Mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và tăng trưởng kinh tế việt nam - Pdf 27

1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI NÓI ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC ĐÁNH GIÁ MỐI QUAN HỆ
GIỮA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 9
1.1. Các vấn đề về tăng trưởng kinh tế 9
1.1.1 Khái niệm và bản chất của tăng trưởng kinh tế 9
1.1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế: 9
1.1.1.2 Các cấp độ của tăng trưởng kinh tế: 10
1.1.1.3 Ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế: 11
1.1.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế 12
1.1.2.1 Mức tăng trưởng tuyệt đối 12
1.1.2.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế 12
1.1.2.3 Thu nhập bình quân đầu người 13
1.1.3. Một số học thuyết và mô hình tăng trưởng kinh tế 13
1.1.3.1 Học thuyết John Maynard Keynes về tăng trưởng kinh tế 13
1.1.3.2 Mô hình tăng trưởng Harrod – Domar 15
1.2. Điều kiện của tăng trưởng kinh tế 17
1.2.1 Các điều kiện của tăng trưởng kinh tế 17
1.2.1.1 Tài nguyên thiên nhiên 17
1.2.1.2 Nguồn nhân lực 18
1.2.1.3 Công nghệ 18
2
1.2.1.4 Vốn 19
1.2.2 Nguồn vốn đối với tăng trưởng kinh tế: Tín dụng ngân hàng 22
1.2.2.1 Các kênh huy động vốn cho nền kinh tế 22
1.2.2.2 Tín dụng ngân hàng đối với tăng trưởng kinh tế tại các nước đang phát
triển 23
1.3 Tín dụng ngân hàng và tăng trưởng kinh tế tại một số quốc gia trên thế giới 24
CHƯƠNG 2 – THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG VÀ TĂNG

Tran
g
Bảng 1. Tỷ trọng đóng góp của các yếu tố tới tăng trưởng kinh tế ở một số quốc
gia
22
Bảng 2. Kết quả hồi quy mô hình theo phương pháp OLS ứng dụng Eviews 4 50
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Tran
g
Hình 1.1. Sơ đồ vai trò của hệ thống tài chính 23
Hình 1.2. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc và thế giới 1980 – 2012. 26
Hình 1.3. Tốc độ phát triển của tín dụng tại Trung Quốc giai đoạn 2005 – 2012 27
Hình 1.4. Tốc độ tăng trưởng tín dụng ngân hàng ở Ấn Độ giai đoạn 1994 – 2012 27
Hình 2.1. Tăng trưởng GDP hàng năm của một số nước Châu Á từ 1986 – 2000 29
Hình 2.2. Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2001 – 2012 30
Hình 2.3. GDP và lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2001 – 2012 31
Hình 2.4. Tỷ lệ lam phát của Việt Nam và một số quốc gia khác 32
Hình 2.5. GDP bình quân đầu người/năm của Việt Nam giai đoạn 1980 – 2010 32
Hình 2.6. Đóng góp của vốn, lao động và TFP tới tăng trưởng kinh tế 33
Hình 2.7. Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP 2006 – 2011 34
Hình 2.8. Hệ số ICOR của Việt Nam qua các thời kì 34
Hình 2.9. Độ sâu tài chính của Việt Nam 36
Hình 2.10.Vốn hóa và mức huy động qua thị trường chứng khoán hàng năm 39
Hình 2.11. Số lượng ngân hàng Việt Nam qua các năm 1991 – 2011 40
Hình 2.12. Tăng trưởng GDP, tín dụng/GDP của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2011 41
Hình 2.13. Tín dụng/GDP của các 1 số nước châu Á giai đoạn 2001 – 2010 43
Hình 2.14. Biểu đồ tốc độ tăng trưởng tín dụng, tốc độ tăng trưởng kinh tế và CPI
của Việt Nam 2001 – 2012
43
5

6
hơn nhiều so với các nước trong khu vực. Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt
Nam trong những năm gần đây bắt đầu có dấu hiệu suy giảm, với 5.89% năm 2011
và 5.03% năm 2012, nhưng vẫn đạt được mục tiêu mà Đảng và Quốc hội đề ra.
Tuy nhiên, xét về mặt bản chất, tăng trưởng kinh tế Việt Nam là không bền vững,
chưa có chiều sâu và phụ thuộc nhiều vào nhân tố vốn. Thị trường chứng khoán
Việt Nam với 12 năm phát triển chưa thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc
huy động và cung cấp vốn cho nền kinh tế, và tín dụng ngân hàng trở thành kênh
dẫn vốn chủ yếu cho nền kinh tế Việt Nam.
Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài “Mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và
tăng trưởng kinh tế Việt Nam” được nghiên cứu với mục tiêu tìm ra mối quan hệ
giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và tốc độ tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, từ đó
đưa ra những khuyến nghị đối với Chính phủ và NHNN về việc tạo ra một tốc độ
tăng trưởng tín dụng phù hợp với tăng trưởng kinh tế và nâng cao hiệu quả của tín
dụng ngân hàng hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững mà Đảng và
Quốc hội đề ra.
7
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm hệ thống hóa lý thuyết về tăng trưởng
kinh tế và các điều kiện tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra
và làm rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế tại Việt
Nam, từ đó, đề xuất với NHNN và Chính phủ những khuyến nghị liên quan đến tín
dụng nhằm hỗ trợ tốt nhất cho tăng trưởng kinh tế.
3. Phạm vi nghiên cứu
Tăng trưởng kinh tế là kết quả của nhiều nhân tố khác nhau, bao gồm nhân
tố vốn, nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, công nghệ… Tuy nhiên, trong
phạm vi bài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu muốn nhấn mạnh đến vai trò của
vốn đối với sự phát triển của nền kinh tế.
Về mặt lý luận, nhóm nghiên cứu về mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng
và tăng trưởng kinh tế.

9
CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC ĐÁNH GIÁ MỐI QUAN HỆ
GIỮA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1.1. Các vấn đề về tăng trưởng kinh tế
1.1.1 Khái niệm và bản chất của tăng trưởng kinh tế
1.1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng
sản phẩm quốc dân (GNP) trong một thời gian nhất định.
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản sản
phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng
được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định
(thường là một năm tài chính).
Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằng
tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước
trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Tổng sản phẩm quốc dân bằng
tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng.
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng sản phẩm mà nền kinh tế tạo ra theo
thời gian hay là sự tăng lên về số lượng, chất lượng hàng hóa và dịch vụ trong nền
kinh tế. Vì vậy, nó tạo tiền đề vật chất cho sự phát triển nói chung và là cơ sở để
thực hiện hàng loạt các vấn đề kinh tế, chính trị và xã hội.
GDP - tổng sản phẩm trong nước đồng thời phản ánh tổng thu nhập nhận
được và tổng chi tiêu của nền kinh tế. Tăng trưởng kinh tế làm tăng thu nhập của
người dân, tăng mức thỏa mãn trong xã hội: các điều kiện sống như nhà ở, thức ăn,
quần áo, cũng như các dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục, Qua đó, phúc lợi xã hội
và chất lượng cuộc sống không ngừng được cải thiện.
10
Như vậy, về bản chất, tăng trưởng kinh tế không chỉ là sự tăng lên của tổng
sản phẩm hàng hóa dịch vụ trong một thời kỳ nhất định mà còn là sự gia tăng của
mức sản xuất của xã hội, từ đó làm thỏa mãn nhu cầu vật chất của mỗi cá nhân,
hay chính là sự tăng lên về phúc lợi xã hội, chất lượng cuộc sống mà mỗi cá nhân

chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, đó là phát triển bền vững về kinh
tế, phát triển bền vững về xã hội và phát triển bền vững về môi trường".
1.1.1.3 Ý nghĩa của tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Khi một nền kinh tế có tỷ lệ tăng trưởng cao thì một trong những nguyên nhân
quan trọng là đã sử dụng tốt hơn lực lượng lao động. Vì vậy, tăng trưởng kinh tế
nhanh thì thất nghiệp có xu hướng giảm. Mối quan hệ giữa tăng trưởng thực tế và
tỷ lệ thất nghiệp ở nước phát triển đã được lượng hoá dưới tên gọi quy luật Okun
(quy luật 2.5% – 1). Quy luật này xác định: nếu GDP thực tế tăng 2.5% so với mức
tiềm năng thì tỉ lệ thất nghiệp giảm đi 1%.
Mặt khác, với tư cách là một chỉ tiêu cơ bản trong phát triển kinh tế – xã hội
ở các quốc gia, tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự lớn lên về quy mô, số lượng
của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, tăng trưởng kinh tế được sử dụng để
đánh giá thành tựu kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia. Do đó, đây luôn là một trong
những mục tiêu thường xuyên hàng đầu mà mỗi quốc gia hướng tới.
Thông qua các chính sách điều tiết nhằm duy trì một tốc độ tăng trưởng kinh
tế ổn định, mang tính bền vững nhằm tạo điều kiện cho sự ổn định kinh tế vĩ mô,
12
nâng cao chất lượng cuộc sống và phúc lợi xã hội, xóa đói giảm nghèo, vai trò
quản lý của Nhà nước ngày càng được khẳng định, góp phần ổn định chính trị,
nâng cao uy tín, sự tín nhiệm của người dân đối với Nhà nước.
Tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với xã hội, nhiều sản
phẩm hàng hóa, dịch vụ hơn đồng nghĩa với mức độ thỏa mãn lớn hơn. Tuy nhiên,
tăng trưởng không chỉ hiểu đơn thuần là tăng thu nhập bình quân đầu người, mà
phải gắn với phát triển bền vững, chú trọng tới cả ba nhân tố: kinh tế, xã hội và
môi trường. Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn, tăng thu nhập cần phải
gắn với tăng chất lượng cuộc sống hay tăng phúc lợi và xóa đói nghèo. Tăng
trưởng không nhất thiết phải đạt tốc độ quá cao, mà chỉ cần cao ở mức hợp lý
nhưng bền vững.
1.1.2 Đo lường tăng trưởng kinh tế

hơn mà mỗi người dân được hưởng thì người ta sử dụng chỉ tiêu thu nhập bình
quân đầu người. Chỉ tiêu này được tính bằng tổng thu nhập cá nhân trên dân số.
1.1.3. Một số học thuyết và mô hình tăng trưởng kinh tế
Trên thực tế, có rất nhiều lý thuyết và mô hình về tăng trưởng kinh tế. Tuy
nhiên, để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, nhóm nghiên cứu tập trung đi sâu vào học
thuyết của John Maynard Keynes và mô hình Harrod – Domar về tăng trưởng kinh
tế.
1.1.3.1 Học thuyết John Maynard Keynes về tăng trưởng kinh tế
Trước những thất bại thị trường không thể được giải quyết trong giai đoạn
1929 – 1933, Keynes đã đưa ra lý thuyết “bàn tay hữu hình” có tác động tích cực
14
đưa nền kinh tế thế giới vượt qua khủng hoảng, theo đó khẳng định vai trò điều tiết
của Nhà nước trong quá trình vận hành của nền kinh tế.
Keynes đã đưa ra mô hình tổng cầu (AD):
(1)
Trong đó: Y là tổng lượng cầu về sản phẩm của nền kinh tế, C là chi tiêu
tiêu dùng, I là đầu tư, G là chi tiêu chính phủ, NX là xuất khẩu ròng
Theo đó, để kinh tế tăng trưởng phải làm tăng các biến số trong hàm AD. Để
đảm bảo sự cân bằng kinh tế, khắc phục khủng hoảng và duy trì tăng trưởng thì
không thể chỉ dựa vào sự tự điều tiết của thị trường mà còn cần có sự can thiệp của
Nhà nước vào nền kinh tế để tăng cầu có hiệu quả, kích thích tiêu dùng, sản xuất,
kích thích đầu tư để tăng thu nhập, giảm thất nghiệp. Theo Keynes, Chính phủ có
thể can thiệp vào nền kinh tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng thông qua các hoạt động:
đầu tư Nhà nước, hệ thống tài chính tín dụng và lưu thông tiền tệ, các hình thức
khuyến khích tiêu dùng.
Ngoài ra, Keynes cho rằng đầu tư đóng vai trò quyết định đến quy mô việc
làm và theo đó là tăng trưởng kinh tế. Mỗi sự gia tăng của đầu tư đều kéo theo sự
gia tăng của cầu bổ sung nhân lực, cầu về tư liệu sản xuất, do vậy làm tăng cầu tiêu
dùng, tăng giá hàng hóa, tăng việc làm. Tất cả điều đó làm thu nhập tăng lên. Tăng
thu nhập lại là tiền đề cho sự gia tăng đầu tư mới. Đây chính là quá trình số nhân

cho doanh nghiệp (I) tạo ra tăng tổng thu nhập xã hội. Theo đó, vốn đóng vai trò
quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế.
Trong khi đó, mô hình Harrod – Domar lại cho thấy mối quan hệ thuận
chiều giữa mức tích lũy của nền kinh tế (S) và tăng trưởng kinh tế: g=S/k. Ở đây
có một giả định quan trọng là S=I. Tiết kiệm, mức tích lũy của nền kinh tế là
nguồn chính cấp vốn cho đầu tư sản xuất kinh doanh, tuy nhiên trên thực tế, nguồn
vốn không phải luôn chuyển hoàn toàn từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn do nó
cần thông qua hệ thống tài chính và do đó phụ thuộc vào hoạt động của hệ thống
này trong hoàn cảnh cụ thể. Như vậy, một nền kinh tế kinh tế sẽ tăng trưởng nhanh
khi có một cơ chế hiệu quả chuyển tiết kiệm, tích lũy thành đầu tư, qua đó cấp vốn
cho hoạt động sản xuất, tạo ra giá trị.
17
Như vậy, xét về mặt bản chất, học thuyết của J.M Keynes và mô hình tăng
trưởng của Harrod – Dormar là giống nhau, và đều dẫn đến kết luận, vốn là điều
kiện quan trọng để tăng trưởng kinh tế.
1.2. Điều kiện của tăng trưởng kinh tế
Sau khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển lẫn các
nước đang phát triển, những nhà kinh tế học đều thống nhất rằng động lực của phát
triển kinh tế phải được đi cùng trên bốn bánh xe, hay bốn nhân tố của tăng trưởng
kinh tế là nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên, tư bản và công nghệ. Bốn nhân tố này
khác nhau ở mỗi quốc gia và cách phối hợp giữa chúng cũng khác nhau đưa đến
kết quả tương ứng.
1.2.1 Các điều kiện của tăng trưởng kinh tế
1.2.1.1 Tài nguyên thiên nhiên
Là một trong những yếu tố sản xuất cổ điển, những tài nguyên quan trọng
nhất là đất đai, khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ, rừng và nguồn nước. Đối với hầu
hết các nước, việc tích lũy vốn đòi hỏi một quá trình lâu dài, gian khổ liên quan
chặt chẽ với tiêu dùng trong nước và thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài. Tuy nhiên,
có nhiều quốc gia, nhờ những ưu đãi của tự nhiên có nguồn tài nguyên lớn, đa dạng
nên có thể rút nhắn quá trình tích lũy vốn bằng cách khai thác các sản phẩm thô để

thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, có những bước tiến như
vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản xuất. Tuy nhiên, thay đổi công nghệ
19
không chỉ thuần túy là việc tìm tòi, nghiên cứu; công nghệ có phát triển và ứng
dụng một cách nhanh chóng được là nhờ "phần thưởng cho sự Đổi Mới" – sự duy
trì cơ chế cho phép những sáng chế, phát minh được bảo vệ và được trả tiền một
cách xứng đáng.
1.2.1.4 Vốn
Vốn là yếu tố vật chất đầu vào quan trọng có tác động trực tiếp đến tăng
trưởng kinh tế. Tùy theo mức độ tư bản mà người lao động được sử dụng những
máy móc, thiết bị nhiều hay ít (tỷ lệ tư bản trên mỗi lao động) và tạo ra sản lượng
cao hay thấp. Để có được tư bản, phải thực hiện đầu tư nghĩa là hy sinh tiêu dùng
cho tương lai. Điều này đặc biệt quan trọng trong sự phát triển dài hạn, những quốc
gia có tỷ lệ đầu tư tính trên GDP cao thường có được sự tăng trưởng cao và bền
vững. Thực tế cho thấy, vốn là động lực chính của tăng trưởng tại các quốc gia
đang phát triển, tại các quốc gia này so với các yếu tố khác, vốn chiếm tỷ trọng cao
nhất. Lý giải cho điều này đó là bởi những nước này đang từ quá trình sản xuất
công nghiệp nhỏ tiến lên công nghiệp hóa và tăng quy mô vốn gần như là cách
nhanh nhất để tăng tốc quá trình này. Việc yếu tố vốn đóng vai trò lớn đối với tăng
trưởng kinh tế cũng thể hiện sự tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng của các nước
đang phát triển.
Như vậy, tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, công nghệ và vốn là bốn
yếu tố chính của tăng trưởng kinh tế và có ý nghĩa quyết định tới tăng trưởng kinh
tế của một quốc gia. Trên thực tế, hiện nay bên cạnh những yếu tố này, có một yếu
tố khá được quan tâm khi bàn về tăng trưởng. Đó là năng suất yếu tố tổng hợp –
Total Factor Productivity (TFP) phản ánh sự đóng góp của các yếu tố vô hình như
kiến thức – kinh nghiệm – kỹ năng lao động, cơ cấu lại nền kinh tế hay hàng hoá –
dịch vụ, chất lượng vốn đầu tư mà chủ yếu là chất lượng thiết bị công nghệ, kỹ
20
năng quản lý Tác động của nó không trực tiếp như năng suất bộ phận mà phải

Quốc gia
Giai đoạn 1990 – 2000 Giai đoạn 2000 – 2008
Các yếu tố tạo ra tăng trưởng Các yếu tố tạo ra tăng trưởng
Vốn
Lao
động
TFP Vốn
Lao
động
TFP
Tỷ trọng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế
Trung Quốc 36% 7% 54% 42% 6% 52%
Ấn Độ 40% 23% 38% 42% 22% 36%
Việt Nam 34% 22% 44% 53% 19% 28%
Campuchia 38% 34% 27% 47% 39% 14%
Bảng 1. Tỷ trọng đóng góp của các yếu tố tới tăng trưởng kinh tế ở một số quốc
gia
Nguồn: số liệu của WDI, tính toán của ACI
Nhìn bảng số liệu có thể thấy vốn cũng đóng góp một tỷ lệ cao đối với tăng
trưởng và có xu hướng gia tăng trong giai đoạn 2000 – 2008 tại Trung Quốc và Ấn
Độ, hai nền kinh tế mới nổi và ngày càng có ảnh hưởng đối với kinh tế thế giới.
Trong các trụ cột của tăng trưởng kinh tế, vốn là yếu tố quan trọng nhất đối
với các quốc gia đang phát triển. Vì vậy, việc huy động và tận dụng vốn một cách
hiệu quả nhất, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững luôn là vấn đề
được các quốc gia quan tâm.
22
1.2.2 Nguồn vốn đối với tăng trưởng kinh tế: Tín dụng ngân hàng
1.2.2.1 Các kênh huy động vốn cho nền kinh tế
Tiết kiệm là nguồn hình thành nên vốn đầu tư, tiết kiệm được chuyển thành
đầu tư càng nhanh và hiệu quả thì càng đẩy nhanh sự gia tăng thu nhập quốc dân.

để đáp ứng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, song các kênh cung cấp
vốn lại chưa thực sự phát triển để đáp ứng được nhu cầu này. Thực vậy, kênh tài
chính trực tiếp là thị trường chứng khoán tại các quốc gia này mới hình thành và
còn tồn tại nhiều bất cập, mặc dù có những đóng góp nhất định trong việc huy
động vốn cho nền kinh tế nhưng rất nhỏ. Thị trường chứng khoán vẫn chưa thể trở
thành động lực tăng trưởng chính của các quốc gia này, tại đây thị trường này
giống như một thị trường đầu cơ hơn là tạo ra một kênh dẫn vốn hiệu quả.
24
Một đặc điểm nữa của các nước đang phát triển là doanh nghiệp vừa và nhỏ
chiếm tỷ trọng lớn nhất và đóng góp nhiều nhất vào tổng sản phẩm quốc dân. Tuy
nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại rất khó huy động vốn từ việc phát hành trái
phiếu hay cổ phiếu do để được huy động vốn từ các kênh này cần đạt tới quy mô
vốn nhất định cũng như có uy tín và niềm tin với công chúng. Đi vay các ngân
hàng sẽ là lựa chọn phù hợp nhất với các doanh nghiệp này khi mà họ tìm kiếm
nguồn tài trợ ngoài vốn tự có. Ngay cả đối với các công ty quy mô lớn, việc vay
vốn ngân hàng vẫn sẽ là một trong những lựa chọn hàng đầu do việc huy động từ
thị trường chứng khoán không hiệu quả và việc sử dụng nợ đứng trên giác độ chi
phí sẽ giúp cho doanh nghiệp hưởng lợi từ lá chắn thuế. Thông qua việc cung ứng
vốn cho các doanh nghiệp để đầu tư, sản xuất, kinh doanh, tín dụng ngân hàng thúc
đẩy việc gia tăng sản lượng của nền kinh tế. Ngoài ra, trong quá trình cung cấp tín
dụng cho doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung các ngân hàng sẽ tham
gia giám sát quá trình sử dụng vốn từ đó làm tăng hiệu quả sử dụng nguồn vốn tín
dụng từ đó làm tăng hiệu quả sử dụng vốn tính cho cả nền kinh tế.
1.3 Tín dụng ngân hàng và tăng trưởng kinh tế tại một số quốc gia trên
thế giới.
Thực tế các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ, đằng sau thành
tích tăng trưởng ấn tượng là sự đóng góp không nhỏ của tín dụng ngân hàng. Trong
suốt thời gian qua, các quốc gia này có tốc độ tăng trưởng tín dụng khá cao và
được duy trì trong một thời gian tương đối dài cho thấy sự mở rộng liên tục của tín
dụng ngân hàng tại các quốc gia này. Tín dụng ngân hàng đã cung cấp một nguồn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status