cho ra kết luận rằng hệ số tương quan không có ý nghĩa trong thời kì
1969-1997. Trong khi đó, Bhat (2004) dùng kiểm định nhân quả Granger và Dickey-
Fuller thì lại cho rằng không có mối quan hệ nhân quả hai hướng này. Với Archanun
Kohpaiboon, ông cũng tranh luận rằng: ngược lại với giai đoạn “khuyến khích xuất
khẩu”, giai đoạn “thay thế nhập khẩu” của Thai Lan, tác động này mang dấu âm. Theo
ước tính của tác giả, trung bình mỗi năm tác động âm này chiếm đến 4% trong suốt giai
đoạn nghiên cứu từ 1970 đến 1996. Ủng hộ cho quan điểm này, Hanson (2001)đã
tranh luận rằng việc FDI sản sinh ra những hiệu ứng lan tỏa tích cực là yếu, còn tác giả
Grog và Greenwood(2002) đã kết luận rằng tác động của FDI lên tăng trưởng hầu như
là tiêu cực. Đóng góp khá nhiều vào các tranh luận xoay quanh mối quan hệ tích cực
hay tiêu cực của FDI lên tăng phải kể đến bài nghiên cứu của tác giả Alfano (2003),
đây là một phân tích thực nghiệm sử dụng dữ liệu các nước giai đoạn 1981-1999 nói
rằng FDI có tác động rất khác nhau lên sự tăng trưởng. Dòng FDI chảy vào khu vực
khai khoáng dẫn đến một tác động tiêu cực lên tăng trưởng, nơi FDI vào khu vực sản
xuất lại cho thấy một tác động tích cực và khu vực dịch vụ thì cho ra một tác động mơ
hồ, không rõ ràng. Mặc dù bị giới hạn về dữ liệu sử dụng, các kết quả của ông khá
vững chắc đối với các yếu tố quyết định khác của sự tăng trưởng, như là thu nhập, vốn
con người, phát triền tài chính nội địa, chất lượng định chế nhà nước hay độ trễ của
FDI. Tương đồng với ý kiến của Alfano, Chandana và Peter Nunnenkamp (2006)
cũng cho thấy các tác động khác nhau của FDI lên tăng trưởng sau khi nghiên cứu
trường hợp của Ấn Độ, sử dụng kiểm định nhân quả Granger với khung làm việc đồng
liên kết. Ông cho thấy rằng FDI và sản lượng đầu ra tương tác mạnh mẽ trong lĩnh vực

9

chính vượt một mức ngưỡng nào đó. Không thì lợi ích của FDI là không tồn tại. Phát
hiện này nhấn mạnh tầm quan trọng của chính phủ trong việc xây dựng chính sách.
Chính sách hướng về thu hút FDI nên đi tay trong tay, không trước chính
sách nhằm thúc đẩy phát triển thị trường tài chính.
 Chất lượng của định chế nhà nước: việc bảo hộ quyền sở hữu yếu kém ở các
nước nghèo ngụ ý rằng đầu tư nước ngoài có thể không trực tiếp vào các dự án ấp ủ
vốn lâu, hay tỉ suất sinh lợi ban đầu thấp mà những dòng đầu tư như vậy có thể hữu ích
đối với các nước gặp khó khăn về tài chính (Rajan and Zingales, 1998). Chất lượng cơ
quan nhà nước kém có thể giới hạn tác động qua lại giữa các công ty nước ngoài và
trong nước trong việc thuê mướn lao động. Do đó làm giảm tác động gián tiếp của FDI
(Antras, 2003). Norris, Honda, Amina và Verdier (2010) cũng đồng tình với mối quan
hệ này giữa FDI và chất lượng định chế nhà nước.
 Các khu vực của dòng vào: lơi ích hiệu ứng lan tỏa tiềm năng của FDI có thể
khác nhau rõ rệt thông qua khu vực sản xuất và dịch vụ (Alfaro and Charlton, 2007).
FDI trong lĩnh vực khai khoáng có thể có những đóng góp rất giới hạn cho tăng trưởng
bởi vì nó liên quan đến các dự án lớn và hầu như không sử dụng các sản phẩm được
sản xuất hay lao động nội địa.
 Sự mở cửa thương mại: mức độ càng cao của sự mở cửa thương mại và định
hướng xuất khẩu của nền kinh tế có thể làm dễ dàng hơn cho sự chuyển giao các kĩ
năng quản trị, thông qua FDI, làm sôi động hơn thị trường đầu tư nội địa (
Balasubramanyam, 1996). Tuy nhiên, cũng có bài nghiên cứu không tìm ra bằng
chứng đo lường sự khác nhau trong tác động phát triển giữa các nước “trên” hay
“dưới” của mức độ độ mở thương mại và cho rằng đây là một biến đại diện kém hiệu
quả (Norris, Honda, Amina và Verdier 2010).
 Nguồn vốn để lại: công nghệ và các hiệu ứng lan tỏa năng suất khác liên quan
đến FDI chỉ có thể chuyển hóa vào tăng trưởng kinh tế khi mà nước chủ nhà có mức độ

11
vốn con người (human capital) (Borensztein et al, 1998) hay cơ sở hạ tầng vật chất
(Kinda, 2007) thấp.

Mang một ý nghĩa quan trọng cho các quốc gia muốn hấp thu FDI hiệu quả bằng cách
cải thiện các yếu tố quyết định, ví như sự phát triển thị trường tài chính chẳng hạn.
Trên cơ sở đó, tôi định hướng nghiên cứu vấn đề này theo hướng đi của các tác
giả Norris, Honda, Amina và Verdier (2010), vì hai lí do chính. Thứ nhất, các bài
nghiên cứu đều đã xác nhận hướng tiếp cận này có nhiều thành công hơn. Thứ hai, điều
này phù hợp với bối cảnh Việt Nam hiện nay, khi mà chúng ta có khá nhiều yếu tố
quyết định cần cải thiện để hấp thu FDI tốt nhất theo quan điểm đạt được mức “trên”
ngưỡng hay không? Từ đây, câu hỏi nghiên cứu của bài được hình thành, xoay quanh
hai vấn đề lớn về mối quan hệ giữa dòng vào FDI và tăng trưởng kinh tế Việt Nam.
3. PHƢƠNG PHÁP LUẬN
3.1 Những nhân tố nào dẫn dắt các dòng FDI đến với Việt Nam?
3.1.1 Mô hình:
Mô hình đo lường tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút nguồn
vốn FDI cũng gần tương tự như mô hình của Levy-Yeyati et al (2007) mà tôi đã đề cập
ở trên:
Trong đó:
FDI
ijt
là FDI song phương của các nước đi đầu tư và Việt Nam
GDP
i
và GDP
j
lần lượt là GDP của nước đi đầu tư (source countries) và Việt
Nam (host countries), chỉ tiêu GDP này đại diện cho độ lớn thị trường của quốc gia đó.
TRADE là tổng giá trị giao dịch thương mai song phương giữa nước đi đầu tư
và Việt Nam

13
OUTPUT đo lường những hoạt động kinh tế của nước phát triển. Chỉ tiêu này

ưu điểm nổi trội của VECM hơn VAR là có thể được sử dụng để xác định mối quan hệ
cân bằng trong dài hạn, do đó có thể đưa ra các dự báo và khuyến nghị, chính sách.
Tuy nhiên để sử dụng mô hình thì tôi cần phải xử lý số liệu theo từng bước sau:
1. Các biến theo chuỗi thời gian là dừng, nếu không dừng thì tôi sẽ lấy sai
phân, trong trường hợp các biến dừng tại các bậc sai phân khác nhau thì tôi
sẽ lấy bậc sai phân cao nhất.
2. Việc hồi quy các chuỗi thời gian không dừng có thể dẫn đến hồi quy giả
mạo, tuy nhiên Engle và Granger (1987) cho rằng nếu kết hợp tuyến tính
của các chuỗi thời gian không dừng có thể là một chuỗi dừng và các chuỗi
thời gian không dừng đó được cho là đồng liên kết. Kết hợp tuyến tính dừng
được gọi là phương trình đồng liên kết và có thể giải thích như mối quan hệ
cân bằng dài hạn giữa các biến. Và nếu như mô hình là đồng liên kết thì sẽ
không xảy ra trường hợp hồi quy giả mạo, và khi đó các kiểm định dựa trên
tiêu chuẩn t và F vẫn có ý nghĩa.
3. Mối quan hệ nhân quả Granger :
Mục đích của kiểm định này là tìm kiếm mối quan hệ giữa các biến nội sinh
với nhau để xem mối quan hệ nào là có ý nghĩa.
3.1.2 Phƣơng pháp lấy số liệu:
Số liệu về GDP, FDI, GROWTH, RIR của nước đi đầu tư và Việt Nam được lấy
trên nguồn của website ngân hàng thế giới.
TRADE – giá trị giao dịch thương mại song phương giữa Việt Nam và các nước
được lấy từ trang chủ của Tổng Cục Thống Kê Việt Nam.

15
Số liệu về OUTPUT GAP hầu như là không có trên các nguồn ở Việt Nam cũng
như trên website của các tổ chức kinh tế lớn trên thế giới. Do đó trong trường hợp này
tôi sẽ tự tính toán dựa trên các phương pháp tham khảo được của các nhà kinh tế ở các
bài nghiên cứu khác, mà tôi sẽ đề cập ở phần sau. Trước tiên, tôi sẽ định nghĩa về
khoảng cách sản lượng hay còn gọi là OUTPUT GAP:
OUTPUT GAP được định nghĩa là chênh lệch giữa sản lượng thực tế và sản

K là lượng tư bản
L là lực lượng lao động
a là tỷ trọng đầu tư vào lượng tư bản, phần còn lại 1-a là tỷ trọng đầu tư vào
lực lượng lao động.
CBO tính toán nhân tố xu hướng và loại bỏ đi nhân tố mang tính chu kỳ bằng
cách sử dụng định luật Okuns, dựa trên mối quan hệ giữa chênh lệch trong sản lượng
và chênh lệch trong tỷ lệ thất nghiệp: khi sản lượng thực tế thấp hơn sản lượng tiềm
năng 2% thì tỷ lệ thất nghiệp tăng 1%. Vì vậy để tính được GDP tiềm năng, CBO cần
những số liệu sau: tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, tỷ lệ thất nghiệp thực tế và GDP danh
nghĩa của nền kinh tế.
Để đo lường tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, CBO sử dụng chỉ số NAIRU là tỷ lệ thất
nghiệp mà tại đó thị trường lao động ở trạng thái cân bằng và không có áp lực tăng hay
giảm tỷ lệ lạm phát. Nói một cách khoa học hơn, tỷ lệ NAIRU này được xem là tỷ lệ
thất nghiệp không làm gia tăng lạm phát. Tỷ lệ này có thể được tính toán dựa trên
đường hiển thị mối quan hệ giữa lạm phát và tỷ lệ thất nghiệp – đường cong Phillips.
Bằng cách lấy chênh lệch giữa tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên và tỷ lệ thất nghiệp thực tế, áp
dụng định luật Okun để tìm ra độ chênh lệch output gap và công việc cuối cùng chính
là áp dụng những công thức toán đơn giản để tìm ra GDP tiềm năng.
3.1.2.1.2 Mô hình chuỗi thời gian đa biến
Phương pháp này sử dụng việc đo lường bằng thống kê được biết đến như là mô
hình tự hồi quy vector (VARs). Những biến số như sản lượng (output), tỷ lệ việc làm
(employment), khả năng sản xuất hiệu quả (productivity) và lạm phát (inflation) sẽ
được tính toán bằng các phương pháp thống kê.

17
3.1.2.1.3 Đo lường GDP tiềm năng bằng cách sử dụng bộ lọc Hodrick-Prescott
(2004)
Giới thiệu về bộ lọc Hodrick - Prescott:
Bộ lọc này lần đầu tiên được sử dụng bởi hai nhà kinh tế học Robert J.Hodrick
và Edward C.Prescott, cả hai đã đạt được trao giải Nobel kinh tế năm 2004 cho sự đóng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status