ĐÁNH GIÁ MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI VÀ XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT
NAM
I. Tổng quan về hoạt động xuất nhập khẩu và FDI vào Việt Nam giai
đoạn từ 1988 đến nay
1. Tổng quan về hoạt động xuất nhập khẩu
1.1. Kim ngạch xuất nhập khẩu và tình hình cán cân thương mại
Đến nay, sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã có một vị thế mới trong bảng
xếp hạng kinh tế thế giới. Từ một nước phải phụ thuộc vào viện trợ và nhập khẩu hàng
triệu tấn lương thực mỗi năm, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế
giới, đứng thứ nhất về xuất khẩu hạt tiêu, thứ hai về cà phê, hạt điều và thứ tư về cao
su…
Về xuất khẩu, theo tính toán từ số liệu của Tổng cục Thống Kê, tốc độ tăng
xuất khẩu trung bình của Việt Nam trong suốt giai đoạn 1988-2008 đạt 28,2% một năm.
Tỉ lệ kim ngạch xuất khẩu trên GDP tăng từ 30,8% năm 1990 lên 67% năm 2007 và giá
trị xuất khẩu bình quân theo đầu người của Việt Nam cũng tăng từ 36,5 USD lên 557
USD năm 2007. Năm 1998 và 2001 đà tăng trưởng xuất khẩu giảm sút (dưới 4%), tuy
nhiên phục hồi ngay trong năm tiếp theo. Tuy nhiên do ảnh hưởng của khủng hoảng
kinh tế, năm 2008, mức tăng trưởng xuất khẩu đạt 28,8%. Năm 2009 tiếp tục chịu tác
động của khủng hoảng, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 56,6 tỉ USD, giảm 9,7% so với
năm 2008. Dù mức giảm này thấp hơn nhiều so với các nước đang phát triển khác
nhưng theo Ngân Hàng Thế Giới, đây là lần đầu tiên kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam giảm kể từ khi công cuộc đổi mới chính thức được thực hiện.
Tổng kim ngạch xuất khẩu Quý I/2010 ước đạt 14,01 tỷ USD, giảm 1,6% so
với cùng kỳ năm 2009; trong đó kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài (không kể dầu thô) ước đạt 6,68 tỷ USD, tăng 40,5%. Riêng yếu tố tăng
giá làm tăng kim ngạch xuất khẩu khoảng 1 tỷ USD. Nếu loại trừ yếu tố tăng đột biến
xuất khẩu vàng Quý I/2009, kim ngạch xuất khẩu 3 tháng đầu năm 2010 tăng khoảng
11,9% so với cùng kỳ năm 2009.
Về nhập khẩu, cùng trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng nhập khẩu trung
bình ở mức cao, khoảng 28,1% một năm. Nguyên nhân chủ yếu là vì Việt Nam đang ở
trong thời kì tích lũy vốn, thu hút đầu tư trong và ngoài nước khiến nhu cầu nhập khẩu
thế giới, như dầu thô, may mặc, giầy dép, thủy sản, gạo, cà phê và đồ gỗ... Đến nay,
trong danh mục hàng xuất khẩu của Việt Nam đã có tới 12 mặt hàng có doanh thu từ
xuất đạt trên 1 tỉ USD.
Trước hết ta xét sự chuyển biến về cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam trong
giai đoạn 1988 đến nay. Nếu phân loại nhóm hàng theo ngành bao gồm 3 nhóm chính:
(1) hàng công nghiệp nặng và khoáng sản; (2) hàng công nghiệp nhẹ và thủ công
nghiệp; (3) hàng nông-lâm-thủy sản, số liệu thống kê của Bộ Công Thương cho thấy có
sự chuyển dịch khá rõ nét về cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam từ 1988 đến nay,
nhất là giữa 2 nhóm hàng (2) và (3). Tỷ trọng nhóm hàng nông - lâm - thủy sản đã giảm
từ 52,2% năm 1990 xuống còn khoảng 22,5% năm 2006, có xu hướng giảm đều qua các
năm, năm 2009 còn 21,5% . Tỷ trọng xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp và thủ công
nghiệp tuy không tăng đều qua các năm song nhìn chung có xu hướng tăng, năm 1990,
tỉ trọng của nhóm hàng này là 28,4 %, năm 2009 đã lên tới 51,9%. Tỷ trọng nhóm (1)
hàng công nghiệp nặng và khoáng sản dao động không ổn định, không thể hiện xu
hướng tăng giảm rõ nét. Xét tỉ trọng trung bình của nhóm này giai đoạn 1988-2000
khoảng 28%, giai đoạn 2001-2007 là 35%, năm 2008 giảm còn 30,6% và năm 2009
tăng lên 34,5%. (Theo số liệu của Bộ Công Thương)
Số liệu trên cho thấy cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam đang có sự chuyển
dịch tích cực, phù hợp với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, cơ cấu
này còn nhiều hạn chế, thể hiện ở cả ba phương diện: 1) Chủng loại hàng hoá còn đơn
điệu, chưa tích cực phát triển những mặt hàng xuất khẩu mới có đóng góp kim ngạch
cao; 2) Quá trình chuyển dịch cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng công nghiệp hoá
diễn ra còn chậm; 3) Các mặt hàng có giá trị gia tăng còn thấp. Thực tế, xuất khẩu của
chúng ta chủ yếu vẫn phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, như khoáng sản (dầu thô,
than đá), nông, lâm, thủy, hải sản... Các mặt hàng công nghiệp như dệt may, giầy da,
điện tử và linh kiện máy tính... thì lại mang tính chất gia công là chính.
Với cơ cấu xuất khẩu này, Việt Nam đang phải chấp nhận thực trạng xuất khẩu
có hiệu quả kinh tế thấp và nguy cơ thị trường bị thu hẹp do một số nguyên nhân. Thứ
nhất, tính co giãn về thu nhập bình quân đầu người của cầu đối với những sản phẩm
nông sản thực phẩm và nguyên liệu là thấp hơn so với hàng công nghiệp chế biến và
dùng để ăn trừ
nhiên liệu
370,5 384,0 412,6 516,5 631,3 810,9 1229,1 1845,3
Nhiên liệu, dầu mỡ
nhờn và vật liệu
liên quan
1212,6 3824,7 3468,5 3567,8 4151,1 6233,2 8358,0 9709,0
Dầu, mỡ, chất béo,
sáp động thực vật
13,8 71,8 31,6 12,5 23,0 38,4 17,9 19,4
Hàng chế biến, đã
tinh chế
1784,8 6397,5 7019,5 8414,6 10747,8 13927,6 16341,0 20592,0
Hóa chất và sản
phẩm liên quan
30,9 158,5 222,3 262,2 339,9 421,3 536,0 791,9
Hàng chế biến
phân loại theo
nguyên liệu
349,8 911,1 989,7 1124,9 1354,8 1889,6 2165,4 2926,3
Máy móc phương
tiện vận tỉa và phụ
tùng
89,4 1276,0 1399,0 1336,9 1792,8 2562,1 3145,1 4194,7
Hàng chế biến
khác
1314,7 4051,9 4408,2 5690,6 7260,3 9054,6 10494,6
12679,
1
Hàng không thuộc
có ảnh hưởng chi phối đến phần giá trị gia tăng của các nhà sản xuất và xuất khẩu, thị
phần hoặc thậm chí ảnh hưởng đến việc được tham gia hoặc bị loại khỏi chuỗi thì hàng
hoá xuất khẩu của chúng ta hiện nay chưa vươn ra được.
Trong điều kiện lợi thế về các yếu tố tự nhiên và lao động rẻ đang ngày càng
giảm dần và mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, sự chậm thay đổi cơ cấu hàng xuất
khẩu theo hướng nâng dần tỷ trọng hàng công nghệ cao sử dụng nhiều vốn là một hạn
chế lớn đối với tăng trưởng xuất khẩu của nước ta. Trong dài hạn, sự chậm trễ này sẽ
làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, giảm sức cạnh tranh và mức độ cải thiện cán cân
thương mại.
Theo đánh giá của các chuyên gia, đằng sau những con số thể hiện sự tăng tr-
ưởng trung bình khá ấn tượng của xuất khẩu, có thể nhận thấy rằng, xuất khẩu của Việt
Nam trong hai thập kỷ vừa qua vẫn chưa có những sự thay đổi về chất, chưa khai thác
lợi thế về công nghệ và vốn của quá trình tự do hoá thương mại thế giới. Sự chuyển
dịch cơ cấu xuất khẩu, nhìn chung, chưa thật bền vững, còn chứa đựng nhiều yếu tố rủi
ro. Cơ cấu xuất khẩu là một trong những hạn chế lớn nhất của nền kinh tế. Nếu không
tăng nhanh tỷ trọng các mặt hàng chế biến, xét về dài hạn, hoạt động xuất khẩu của Việt
Nam sẽ khó duy trì đà tăng trưởng cao như hiện nay.
b. Cơ cấu hàng nhập khẩu
Theo thống kê của bộ Công Thương, nếu xét cơ cấu hàng nhập khẩu gồm 2
nhóm chính: (1) tư liệu sản xuất; (2) hàng tiêu dùng, hoạt động nhập khẩu ở Việt Nam
giai đoạn năm từ 1988 đến nay có xu hướng giảm dần tỉ trọng nhóm hàng tiêu dùng và
tăng dần tỉ trọng tư liệu sản xuất. Năm 1995, tỉ trọng hàng tư liệu sản xuất chiếm
84,8%, mức tăng tỉ trọng nhóm tư liệu sản xuất khá ổn định qua các năm, năm 2008
chiếm 93,6%. Nhóm hàng tiêu dùng giảm dần tỉ trọng trong tổng kim ngạch nhập khẩu,
từ 15,2% năm 1995 xuống còn 6,4% năm 2008. Đây là một hướng chuyển biến tích
cực. Nếu nhìn sâu hơn vào cơ cấu của nhóm hàng tư liệu sản xuất để xét sự chuyển dịch
về tỉ trọng của 2 nhóm: (a) máy móc, thiết bị, dụng cụ và (b) gồm nguyên, nhiên, vật
liệu có thể thấy điểm hạn chế trong cơ cấu hàng nhập khẩu của nước ta. Năm 1995, tỉ
trọng hàng máy móc thiết bị nhập khẩu chiếm 25,7% tổng kim ngạch nhập khẩu, tăng
lên trên 30 % vào các năm 1997-2003, và dao động trong khoảng từ 26%-29% từ 2005
trọng lớn nhất là 77,8% kim ngạch nhập khẩu cả nước trong đó, tỉ trọng nhập khẩu từ
ASEAN chiếm hơn 19,8%, các nước Đông Á chiếm 53,9%, riêng Trung Quốc chiếm
hơn 23,2%.
Theo nghiên cứu tổng hợp của www.business-in-asia.com về thương mại Việt
Nam, trong số hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ có quan hệ thương mại với Việt Nam,
cán cân xuất nhập khẩu của Việt Nam luôn trong trạng thái thặng dư với 159 nước, bao
gồm Mĩ, Úc, Anh, Phillipines, Đức... trong khi luôn ở trạng thái thâm hụt với 47 quốc
gia và vùng lãnh thổ khác, bao gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, Thái
Lan, Hongkong, Đài Loan, Thụy Sĩ, Ấn Độ...
1.4. Cơ cấu xuất nhập khẩu theo khu vực kinh tế
a. Xuất khẩu
Xét về giá trị xuất khẩu, năm 1995, giá trị xuất khẩu của khu vực kinh tế trong
nước đạt 3,97 tỉ USD, năm 2008 đạt 28 tỉ USD, tăng 7 lần sau 13 năm. Theo tính toán
dựa trên số liệu thống kê của Bộ Công Thương, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của khu
vực kinh tế trong nước không đều qua các năm. Năm 1996, 1997 tăng trưởng nhanh ở
mức 28% và 17%, năm 1998 chỉ tăng 3%. Năm 2000, 2001 tăng trở lại ở mức 12%, duy
trì mức tăng 7% trong năm 2002, 2003. Giai đoạn từ 2004 trở lại đây mức tăng nhanh
dần và đều qua các năm, năm 2008, giá trị xuất khẩu của khu vực này tăng tới 35,5% so
với năm 2007.
Năm 1995, giá trị xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ đạt
khoảng 1,47 tỉ USD nhưng đến 2008, sau 13 năm, con số này đã lên tới 34,5 tỉ USD,
tương đương mức tăng tới 23,5 lần. Giai đoạn 1995-2000 mức tăng giá trị xuất khẩu
của khu vực này qua từng năm rất cao, mỗi năm đều tăng trên 45%, duy nhất năm 1998
giá trị xuất khẩu không tăng so với năm trước. Năm 2001, giá trị xuất khẩu của khu
vực này giảm 2% so với năm 2000, nhưng lấy lại đà tăng 43% vào năm 2004. Năm năm
trở lại đây, tốc độ tăng khá ổn định, trung bình tăng 23% mỗi năm.
Nếu xét về tỉ trọng của từng khu vực trong tổng kim ngạch xuất khẩu, năm
1995, tỉ trọng nhập khẩu của khu vực kinh tế trong nước lên tới 73%, khu vực có FDI
chỉ chiếm 27 %. Năm 2009, theo báo cáo của cục đầu tư nước ngoài, xuất khẩu của khu
vực có FDI (kể cả dầu khí) đã dạt 29,9 tỉ USD, chiếm 52,7% tổng kim ngạch xuất khẩu
26836,2 -5 47,3 29900,0 -13,5 52,7
Nguồn: tổng hợp từ số liệu của Bộ Công Thương
b. Nhập khẩu
Giá trị nhập khẩu của cả khu vực kinh tế trong nước và khu vực kinh tế có FDI
nhìn chung có xu hướng tăng trong giai đoạn 1998 đến nay, nhưng không ổn định. Giai
đoạn 2002 trở lại đây, giá trị nhập khẩu của khu vực kinh tế trong nước tăng trung bình
22% mỗi năm, đối với khu vực kinh tế có FDI tốc độ tăng trung bình nhanh hơn là 28%
mỗi năm.
Xét về tỉ trọng của mỗi khu vực trong tổng kim ngạch của cả nước, số liệu
thống kê của bộ Công Thương trong bảng sau cho thấy, tỉ trọng của khu vực kinh tế
trong nước đã giảm từ 82% năm 1995 xuống còn 65,4% năm 2008, trong khi tỉ trọng
của vực kinh tế có FDI đã tăng gần gấp đôi từ 18% lên 34,6%.
Năm 2008 khu vực kinh tế có FDI tuy chỉ chiếm 34% tổng kim ngạch nhập
khẩu cả nước, song lại đóng góp tới 55,1% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong khi khu
vực kinh tế trong nước nhập khẩu tới 65% tổng kim ngạch nhập khẩu lại chỉ đóng góp
44,9% cho xuất khẩu cả nước. Nhìn tổng thể cơ cấu xuất nhập khẩu theo khu vực kinh
tế, có thể nhận thấy vai trò chủ đạo của khu vực FDI trong việc thúc đẩy tăng trưởng
của Việt Nam, và nguyên nhân gây thâm hụt thương mại lại phần nhiều do khu vực
kinh tế trong nước.
Bảng 3: cơ cấu nhập khẩu theo khu vực kinh tế
Khu vực KT trong nước Khu vực KT có FDI
Năm Giá trị
Triệu USD
Mức tăng
giá trị(%)
Tỉ trọng (%) Giá trị
Triệu USD
Mức tăng
giá trị (%)
Tỉ trọng
ổn định, đặc biệt từ khi Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN, tốc độ tăng FDI bình
quân hàng năm lên tới 50%. Sự tăng trưởng mạnh mẽ này là do nhiều nguyên nhân, một
phần vì các nhà đầu tư nước ngoài bị thu hút bởi tiềm năng của một nền kinh tế đang
chuyển đổi, với thị trường trong nước chưa được khai thác. Thêm vào đó là hàng loạt
các nhân tố thuận lợi cho sản xuất như: lực lượng lao động dồi dào, giá nhân công rẻ,
giá nguyên liệu rẻ, tài nguyên thiên nhiên…
Ngoài những nguyên nhân bên trong, nhiều tác động từ bên ngoài cũng góp
phần làm gia tăng FDI vào Việt Nam trong giai đoạn này. Thứ nhất là làn sóng vốn
chảy dồn về các thị trường mới nổi trong những năm 80 và 90. Trong các thị trường
này, Đông Nam Á là một điểm hút FDI. Năm 1990, các nước khu vực Đông Nam Á thu
hút 36% tổng dòng FDI đến các nước đang phát triển. Thứ hai, sự xuất hiện của dòng
vốn nước ngoài vào các nền kinh tế quá độ khối xã hội chủ nghĩa trước đây, nơi các nhà
đầu tư cho rằng là một cơ hội tốt để thu lợi nhuận. Thứ ba, các quốc gia có tiềm lực hơn
trong khu vực này như Thái Lan, Malisia, Singapore… đã bắt đầu hoạt động xuất khẩu
vốn. Là một nền kinh tế đang trong thời kì quá độ ở Đông Nam Á, Việt Nam có lợi thế
tương đối trong thu hút FDI.
Trong khoảng từ 1991 đến 1996, FDI tiếp tục đóng một vai trò quan trọng
trong việc tài trợ cho sự thiếu hụt trong tài khoản vãng lai của Việt Nam và cả cán cân
thanh toán quốc tế của Việt Nam.
Giai đoạn 1997-1999: Việt Nam đã trải qua một giai đoạn tụt dốc về vốn FDI
đăng kí, cụ thể là giảm 49% vào năm 1997, 16% vào năm 1998 và 59% vào năm 1999
so với đỉnh điểm FDI thu hút được năm 1996. Lý do đầu tiên là do khủng hoảng tài
chính châu Á. Các nước chủ đầu tư của Việt Nam trong giai đoạn trước chủ yếu là các
nước châu Á, và để đảm bảo cho hoạt động kinh doanh tại nước mình, các nhà đầu tư
này đã buộc phải hủy hoặc hoãn các kế hoạch đầu tư mở rộng ở nước ngoài. Cuộc
khủng hoảng cũng làm chậm đi quá trình mở rộng đầu tư sang châu Á của các nhà đầu
tư từ các châu lục khác. Khủng hoảng tài chính Châu Á đồng nghĩa với việc đồng tiền
của các nước Đông Nam Á bị mất giá. Việt Nam do vậy cũng trở nên kém hấp dẫn đối
với những dự án tập trung vào xuất khẩu. Một nguyên nhân khá quan trọng nữa dẫn đến
sự sụt giảm FDI vào Việt Nam là do nhà đầu tư nước ngoài nhận thấy các dự kiến về
tăng ấn tượng này phần nhiều được lí giải bởi sự kiện Việt Nam gia nhập WTO.
Năm 2008 mặc dù nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn và thách thức
nhưng nguồn FDI vào Việt Nam vẫn có bước tăng trưởng rất khả quan. Hết năm 2008
ghi nhận mức FDI tăng kỉ lục tới hơn 64 tỉ USD vốn đăng kí.
Kể từ cuối 2008, vốn FDI vào Việt Nam có dấu hiệu chậm lại do tác động của
khủng hoảng tài chính. Tính đến cuối năm 2009, tổng vốn FDI đăng kí, bao gồm cả vốn
đăng kí mới và vốn tăng thêm vào khoảng 21,43 tỉ USD, tương đương 30% tổng vốn
đăng kí 2008 . Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, so với các nước trong khu vực có thể
nói Việt Nam đã thành công hơn trong việc thu hút FDI.
Trong Quý I/2010, ước tính các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân
được 2,5 tỷ USD, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm 2009 (nếu tính bằng VNĐ thì đạt
47,7 nghìn tỷ đồng, tăng 19,6% so với cùng kỳ năm 2009). Đối với dự án đăng ký mới,
trong 3 tháng đầu năm 2010, đã có 139 dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư với
tổng vốn đăng ký 1,92 tỷ USD, bằng 59,1% về số dự án và 59,5% về tổng vốn đầu tư so
với cùng kỳ năm 2009. (Nguồn: Báo cáo đầu tư quí I/2010- Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
b. Vốn thực hiện
Biểu đồ 2: Vốn FDI đăng kí, thực hiện và tỉ lệ FDI thực hiện trên FDI đăng kí
vào Việt Nam giai đoạn 1991-2009
Tỉ USD
Nguồn: Tổng cục thống kê
Nhìn vào biểu đồ trên, xét về lượng vốn thực hiện, vốn FDI thực hiện giai đoạn
1988-1993 là không đáng kể. Từ năm 1994, vốn FDI thực hiện bắt đầu tăng nhanh và
đạt đỉnh điểm vào năm 1996-1996 và giảm nhẹ ở những năm tiếp theo. Số vốn FDI
thực hiện từng năm trong giai đoạn 1998-2004 duy trì ở mức ổn định, ít biến động tăng
giảm. Từ năm 2005, vốn FDI thực hiện bắt đầu tăng trở lại và tăng đột biến vào năm
2008 do sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO. Sang năm
2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, vốn FDI thực hiện ở Việt Nam
cũng có dấu hiệu giảm sút. Biểu đồ cho thấy sự tăng giảm của lượng vốn FDI thực hiện
có nhịp độ tương xứng với các pha tăng giảm của vốn FDI đăng kí của chủ đầu tư vào
Việt Nam. Tuy nhiên, khoảng cách giữa vốn đăng ký và vốn thực hiện lại không đồng
khoảng 69%, tiếp đó là lĩnh vực dịch vụ với 24,3%, lĩnh vực nông-lâm-thủy sản chỉ
chiếm một số lượng khiêm tốn 6,7%.
Năm 2008 cả vốn FDI thực hiện và vốn FDI đăng kí vẫn tập trung chủ yếu vào
lĩnh vực công nghiệp - xây dựng, tuy nhiên tỉ trọng FDI đầu tư cho lĩnh vực dịch vụ
cũng tăng đáng kể. Lĩnh vực công nghiệp – xây dựng thu hút 572 dự án với tổng vốn
đăng kí 32,62 tỉ USD, chiếm 48,85% về số dự án và 54,12% tổng vốn đăng kí thu hút
được. Lĩnh vực dịch vụ thu hút 554 dự án, tổng vốn đăng kí 27,4 tỉ USD, chiếm 47,3%
về số dự án và 45,4% số vốn đăng kí. Phần còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-thủy sản..
Nguồn: www.vietpartners.com
Có thể nói FDI vào Việt Nam theo cơ cấu ngành đang có xu hướng tăng dần tỉ
trọng đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ và giảm dần tỉ trọng đầu tư vào lĩnh vực nông-lâm-
thủy sản. So sánh tỉ trọng FDI theo cơ cấu ngành trong hai thời kì 1988 – 12/2007 và
1988- 8/2009 cho thấy rõ hơn xu hướng này. Sau chưa đầy 2 năm, tỉ trọng FDI của khu
vực công nghiệp xây dựng tính trên tổng lượng FDI đăng kí vào Việt Nam đã giảm
1,2%, còn 61,7%, trong khi tỉ trọng FDI vào lĩnh vực dịch vụ tăng 5,7%, đạt 36,4%,
lĩnh vực nông-lâm-thủy sản giảm 4,5% chỉ còn 1,9%.
FDI vào Việt Nam theo cơ cấu chủ đầu tư
Bảng 4: Giá trị và tỉ trọng FDI của 10 nước chủ đầu tư lớn nhất vào Việt Nam gia đoạn
1988-2006
STT
Tên quốc gia
& vùng
lãnh thổ
Số dự án Vốn đăng kí
Số lượng Tỉ trọng
%
Số lượng
Triệu USD
Tỉ trọng
%
vào Việt Nam giai đoạn 1988-8/2009
Nguồn: Tổng cục thống kê
Xét riêng dòng vốn FDI vào Việt Nam trong từng năm, năm 2008 và 2009 Mĩ
đều là chủ đầu tư lớn nhất với lượng vốn đăng kí năm 2009 lên tới 5,94 tỉ USD. Lượng
vốn tăng thêm từ các nhà đầu tư Mĩ vào thị trường Việt Nam năm 2009 cũng dẫn đầu
danh sách các nước chủ đầu tư với con số 3,85 tỉ USD.
FDI theo cơ cấu vùng lãnh thổ
Bảng: Số dự án và lượng FDI đăng ký theo vùng lãnh thổ Việt Nam giai đoạn
1988-2008
(Bao gồm cả vốn tăng thêm của các dự án đã được cấp giấy phép từ các năm trước)
Vùng
Số
dự án
Tỉ trọng trên tổng số
dự án (%)
Lượng FDI đăng ký
(triệu USD)
Tỉ trọng trên tổng
FDI đăng ký (%)
Đồng bằng sông
Hồng
2790 25,4 33627 20,5
Trung du miền
núi phía Bắc
325 2,9 1823 1,1
Bắc Trung Bộ-
Duyên hải miền
Trung
690 6,3 43886 26,8
Tây Nguyên 147 1,3 1334 0,8
miền Trung
Thanh Hóa 42 2,1 6992 4,3
Hà Tĩnh 14 0,1 7940 4,9
Quảng Ngãi 22 0,2 4651 2,8
Phú Yên 44 0,4 6315 3,9
Ninh Thuận 16 0,1 9952 6,0
Đông Nam Bộ Bình Dương 1734 15,7 9984 6,1
Đồng Nai 1031 9,4 14752 23,1
Bà Rịa-Vũng
tàu
226 2,0 16896 10,3
TP HCM 3234 29,4 29245 17,9
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Tính đến cuối năm 2009, có 21 tỉnh, thành phố thu hút trên 1 tỷ USD vốn FDI
đăng ký, trong đó có 10 địa phương trên 5 tỷ USD. Hà Nội, TP.HCM, Đồng Nai, Bà
Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương chiếm khoảng 60% tổng vốn FDI đăng ký cả nước. Rất
nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Nam Bộ có rất ít dự án FDI, mặc dù Chính
phủ đã có chính sách ưu đãi đặc biệt cho các tỉnh đó và chính quyền địa phương rất
quan tâm đến hoạt động xúc tiến đầu tư. Thực trạng đó đặt ra hai vấn đề cần được giải
quyết: phân bố nguồn lực và hạ tầng kỹ thuật, xã hội.
II. Đánh giá mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở Việt Nam
1. Tác động của FDI đến hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam
1.1. FDI tác động đến kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân xuất nhập khẩu
FDI tác động đến kim ngạch xuất khẩu
• FDI giúp tăng vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất xuất khẩu
Kể từ khi mở cửa nền kinh tế kinh tế, phát triển quan hệ buôn bán và tiếp nhận
đầu tư nước ngoài, mặc dù Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể về phát triển
kinh tế, song vẫn là một nước nghèo, đang phát triển. Chúng ta có nguồn lao động rẻ
dồi dào là lợi thế nhưng luôn ở trong trạng thái thiếu vốn. Kể từ 1988 đến nay, dòng
FDI đã trở thành một nguồn bổ sung vốn thiết yếu cho nền kinh tế Việt Nam nói chung
đoạn hiện nay, với mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhờ xuất khẩu mà nhà nước
đã đặt ra, nguồn vốn FDI càng nắm giữ một vai trò quan trọng hơn nữa trong việc bổ
sung nguồn vốn cho sản xuất xuất khẩu.
• FDI làm tăng kim ngạch xuất khẩu do doanh nghiệp FDI thực hiện khâu
sản xuất hoặc gia công hàng hóa tại Việt Nam nhằm mục đích xuất khẩu
Khi nói đến sự gia tăng nhanh chóng tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
trong những năm qua, đóng góp của các doanh nghiệp FDI là không thể phủ nhận. Điều
này được minh chứng bằng tỉ trọng ngày càng gia tăng của khu vực FDI trong tổng giá
trị xuất khẩu của cả nước. Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, FDI hiện
nay có xu hướng hướng về xuất khẩu hơn là nhằm vượt qua hàng rào bảo hộ và hàng
rào thuế quan của các nước nhập khẩu hàng hóa. Đồng thời với xu hướng đó là sự phát
triển ngày càng mạnh của các tập đoàn xuyên quốc gia (TNC). Các TNC này thường
được hình thành ở các nước phát triển, với phạm vi tiêu thụ hàng hóa rộng lớn khắp
toàn cầu. Các TNC này có xu hướng hình thành các chi nhánh ở nhiều quốc gia, tiến
hành hoạt động sản xuất, gia công hàng hóa ở các nước có điều kiện đầu tư thuận lợi,
nhất là những nước đang phát triển nhiều tài nguyên, nhân công rẻ và mặt bằng sản xuất
lớn, rồi xuất khẩu sang thị trường khác. Với những tiêu chí lựa chọn địa điểm đầu tư
như trên, Việt Nam được coi là một điểm đầu tư hấp dẫn, đặc biệt là từ sau khi gia nhập
WTO, phạm vi thương mại được mở rộng, năm 2009, Việt Nam xếp thứ 12 trong danh
sách 25 nền kinh tế có sức hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn nhất thế giới
do Bloomberg bình chọn, Việt Nam tiếp tục chứng tỏ là địa chỉ hấp dẫn đối với các nhà
đầu tư toàn cầu.
Bảng 5: Số liệu về hoạt động xuất khẩu của khu vực FDI tại Việt Nam (có bao
gồm dầu thô)
Năm
Giá trị
(triệu USD)
Mức tăng
giá trị(%)
Tỉ trọng KV FDI trên
cũng không ngừng tăng lên. Giai đoạn 2005-2008 là giai đoạn hoạt động hiệu quả nhất
của khu vực FDI hướng vào xuất khẩu. Tỉ trọng đóng góp vào tổng kim ngạch xuất
khẩu hàng năm của cả nước luôn đạt trên 57%, năm 2008 là giai đoạn cao điểm, giá trị
xuất khẩu của khu vực này lên tớ 34,52 tỉ USD. Theo báo cáo của Vụ Xuất nhập khẩu,
Bộ Công thương, xuất khẩu 10 mặt hàng chủ lực của doanh nghiệp FDI chiếm 27,5%
tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2008 và 24,9% năm 2009.
Xét về tốc độ tăng trưởng, so với mức tăng trưởng xuất khẩu cả nước, tăng
trưởng xuất khẩu của khu vực FDI ở hầu hết các năm đều đạt tốc độ cao hơn. Năm
1997, tăng trưởng xuất khẩu của khu vực FDI đạt 49% trong khi tăng trưởng xuất khẩu
cả nước chỉ trên 26%. Hay trong hai năm 1999-2000, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của
khu vực FDI là trên 45% trong khi kim ngạch xuất khẩu cả nước chỉ tăng 23-25%. Khu
vực FDI duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu nhanh hơn so với cả nước cho đến năm 2006.
Từ 2006 đến nay, tăng trưởng xuất khẩu của khu vực này xuống thấp hơn so với mức
tăng trưởng của cả nước. Năm 2009, xuất khẩu cả nước tăng trưởng âm 9,8% trong khi
xuất khẩu của khu vực FDI tăng trưởng âm tới 13%. Nguyên nhân chính là do trong
thời kì suy thoái kinh tế, cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của khu vực FDI giảm mạnh
hơn so với cầu hàng xuất khẩu của khu vực trong nước, do khu vực FDI chủ yếu xuất
khẩu các sản phẩm công nghệ cao trong khi mặt hàng xuất khẩu chủ lực của khu vực
trong nước là các mặt hàng thiết yếu cơ bản nên cầu ít co giãn hơn. Một nguyên nhân
cũng rất quan trọng là do nhiều chủ đầu tư muốn tránh rủi ro từ khủng hoảng kinh tế đã
giảm quy mô đầu tư.
• FDI giúp nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của hàng Việt Nam xuất
khẩu nhờ tác động lan tỏa về công nghệ
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm có ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh
nghiệp nói riêng và với cả nền kinh tế nói chung. Làm tăng tính cạnh tranh của sản
phẩm có nghĩa là làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế. Khả
năng cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, chủng loại, mẫu mã, giá cả, số
lượng… được quyết định bởi các yếu tố như vốn, công nghệ, lao động… So với các
doanh nghiệp trong nước, đây là một là một ưu thế rõ rệt của các doanh nghiệp FDI. Vì
thế các doanh nghiệp FDI sản xuất để xuất khẩu có khả năng cạnh tranh cao hơn so với
điểm đó, các doanh nghiệp 100% vốn trong nước ít có khả năng thu hút lao động từ khu
vực FDI do mức lương chi trả còn hạn chế. Tuy nhiên đến nay, ngày càng có nhiều
doanh nghiệp đủ mạnh có thể thu hút nhân tài từ các công ty đa quốc gia. Công ty Bitis,
Kinh Đô, tập đoàn Masan, công ty Liên Bảo, công ty Việt Văn, công ty Mai Thanh,
công ty Masso, Big Solutions, SME, Golden Land hiện là những nơi đầu quân mới của
các nhà quản lý giỏi trước đây từng làm việc cho các công ty nước ngoài. Chủ tịch tập
đoàn và giám đốc của những công ty này trước đây đều là những người đã từng làm
việc cho các tập đoàn nước ngoài hoặc các công ty liên doanh lớn, sau một thời gian
làm họ tự tách ra mở công ty riêng để kinh doanh và quản lý dựa trên những kinh
nghiệm đã được đào tạo và tích lũy khi còn ở các doanh nghiệp FDI. Giám đốc phát
triển thương mại Công ty Goodland ông Trần Anh Tuấn từng là chuyên gia xúc tiến
thương mại đầu vào cho các doanh nghiệp Australia tại Thương vụ Australia ở TP
HCM; ông Vũ Quốc Tuấn, Giám đốc Công ty Việt Văn từng làm việc cho tập đoàn
Keppel Land của Singapore; Giám đốc Công ty SME từng là luật sư tư vấn cho Công ty
Akzo Nobel; bà Trần Thị Thanh Mai trước khi lập công ty quảng cáo Mai Thanh từng
là Phó Tổng Giám đốc Công ty liên doanh Castrol, tập đoàn Philip Morric, và công ty
J.W. Thomson; bà Nguyễn Công Ái Huyên từng phụ trách quản trị nhãn hiệu cho hãng
Shell Việt nam hiện là giám đốc công ty Masso, một công ty chuyên cung cấp các giải
pháp tiếp thị cho các doanh nghiệp. Ông Hạ Ngọc Linh, Giám đốc Công ty Big
Solutions, nguyên là thủ khoa ngành quản trị kinh doanh của Viện Công nghệ châu Á
(AIT) cũng đã từng giữ cương vị Giám đốc điều hành cho Motorola Vietnam trong 5
năm.
Thứ hai, đối với FDI dưới các hình thức liên doanh liên kết, các doanh nghiệp
Việt Nam sau khi thực hiện việc liên doanh với các nhà đầu tư nước ngoài, ngoài đầu tư
về vốn, doanh nghiệp Việt Nam còn được nhà đầu tư góp vốn bằng dây chuyền sản xuất
hiện đại, công nghệ cao, đặc biệt là các bí quyết công nghệ của họ. Việc tiếp nhận FDI
dưới hình thức này cho phép các doanh nghiệp Việt Nam được tiếp thu một cách trực
tiếp công nghệ tiên tiến của nước chủ đầu tư và quá trình cải thiện chất lượng sản phẩm
cũng diễn ra nhanh hơn và đúng hướng hơn. Một ví dụ điển hình về doanh nghiệp liên
doanh thành công của Việt Nam hiện nay có thể kể đến Công ty Cổ phần Cáp điện LS-