Viện khoa học và công nghệ việt nam
Viện Địa lý Dự án P
Dự án PDự án P
Dự án P1
11
1-
-08 vIE:
08 vIE:08 vIE:
08 vIE: Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu
đến điều kiện tự nhiên, môi trờng
và phát triển kinh tế xã hội
ở Trung Trung bộ Việt Nam
Chuyên đề 6:
Chuyên đề 6:Chuyên đề 6:
Chuyên đề 6: Nghiên cứu đánh giá mối quan hệ giữa nớc biển dâng
và xâm nhập mặn ở khu vực ven biển tỉnh Quảng Nam
(Case study: Thu Bn Vu Gia)
II.3. Kết quả đo đạc tháng X/2009 20
Nội dung 3: Những yếu tố chính ảnh hởng đến xâm nhập mặn 23
III.1. Lợng nớc từ thợng nguồn 23
III.2. Chế độ thủy triều 25
III.3. Các hoạt động nhân tác 26
III.4. Mối quan hệ giữa nớc biển dâng với xâm nhập mặn 29
Nội dung 4: Tổng quan các kịch bản nớc biển dâng 44
IV.1. Cơ sở xây dựng kịch bản biến đổi khí hậu và nớc biển dâng 46
IV. 2. Kịch bản biến đổi khí hậu, nớc biển dâng cho Việt Nam 49
Nội dung 5: Phơng pháp nghiên cứu và xây dựng bộ số liệu đầu vào diễn toán
quá trình xâm nhập mặn 55
V.1. Phơng pháp nghiên cứu 55
V.2. Giới thiệu mô hình Mike 11 55
V.3. Tính toán xâm nhập mặn 58
V.4. Xây dựng bộ số liệu đầu vào 62
Nội dung 6: Mô phỏng quá trình xâm nhập mặn hạ lu sông Thu Bồn 65
Nội dung 7: Cảnh báo xu thế diến biến xâm nhập mặn trong tơng lai ứng với
các kịch bản nớc biển dâng 79
3
Nội dung 1: Hệ thống sông Thu Bồn Tỉnh Quảng Nam và
tình hình đo đạc độ mặn
I.1. Hệ thống sông Thu Bồn Quảng Nam
Hệ thống sông Thu Bồn (Thu Bồn - Vu Gia) thuộc tỉnh Quảng Nam, có tổng diện tích
lu vực là 10.350km
2
là 1 trong 4 sông lớn nhất dải Trung Bộ Việt Nam. Dòng chính
của sông dài 205km bắt nguồn từ 107
o
5500, 15
o
0110 thuộc vùng núi Ngọc Linh và
đổ ra biển tại cửa Đại (108
o
2300, 15
o
5300).
Lu vực sông Thu Bồn - Vu Gia có hớng dốc chính là Tây Nam - Đông Bắc do nằm
trong vùng sụt võng trung sinh đại và đợc phân cách với các lu vực xung quanh bởi
các dãy núi cao của địa hình dãy Trờng Sơn, dãy Bạch Mã với đỉnh cao Bon Đơ Rui
(1.438m), N.Mang (1.708m) nằm ở phía Bắc lu vực. Phía Tây và Tây Nam lu vực là
địa khối Kon Tum do hoạt động kiến tạo nâng lên dạng vòm khối với các đỉnh cao nhất
lãnh thổ miền Nam nh Atuất (2.500m), Ngọc Lĩnh (2.598m). Phía Nam lu vực là
dãy núi bóc mòn thạch học trên đá xâm nhập chạy ra tới biển nh Hòn Bà (1.358m),
Núi Chúa (1.363m) Hầu hết các sông suối trong lu vực đều xuất phát từ địa khối
Kon Tum, chảy theo hớng Tây Nam - Đông Bắc hoặc Nam - Bắc nhập lu tại Thờng
Đức đổ ra biển theo hớng chảy Tây - Đông. Một số ít sông chảy theo hớng Tây Bắc -
Lu vực có dạng phát triển hình bầu với chiều dài lu vực gấp 2 lần chiều rộng bình
quân lu vực. Lu vực sông Thu Bồn là tập hợp của ba sông lớn có diện tích lu vực
tơng tự nhau từ 2.500 ữ 4.000 km
2
đó là sông Bung, sông Cái, sông Tĩnh Yên gặp
nhau tại Châu Sơn - ở km thứ 70 của dòng chính tính từ cửa sông. Độ dốc lu vực lớn
nhng do dòng sông chuyển hớng chảy nhiều lần nên hệ số uốn khúc của dòng chính
và các phụ lu lớn thờng cao đạt xấp xỉ 2 nh dòng chính 1,86, sông Bung 2,02, sông
Tĩnh Yên 2,67
Phần thợng du lu vực sông Thu Bồn - Vu Gia có thể tính đến km 130 của dòng
chính. Sông suối ở phần thợng nguồn có nhiều hớng chảy khác nhau do địa hình núi
5
bị chia cắt bởi các đứt gãy có hớng khác nhau. Mạng lới sông suối có dạng nan quạt
mở rộng nên khả năng tập trung nớc trên dòng sông chính khá lớn đây là một trong
những nguyên nhân hình thành những trận lũ ác liệt trên lu vực. Dòng chảy trong
phần thợng du khá thẳng nhng do các nếp uốn địa hình nên hệ số uốn khúc của các
sông thờng đạt (1,80 ữ 2,30). Mật độ lới sông của khu vực này đạt thấp (0,2 ữ 0,4)
km/km
2
. Độ cao bình quân ở vùng này đạt tới 780m và độ dốc bình quân cũng đạt tới
32%. Phần trung du ngắn, dốc kéo dài 26km chảy trong vùng đồi thấp. Sông chảy khá
thẳng và không có phụ lu lớn gia nhập .
Phần hạ du (vùng tam giác châu) tính từ Thờng Đức ra đến biển với chiều dài sông 49
km. Khác với vùng thợng và trung du chảy theo hớng gần Bắc Nam, phần hạ lu lại
chuyển hớng thành Tây Đông và đổ ra biển tại Hội An. Đây là khu vực dòng sông
uốn khúc quanh co, độ dốc lòng sông giảm hẳn, nhiều các phân lu đan xen nh sông
Ngang, Vĩnh Diện, Tĩnh Yên đổ ra vịnh Đà Nẵng qua sông Hàn nên khả năng thoát
nớc của khu vực này rất kém.
Sông Vu Gia là một trong những nhánh chính của hệ thống sông Thu Bồn. Phần thợng
Do ảnh hởng mạnh mẽ bởi điều kiện địa hình nên lợng ma phân bố không đồng đều
trên toàn lu vực. Vùng núi thợng nguồn sông Vu Gia có lợng ma nhỏ hơn so với
vùng núi thợng nguồn sông Tĩnh Yên do ở đây nằm sâu trong lục địa hơn và bị che
khuất bởi các nhánh núi của dãy Trờng Sơn. Hai trạm ma có độ cao tơng tự nhau,
trạm Khâm Đức có lợng ma trung bình đạt 2.887,3 mm trong khi trạm Trà My lợng
ma đạt tới 4.034 mm. Lợng ma có xu hớng tăng dần từ biển và từ vùng núi phía
Tây lu vực (phần đỉnh dãy Trờng Sơn) xuống phần trung lu lu vực. Các tâm ma
ở đây đều nằm ở phần trung lu có vị trí gần biển và độ cao địa hình trung bình nh
tâm ma Trà My (4.034mm). Lợng ma bình quân hàng năm có sự phân bố không
đồng đều theo không gian, phần thợng du sông, vùng núi chỉ đạt từ (2800 ữ 3000)
mm/năm, vùng trung lu đạt tới (3.500 ữ 4.000)mm/năm còn phần đồng bằng hạ du
lợng ma trung bình đạt (2.000 ữ 2.200)mm/năm.
Cùng với phân bố không đều lợng ma theo không gian, lợng ma trong khu vực
nghiên cứu còn phân phối bất điều hòa theo thời gian. Hệ số biến động lợng ma năm
(C
v
) dao động trong khoảng (0,20 ữ 0,30), thậm chí cả ở các trạm nằm trong tâm ma
nh trạm Trà My (C
vma
= 0,25), trạm Khâm Đức (C
vma
= 0,26).
Có thể thấy tiềm năng nguồn nớc ma trên lu vực phong phú nhng phân phối lợng
ma rất bất điều hòa và phụ thuộc nhiều vào biến động của các hình thế thời tiết.
Biến đổi dòng chảy qua các năm
Để đánh giá sự biến đổi dòng chảy qua các năm chúng tôi sử dụng tài liệu thủy văn của
2 trạm Thành Mỹ và Nông Sơn trên sông Thu Bồn. Số liệu của 2 trạm ái Nghĩa và
Giao Thủy do đài khí tợng thủy văn Trung Trung Bộ tính toán và cung cấp. Hệ số C
v
và thời gian.
Biến đổi dòng chảy trong năm
Mùa lũ: Mùa lũ trên sông kéo dài 3 tháng với lợng dòng chảy chiếm tới (60 ữ 70)%
lợng dòng chảy năm, thậm chí có những năm lợng dòng chảy mùa lũ chiếm trên
80%. Theo số liệu trung bình nhiều năm mùa lũ trên lu vực nghiên cứu xuất hiện từ
(X ữ XII) chiếm từ (56,5 ữ 67)% lợng dòng chảy năm với modun trung bình mùa lũ
(165 ữ 224)l/skm
2
. Tháng có dòng chảy lớn nhất rơi vào tháng XI chiếm tới (22 ữ
30)% lợng dòng chảy năm và moduyn dòng chảy tháng lớn nhất đạt tới (210 ữ
300)l/skm
2
. Cũng nh dòng chảy năm đây là khu vực có lợng dòng chảy mùa lũ rất
lớn so với toàn lãnh thổ Việt Nam.
Mùa kiệt: Kéo từ tháng (I ữ IX) với modun dòng chảy mùa kiệt cũng khá cao (35 ữ 40)
l/skm
2
so với lãnh thổ Việt Nam. Do độ dốc địa hình lớn và lớp vỏ thổ nhỡng mỏng
khả năng giữ nớc kém nên lợng dòng chảy trong sông chủ yếu do nớc ma cung
cấp còn nớc ngầm tầng nông của vùng thờng chỉ chiếm 20 ữ 25% tổng lợng dòng
chảy toàn phần. Nguồn ẩm mang đến lu vực bởi hoàn lu Tây Nam gây ma trong
tháng V - VIII nên trong mùa kiệt dài xuất hiện lũ tiểu mãn trong các tháng V, VI xóa
nhòa mùa khô hạn ở đây với modun dòng chảy tháng trung bình đạt 27 ữ 35l/skm
2
.
Tháng có dòng chảy nhỏ nhất thờng xuất hiện vào tháng IV hoặc VIII chiếm (2 ữ 3)%
8
lợng dòng chảy năm với modun dòng chảy tháng nhỏ nhất đạt (20 ữ 22)l/skm
2
Địa lý thực hiện trong 2 năm 2003 và 2004. Đồng thời dự án cũng đã tiến hành một đợt
thực địa tháng X/2009 và có tổ chức đo đạc độ mặn vùng hạ lu sông Thu Bồn, tuy
nhiên do thời gian đo mặn rơi vào mùa lũ nên kết quả đo đạc có phần hạn chế.
9
Nội dung 2: Thực trạng xâm nhập mặn tỉnh Quảng Nam
II.1. Chế độ triều và vấn đề nhiễm mặn:
Từ phía Nam Thừa Thiên - Huế đến Quảng Nam - Đà Nẵng có chế độ bán nhật triều
không đều, biên độ triều cờng đạt từ 0,8 ữ 1,2m và có xu hớng tăng dần về phía
Nam. Theo tài liệu quan trắc của đài Khí tợng Thủy văn Trung Trung Bộ, biên độ
triều tại cảng Đà Nẵng trung bình khoảng 70cm, cao nhất khoảng 140cm. Biên độ triều
trong vùng hạ du Thu Bồn - Vu Gia biến đổi khá phức tạp. Biên độ triều lớn nhất tại
Hội An đạt 1,1m. Biên độ triều trung bình tại vị trí cách thành phố Đà Nẵng 25km trên
sông Vĩnh Điện là 60cm, trong khi đó tại Cẩm Lệ là 47cm với biên độ triều max đạt
127cm. Tốc độ dòng triều đạt giá trị lớn nhất là 0,6m/s và xảy ra vào thời kỳ triều
cờng. Sở dĩ mức độ ảnh hởng triều trên sông Vĩnh Diện lớn là do ảnh hởng tổ hợp
của dòng triều trên cả 2 sông Thu Bồn và Vu Gia qua 2 cửa: cửa Đại và cửa Hàn.
Thông thờng 1 tháng có từ 1 đến 8 ngày có chế độ nhật triều. Trung bình hàng năm
có khoảng 37,5 ngày có chế độ nhật triều. Thống kê số ngày trong tháng có chế độ
nhật triều đợc trình bày trong bảng II.1.
Bảng II.1: Số ngày nhật triều trung bình hàng tháng tại vùng biển Quảng Nam - Đà
Nẵng
Đặc trng I II III IV V VI VII
IIX
IX X XI XII
Năm
Số ngày nhật triều 3,2
Trạm
Cách cửa sông
(km)
ĐT I II III
IV V VI
VII
VIII
IX
X
XI
XII
Năm
Hội An
8km
TB 84 77 70 73 82 85 84 75 71 70
70 84 77
Max 124
101 94 91
99 113
122
So với ranh giới triều thì ranh giới mặn thờng ngắn hơn và cũng biến đổi khá phức
tạp. Độ mặn có xu thế giảm dần từ cửa sông vào lục địa và phụ thuộc vào nhiều yếu tố
nh điều kiện địa hình, chế độ triều, chế độ dòng chảy và các hoạt động nhân tác.
Càng đi về gần cửa sông, lòng sông càng đợc mở rộng, độ dốc đáy sông giảm nhỏ là
điều kiện thuận lợi để thủy triều truyền sâu vào đất liền dẫn tới sự gia tăng độ mặn
trong nớc sông.
Theo quan trắc nhiều năm ranh giới mặn 1 về mùa ma thờng cách cửa sông Thu
Bồn 16km, ranh giới mặn 2 cách cửa sông 15,5km và ranh giới mặn 5 cách cửa sông
14,5km. Trên sông Hàn - Cẩm Lệ ranh giới mặn 1 thờng cách cửa sông 13,5km,
ranh giới mặn 2 thờng cách cửa sông 13km; Còn ranh giới mặn 5% cách cửa sông là
12km. Về mùa khô, ranh giới mặn thờng tiến sâu vào đất liền khoảng từ 2 - 3km.
11
Ranh giới mặn 1 trên sông Cẩm Lệ là 17km; 2 là 16,5km, 5 là 15km. Trên sông
Vĩnh Diện độ mặn 1 cách cửa sông 23km; 2 cách cửa sông 22,5km; 5 cách cửa
sông 21km.
Bảng II.3 : Ranh giới mặn của các sông thuộc dải ven biển Quảng Nam - Đà Nẵng
Độ mặn S
max
()
Sông
Cu
Đê
Sông
Vào tháng V/2003 do ảnh hởng của lũ tiểu mãn nên ranh giới mặn bị đẩy lùi. Ranh
giới mặn 1 cách cửa sông Hàn 6,35km. Còn ranh giới mặn 5 thì cách cửa sông chỉ
3km. Ranh giới mặn 10% cách cửa sông 1,5km. Trong các tháng IV và tháng VIII là
những tháng có lợng dòng chảy mặt nhỏ nhất ranh giới mặn sẽ tiến sâu vào đất liền
khoảng 1 vài km nữa.
Kết quả quan trắc năm 2004 ranh giới mặn 1 cách cửa sông 10,9km, còn ranh giới
mặn 5 cũng cách cửa sông 3,5km. Độ mặn đo đợc tại cầu sông Hàn là 5,8, tại cầu
Nguyễn Văn Trỗi là 3,7, tại cầu Tiên Sơn là 2,3, đến điểm hợp lu giữa sông Cẩm
Lệ và sông Vĩnh Diện độ mặn còn 2,2. Từ cầu Cẩm Lệ trở đi nớc sông có độ mặn
bằng 0.
Nh vậy bằng 2 quan trắc năm 2003 và 2004 có thể dễ dàng nhận thấy mặn chỉ ảnh
hởng trên sông tới khoảng 15 ữ 17km tính từ cửa sông. Về mùa lũ tại vị trí cách cửa
sông khoảng 12km trở đi nớc mặt hầu nh không mặn nữa. Độ mặn nớc sông trong
cả 2 quan trắc tại vị trí cầu sông Nguyễn Văn Trỗi đều đạt xấp xỉ 4%. Có thể nói càng
gần cửa sông do ảnh hởng mạnh mẽ của thủy triều mức độ biến đổi độ mặn trong
12
nớc sông không lớn nhng càng đi vào sâu trong lục địa sự tranh chấp giữa nớc mặn
và nớc ngọt càng trở nên gay gắt thì độ mặn nớc sông biến đổi rất phức tạp phụ
thuộc vào cả chế độ thủy triều và chế độ thủy văn của dòng chảy. Đối với sông Vu Gia
ranh giới độ mặn nớc sông ít có sự biến đổi giữa các mùa là khoảng cách 5km tính từ
cửa sông. Còn từ khoảng cách 5 đến 15 hoặc 17km thì độ mặn nớc sông thay đổi rõ
rệt giữa các mùa.
Tại chân cầu Nguyễn Văn Trỗi - Sông Hàn cách cửa sông 5km, độ mặn đo đợc vào
thời điểm 24/VIII/1997 là 13,4. Độ mặn lớn nhất đã xác định đợc về mùa khô
khoảng từ 25 - 30. Theo quan trắc thực địa tháng V/2003 độ mặn đo đợc tại Cầu
Nguyễn Văn Trỗi (15h50, 23/V/2003) là 5,64 và 4,0 (8h00, 25/V/2003) do ảnh
hởng của lũ tiểu mãn. Độ mặn đo đợc vào 21/V/2004 tại cầu Nguyễn Văn Trỗi là
3,7.
Sự lan truyền mặn theo không gian có dạng sau: S
-0.2201*x
. Nh vậy sự biến đổi của hệ số lan truyền khá phức tạp và phụ
thuộc vào nhiều yếu tố. Dựa vào phơng trình lan truyền mặn đã xác định đợc, chúng
tôi tiến hành xây dựng sơ đồ phân cấp độ mặn tháng V.
13
Diễn biến độ mặn dọc sông Hàn - Cẩm Lệ - Cầu Đỏ (25/V/2003)
0
1
2
3
4
5
6
0 5 10 15 20 25
Khoảng cách từ cửa sông Hàn (km)
Độ mặn (%o)
Hình II.1: Diễn biến độ mặn dọc sông Vu Gia
theo kết quả quan trắc thực địa của Viện Địa Lý (V/2003)
Diễn biến độ mặn dọc sông Hàn - Cẩm Lệ - Cầu Đỏ (21/V/2004)
0
1
2
3
4
5
6
7
o
0136,108
o
1410 là 5, tại vị trí 16
o
0030, 108
o
1337 là 5,8, tại vị trí
15
o
5940, 108
o
1345 là 6. Hớng chảy của sông Vĩnh Diện có thể nói là gần song
song với đờng bờ nên độ mặn biến đổi không nhiều trái với dòng chính sông Vu Gia
và Thu Bồn là càng đi vào sâu trong lục địa nớc sông càng nhạt dần.
Độ mặn nớc sông không những có sự biến đổi theo chiều dòng chảy (độ mặn tăng dần
về phía cửa sông) mà còn biến đổi theo chiều thẳng đứng khá phức tạp. Nhìn chung,
càng gần đáy độ mặn càng tăng. Trong tầng nớc sát mặt độ mặn dao động không
nhiều, càng gần đáy độ mặn nớc sông biến đổi mạnh và đạt giá trị cao.
Cầu Sông Hàn: Độ mặn nớc sông xác định theo phơng thẳng đứng tại vị trí cầu
Sông Hàn từ mặt nớc tới độ sâu 2,2m hầu nh ít biến đổi. Độ mặn nớc mặt là 5,8,
tới độ sâu 1,1m là 6,1, độ sâu 2,2m là 6,6. Nhng tới độ sâu 3,3m độ mặn đã tăng
tới 12,4, độ sâu 4,4m độ mặn tăng lên 17,7 và xuống đến đáy độ mặn đạt tới 26,1.
15
Nh vậy nếu từ độ sâu 2,2m trở lên thì độ mặn chỉ tăng 0,36/m, còn dới độ sâu này
độ mặn đạt tăng tới 5,9/m. Trung bình đạt 3,7/m.
Cầu Nguyễn Văn Trỗi: có độ mặn tầng nớc mặt đạt 3,7; Độ mặn tầng đáy đạt
29,2%. Độ mặn trung bình tăng 4,25/m.
Cầu Tiên Sơn: Có độ mặn tầng đáy là 30,3; độ mặn tầng mặt là 2,3, độ mặn ở độ
độ mặn nớc sông Vĩnh Diện ở những tầng càng gần đáy sông tăng càng nhanh. Độ
mặn nớc sông ở những tầng gần đáy cũng ổn định hơn do sự trao đổi nớc tại những
tầng này diễn ra yếu hơn những tầng sát mặt mặt dù trong nớc sông vẫn tồn tại dòng
chảy rối.
16
Cầu Sông Hàn (21/05/2004)
0
1
2
3
4
5
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45
H(m)
ToC DO(mg/l) pH
TDS(g/l) Cond(mS/m) Salinity(%o)
Hình II.4: Sự biến đổi của một số yếu tố chất lợng nớc
theo phơng thẳng đứng tại vị trí cầu sông Hàn
Cầu Nguyễn Văn Trỗi (21/05/2004)
0
1
2
3
4
5
6
0 10 20 30 40 50
2
3
4
5
6
7
8
9
0 5 10 15 20 25 30 35 40
H(m)
ToC DO(mg/l) pH
TDS(g/l) Cond(mS/m) Salinity(%o)
H×nh I I.7: Sù biÕn ®æi cña mét sè yÕu tè chÊt l−îng n−íc
theo ph−¬ng th¼ng ®øng t¹i vÞ trÝ cÇu CÈm LÖ
18
Cầu Đỏ (21/05/2004)
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
3.5
4
4.5
0 5 10 15 20 25 30 35
H(m)
0
1
2
3
4
5
6
7
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50
H(m)
ToC DO(mg/l) pH
TDS(g/l) Cond(mS/m) Salinity(%o)
H×nh I I.10: Sù biÕn ®æi cña mét sè yÕu tè chÊt l−îng n−íc
theo ph−¬ng th¼ng ®øng t¹i vÞ trÝ 16
o
00’30”, 108
o
13’37” trªn s«ng VÜnh DiÖn
S«ng VÜnh DiÖn 3 (21/05/2004)
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
0 5 10 15 20 25 30 35 40
H(m)
21H×nh II.12: Ph©n bè ®é mÆn n−íc tÇng mÆt vïng cöa s«ng Thu Bån – Qu¶ng Nam trong ®ît ®o ®¹c 28 -29/X/2009 (‰) 22
Hình II.13: Phân bố độ mặn nớc tầng đáy ()
sông vùng cửa sông Thu Bồn Quảng Nam trong đợt đo đạc 28 -29/X/2009
- 23 -
Nội dung 3: Những yếu tố chính ảnh hởng đến xâm
nhập mặn
III.1. Lợng nớc từ thợng nguồn
Trong mùa lũ dòng chảy nớc thợng nguồn đa về lớn ranh giới độ mặn bị đẩy lùi
ra phía biển, độ mặn quan trắc đợc tại các trạm nhỏ. Vào mùa kiệt mặn xuất hiện
sâu trong sông nhng không đồng đều trong toàn dải. Thông thờng các tháng mùa
kiệt (từ tháng III đến tháng VIII) có độ mặn lớn nhng do ảnh hởng của lũ tiểu
mãn nên trong mùa kiệt đã hình thành 2 điểm cực đại và một điểm cực tiểu. Điểm
cực tiểu thờng rơi vào tháng 5 và tháng 6. Kết quả đo đạc của viện Địa Lý vào cuối
tháng V, sau đợt lũ tiểu mãn cũng cho những giá trị độ mặn trên sông không lớn khi
so sánh với các quan trắc khác.
Tuy nhiên độ mặn nớc sông còn phụ thuộc khá chặt chẽ vào sự biến đổi dòng chảy
hàng năm. Có những năm nh năm 1983 đợc coi là năm nớc nhỏ, độ mặn lớn
nhất trung bình tại Cầu Đỏ cách cửa sông 13,5km lên tới 11,6 (17/V/1983), ngày
22/IV/1983 là 14,3. Trong khi đó độ mặn tại Cầu Đỏ vào ngày 21/V/2004 của cả
tầng mặt lẫn tầng đáy đều bằng 0.
Theo kết quả tính toán của Phạm Quý diễn biến độ mặn trên sông trong 1 số năm
đại biểu cho các pha nớc lớn, nhỏ và trung bình đợc trình bày trong bảng III.1.
của nớc ma cộng với lợng nớc đa về từ thợng nguồn lớn nên trong những
ngày ma độ nhiễm mặn của nớc sông đạt giá trị thấp. Trong một năm độ mặn
- 24 -
trung bình của nớc sông thờng xuất hiện 2 cực đại vào các tháng trớc và sau thời
kỳ lũ tiểu mãn. Kết quả quan trắc vào tháng V/2003 và V/2004 cũng đã phản ánh rõ
nhận định trên. Năm 2003, lợng ma tháng V là 110mm thì ranh giới độ mặn 1%
cách cửa sông 6.35km trong khi năm 2004 lợng ma thấp hơn chỉ đạt 44mm thì
ranh giới mặn 1% bị đẩy lùi sâu vào lục địa cách cửa sông tới 10,9km.
Bảng III.1 Kết quả tính toán xâm nhập mặn trên sông Cầu Đỏ - Cẩm Lệ mùa kiệt
()
Stt
Trạm ĐT ít nớc(95%)
Nớc TB
(75%)
Nớc lớn
1 Cầu Nguyễn Văn Trỗi
TB 32 20,81 14,96
Max 32 26,97 25,2
Min 32 16,63 11
2 Đò Xu
TB 13,72 9,64 4,45
Max 17,68 15,7 12,68
Min 10,11 6,21 2,73
3 Cầu Đỏ
TB 4,11 2,29 0,92
Max 6,65 4,75 2,69
Min 3,02 1,61 0,73