Tình hình thâm hụt ngân sách. Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế - Pdf 24

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KINH TẾ-LUẬT

BÀI THẢO LUẬN
Học phần: Kinh tế vĩ mô 1
Đề tài : Phân tích tình hình thâm hụt ngân sách ở Việt Nam trong thời
gian qua?Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam.
Hà Nội, ngày 30 tháng 10 năm 2014
NHÓM 1 Page 1
LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại, vai trò quản lý và điều tiết vĩ
mô nền kinh tế - xã hội của nhà nước được đề cao hơn bao giờ hết. Để đảm trách
vai trò này, nhà nước phải nắm bắt các công cụ tài chính - tiền tệ, trong đó cân đối
ngân sách nhà nước được xem là một trong những công cụ sắc bén để nhà nước can
thiệp toàn diện vào nến kinh tế. Nói đến ngân sách nhà nước thì không thể không
nói đến tình trạng thâm hụt ngân sách_căn bệnh kinh niên của mọi nhà nước. Ngay
cả khi Hoa Kỳ- một trong những cường quốc có nền kinh tế đứng đầu thế giới hiện
nay cũng phải đối mặt với vấn đề này và tất nhiên Việt Nam là một nước không
ngoại lệ.
Mức độ thâm hụt ngân sách ở nước ta đang có xu hướng gia tăng và ngày
càng tác động tiêu cực đến đời sống nhân dân cũng như toàn bộ nền kinh tế. Hay
nói cách khác đay chính là một trong những nguy cơ làm khủng hoảng nền kinh tế,
gia tăng lạm phát gây khó khăn cho chính phủ trong việc thực hiện các chính sach
tài khóa và tiền tệ.
Nghiên cứu về thâm hụt ngân sách , mối quan hệ thâm hụt ngân sách cũng
như chỉ số kinh tế vĩ mô tăng trưởng kinh tế được nhiều sự quan tâm của các nhà
kinh tế trong và ngoài nước.
Vậy thâm hụt ngân sách nhà nước là gì? Thực trạng vấn đề thâm hụt ngân
sách diễn ra ở Việt Nam trong 5 năm trở lại đây như thế nào? Mối quan hệ giữa
thâm hụt ngân sách với tăng trưởng kinh tế ra sao? Giải pháp nào để xử lý thâm hụt

C- Phân loại thâm hụt ngân sách :
+ Thâm hụt ngân sách thực tế: đó là thâm hụt khi số chi thực tế vượt số
thu thực tế trong thời kì nhất định.
+ Thâm hụt ngân sách cơ cấu: đó là thâm hụt tính tóan trog trường hợp
nền kinh tế họat động ở mức SLTN khi cơ cấu thu chi không cân đối.
NHÓM 1 Page 3
+ Thâm hụt ngân sách chu kì: đó là thâm hụt ngân sách bị động do tình
trạng của chu kì kinh doanh
D- Tăng trưởng kinh tế :
+ Tăng trưởng kinh tế: Là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tiến bộ,
mở rộng qui mô về mặt số lượng của các yếu tố của nền kinh tế trong một thời kỳ
nhất định nhưng trong khuôn khổ giữ nguyên về mặt cơ cấu và chất lượng.
+ Tăng trưởng kinh tế thực chất là sự lớn mạnh của nền kinh tế chỉ đơn
thuần về mặt số lượng; đây là sự biến đổi có ý nghĩa tích cực, mặc dù nó cũng giúp
cho xã hội có thêm các điều kiện vật chất cụ thể để đáp ứng các nhu cầu đặt ra của
công dân, của xã hội.
+ Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta dùng mức tăng thêm của
tổng sản lượng nền kinh tế của thời kì sau so với thời kì trước:
Y
o
: Tổng sản lượng thời kì trước
Y
1
: Tổng sản lượng thời kì sau
Mức tăng trưởng tuyệt đổi : delta = Y
1
- Y
o
.
Mức Tăng trưởng tương đối: = Y

ngân sách nhà nước.
Năm 2010, tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước đã được cải thiện đáng
kể. Tỷ lệ thâm hụt ngân sách đã giảm xuống -5.6%, thấp hơn năm trước 1,3% song
con số này vẫn khá cao so với các nước châu Á.
-Năm 2011, tình trạng thâm hụt ngân sách cũng có những chuyển biến tích
cực, tỷ lệ thâm hụt chỉ còn 4.9%, thấp hơn năm 2010 0.7%. Con số đó đã phản ánh
sự nỗ lực của Chính phủ trong việc tăng các nguồn thu từ xuất-nhập khẩu, thu từ
dầu thô và thu nội địa, tăng từ 456.500 tỷ đồng lên 590.000 tỷ đồng.
Lúc này, T tăng nhanh nên hiệu số B=T-G đã được cải thiện. (Theo số liệu
của Tổng TTĐT Bộ Tài chính-
http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungsolieungansachnhanu
oc?categoryId=10000500&articleId=10002558).
-Năm 2012, tỷ lệ thâm hụt ngân sách nhà nước đã giảm nhẹ 0.1% xuống còn
4.8%. Đó là do tuy tổng thu ngân sách nhà nước tăng nhanh (từ 595 tỷ đồng năm
2011 lên 740.5 tỷ đồng) song tổng chi cũng theo đó tăng mạnh (từ 725.6 tỷ đồng
năm 2011 lên 903.1 tỷ đồng).
Trong trường hợp này, T tăng song G cũng tăng nên hiệu số B không có
nhiều chuyển biến.
-Năm 2013, tỷ lệ thâm hụt ngân sách nhà nước có dấu hiệu tăng trở lại, ước
tính 5.3%, tăng 0.5% so với 2012. Mặc dù tổng thu tăng cao (lên mức 816.000 tỷ
đồng) song con số này chỉ phản ánh sự tăng lên của nguồn thu thuế. (Nguyên nhân
của hiện tượng này là do tác động của sự tăng lên của mức giá chung của các loại
hàng hóa dịch vụ. Nói cách khác, bản chất của nguồn thu tăng là do ảnh hưởng của
lạm phát.)
NHÓM 1 Page 6
Trong khi đó, tổng chi năm 2013 là 978.000 tỷ đồng, cao hơn nhiều so với
tổng thu. Tổng thu tăng chậm hơn tổng chi (tức T tăng chậm hơn G) chính là
nguyên nhân khiến tỉ lệ thâm hụt ngân sách năm 2013 tăng trở lại.
2.Nguyên nhân tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước
Nguyên nhân chung

Rịa- Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh, Bão Sơn tinh đổ bộ ngày 25/10…)
• Năm 2011
-Khủng hoảng nợ công ở Châu Âu khiến tình hình kinh tế thế giới có nhiều
bất ổn, đà phát triển chậm lại, từ đó khiến tình hình kinh tế trong nước gặp nhiều
khó khăn
NHÓM 1 Page 7
-Tuy nhiên, nhờ nỗ lực của Chính phủ trong việc tăng các nguồn thu từ xuất-
nhập khẩu, thu từ dầu thô và thu nội địa mà tình trạng thâm hụt ngân sách đã được
cải thiện.
3.Giải pháp cho vấn đề thâm hụt ngân sách:
a) Phát hành tiền
Khi ngân sách nhà nước thâm hụt,Chính phủ có thể tài trợ số thâm hụt của
mình bằng cách phát hành thêm lượng tiền cơ sở,đặc biệt là trong trường hợp nền
kinh tế đất nước suy thoái.Khi sản lượng thực tế thấp hơn mức sản lượng tiềm năng
thì việc tài trợ số thâm hụt của chính phủ bằng cách phát hành thêm lượng tiền cơ
sở sẽ góp phần thực hiện những mục đích của chính sách ổn định hoá kinh tế thông
qua việc đưa nền kinh tế tiến đến gần mức sản lượng tiềm năng mà không gây lạm
phát. Ngược lại,khi nhu cầu của nền kinh tế quá mạnh (sản lượng thực tế cao hơn
mức sản lượng tiềm năng) thì chính phủ không nên tài trợ số thâm hụt của mình
bằng cách tăng nhanh lượng tiền cơ sở ,vì như vậy sẽ càng kích tổng cầu lên cao và
đẩy sản lượng thực tế vượt xa mức sản lượng tiềm năng,hậu quả là làm tăng lạm
phát
Ưu điểm của biện pháp này là nhu cầu bù tiền để bù đắp ngân sách nhà nước
được đáp ứng một cách nhanh chóng, không phải trả lãi, không phải gánh thêm các
gánh nặng nợ nần. Nhưng, nhược điểm của biện pháp này lại lớn hơn rất nhiều lần.
Việc in thêm và phát hành thêm tiền sẽ khiến cho cung tiền vượt cầu tiền. Nó đẩy
cho việc lạm phát trở nên không thể kiểm soát nổi. Trong những năm 80 của thế kỷ
20, nước ta đã bù đắp bội chi ngân sách nhà nước bằng cách in thêm tiền đưa vào
lưu thông. Việc này đã đẩy tỷ lệ lạm phát đỉnh điểm lên tới hơn 600%, nền kinh tế
bị trì trệ Chính vì những hậu quả đó, biện pháp này rất ít khi được sử dụng. Và từ

*Viện trợ và vay nợ nước ngoài:
- Viện trợ nước ngoài: bao gồm viện trợ không hoàn lại và viện trợ có hoàn
lại với lãi suất thấp và thời hạn trả nợ dài hơn so với các khoản vay trên thị trường
quốc tế. Viện trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ, các tổ chức
liên chính phủ, các tổ chức quốc tế cấp cho chính phủ một nước nhằm thực hiện các
chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn
viện trợ phát triển chính thức (ODA). Nguồn viện trợ này được các tổ chức quốc tế
chủ động phân bổ theo những tiêu chuẩn do Liên Hợp Quốc qui định đối với các
loại quỹ chung hoặc do các tổ chức quốc tế chuyên ngành cấp đối với các loại quỹ
ủy thác trên cơ sở các dự án xây dựng trước của nước nhận viện trợ. Nhìn chung,
viện trợ quốc tế là nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn đang thiếu hụt
trong nước, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, vấn đề quan trọng ở đây là
các nước nhận viện trợ cần có phương án sử dụng vốn viện trợ có hiệu quả.
-Vay nợ nước ngoài: là những khoản cho vay của nước ngoài theo điều kiện
thương mại và lãi suất thị trường. Vay nước ngoài có thể thực hiện dưới các hình
thức: phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ mạnh ra nước ngoài, vay bằng hình thức
tín dụng xuất khẩu (khi nhà nước mua hàng của nước ngoài nhưng được hoãn trả
nợ trong một thời gian nhưng phải chịu lãi suất trên khoản nợ đó) và vay từ các
ngân hàng thương mại nước ngoài. Cũng giống như nguồn vốn viện trợ, vay nợ
nước ngoài là nguồn vốn quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Điểm khác
nhau là do vay theo điều kiện thương mại phải chịu lãi suất tương đối cao, vì vậy
việc tính toán sử dụng nguồn vốn này cho có hiệu quả là hết sức cần thiết, khoản
vay nợ này sẽ trở thành gánh nặng cho ngân sách.
c) Tăng thuế
Trên thực tế, tăng thuế là giải pháp không dễ áp dụng và rất tốn kém. Tăng
thuế có khả thi hay không còn phụ thuộc vào sức chịu đựng của nền kinh tế, phụ
thuộc vào hiệu quả làm việc của hệ thống thu,phụ thuộc vào hiệu suất của từng sắc
thuế. Trong thời kỳ kinh tế suy thoái, hoạt động kinh tế mờ nhạt thì tăng thuế
NHÓM 1 Page 9
không những không khả thi mà còn cản trở hoạt động sản xuất kinh doanh,trực tiếp

1.1.Phân tích:
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước:
Theo đà suy giảm kinh tế những tháng cuối năm 2008, tốc độ tăng tổng sản
phẩm trong nước quý I/2009 chỉ đạt 3,14%, là quý có tốc độ tăng thấp nhất trong
nhiều năm gần đây;nhưng quý II, quý III và quý IV của năm 2009, tốc độ tăng tổng
sản phẩm trong nước đã nâng dần lên lần lượt là 4,46%; 6,04% và 6,9%. Tính
chung cả năm 2009, tổng sản phẩm trong nước tăng 5,32%, bao gồm: khu vực
nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,83%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng
5,52%; khu vực dịch vụ tăng 6,63%.
Bảng số liệu tổng sản phẩm trong nước năm 2009 theo giá so sánh 1994 (đơn
vị: %)
Phân theo khu vực kinh tế Phân theo quý trong năm Tổng
Nông lâm
và thủy sản
Công nghiệp
và xây dựng
Dịch
vụ
Quý 1 Quý 2 Quý 3 Quý
4
Năm
2008
4,07 6,11 7,18 7,49 5,72 5,98 5,89 6,18
Năm
2009
1,83 5,52 6,63 3,14 4,46 6,04 6,90 5,32
NHÓM 1 Page 11
1.2.Nguyên nhân
Bước sang năm 2009, nền kinh tế nước ta tiếp tục gặp nhiều khó khăn và
thách thức. Khủng hoảng tài chính của một số nền kinh tế lớn trong năm 2008 đã

sản
Công
nghiệp
và xây
dựng
Dịch vụ Quý
1
Quý
2
Quý
3
Quý
4
Năm
2009
1,82 5,52 6,63 3,14 4,46 5,98 6,90 5,32
Năm
2010
2,78 7,70 7,52 5,84 6,44 7,18 7,34 6,78
Biểu đồ tăng trưởng kinh tế tính theo quý qua các năm 2008,2009,2010
NHÓM 1 Page 13
Biểu đồ thể hiện tăng trưởng kinh tế các quý trong năm 2009-2010
2.2.Nguyên nhân.
Kinh tế thế giới năm 2010 mặc dù đang phục hồi sau khủng hoảng tài chính
toàn cầu và có những chuyển biến tích cực, song nhìn chung chưa thực sự ổn định
NHÓM 1 Page 14
và còn tiềm ẩn nhiều yếu tố bất lợi tác động đến kinh tế nước ta. Ở trong nước,
thiên tai liên tiếp xảy ra, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống dân cư.
Năm 2010 là năm có ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng, đây là năm cuối thực hiện
Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010 và Chiến lược phát triển kinh

2010 2011
Tổng số 6,78 5,89
Phân theo khu vực kinh tế
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 2,78 4,00
Công nghiệp và xây dựng 7,70 5,53
Dịch vụ 7,52 6,99
Phân theo quý trong năm
Quý I 5,84 5,57
Quý II 6,44 5,68
Quý III 7,18 6,07
Quý IV 7,34 6,10
NHÓM 1 Page 16
Biểu đồ thể hiện tăng trưởng kinh tế phân theo khu vực ngành của Việt Nam giai đoạn 2008-
2011(đơn vị: %
3.2.Nguyên nhân.
Năm 2011 là năm đầu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm
2011-2015, nước ta có những thuận lợi cơ bản: Tình hình chính trị ổn định; kinh tế-
xã hội phục hồi trong năm 2010 sau hơn một năm bị tác động mạnh của lạm phát
tăng cao và suy thoái kinh tế toàn cầu.
Tuy nhiên, gặp phải những khó khăn, thách thức tiềm ẩn trong nội tại nền
kinh tế thế giới: vấn đề nợ công, tăng trưởng kinh tế chậm lại. Giá hàng hóa, giá
dầu mỏ và giá một số nguyên vật liệu chủ yếu tăng cao và có diễn biến phức tạp. Ở
NHÓM 1 Page 17
trong nước, lạm phát và mặt bằng lãi suất cao gây áp lực cho sản xuất và đời sống
dân cư.
Trước tình hình đó, Đảng, Quốc hội và Chính phủ đã tập trung lãnh đạo, chỉ
đạo thường xuyên và quyết liệt các ngành, các cấp, địa phương và tập đoàn kinh tế
cùng nhân dân cả nước trên tinh thần chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn,
quyết tâm thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra.
4.Tình hình tăng trưởng kinh tế năm 2012.

2,72 4,52 6,42 4,64 4,80 5,05 5,44 5,03
NHÓM 1 Page 18
4.2.Nguyên nhân.
Kinh tế - xã hội nước ta năm 2012 tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự bất ổn của
kinh tế thế giới do khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở Châu Âu chưa
được giải quyết. Suy thoái trong khu vực đồng euro cùng với khủng hoảng tín dụng
và tình trạng thất nghiệp gia tăng tại các nước thuộc khu vực này vẫn đang tiếp
diễn. Hoạt động sản xuất và thương mại toàn cầu bị tác động mạnh, giá cả hàng hóa
diễn biến phức tạp. Tăng trưởng của các nền kinh tế đầu tàu suy giảm kéo theo sự
sụt giảm của các nền kinh tế khác. Một số nước và khối nước lớn có vị trí quan
trọng trong quan hệ thương mại với nước ta như: Mỹ, Trung Quốc, Nhật bản và EU
đối mặt với nhiều thách thức nên tăng trưởng chậm. Những bất lợi từ sự sụt giảm
của kinh tế thế giới ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống
dân cư trong nước. Thị trường tiêu thụ hàng hóa bị thu hẹp, hàng tồn kho ở mức
cao, sức mua trong dân giảm. Tỷ lệ nợ xấu ngân hàng ở mức đáng lo ngại. Nhiều
doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa phải thu hẹp sản xuất, dừng hoạt
động hoặc giải thể.
Trước bối cảnh bất lợi đó, Đảng, Quốc hội và Chính phủ thẳng thắn nhìn
nhận và chỉ ra những yếu kém trong nội tại nền kinh tế, đồng thời phân tích sâu
những cơ hội và thách thức, trên cơ sở đó ban hành nhiều văn bản quan trọng cùng
những định hướng đúng đắn trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành kinh tế-xã hội.
5.Tình hình tăng trưởng kinh tế năm 2012.
5.1.Phân tích.
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2013 ước tính tăng 5,42% so với năm
2012, trong đó quý I tăng 4,76%; quý II tăng 5,00%; quý III tăng 5,54%; quý IV
tăng 6,04%. Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mục tiêu tăng 5,5% đề ra
nhưng cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012 và có tín hiệu phục hồi.
Về cơ cấu trong quy mô nền kinh tế cả năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
NHÓM 1 Page 19

quyết gây áp lực lớn cho sản xuất kinh doanh: Hàng tồn kho ở mức cao, sức mua
yếu, tỷ lệ nợ xấu ngân hàng ở mức đáng lo ngại, nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp
sản xuất, dừng hoạt động hoặc giải thể
Trước tình hình đó, ngay từ đầu năm, Chính phủ đã kịp thời ban hành hai
Nghị quyết quan trọng là Nghị quyết số 01/NQ-CP về những giải pháp chủ yếu chỉ
đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách
nhà nước năm 2013 và Nghị quyết số 02/NQ-CP về một số giải pháp tháo gỡ khó
khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu.
Mục tiêu tổng quát của phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 là: “Tăng cường
ổn định kinh tế vĩ mô; lạm phát thấp hơn, tăng trưởng cao hơn năm 2012. Đẩy
NHÓM 1 Page 20
mạnh thực hiện ba đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô
hình tăng trưởng. Bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Nâng cao hiệu quả
công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế. Tăng cường quốc phòng, an ninh và bảo
đảm ổn định chính trị-xã hội. Tạo nền tảng phát triển vững chắc hơn cho những
năm tiếp theo”.
6.Tình hình tăng trưởng kinh tế năm 2014.
6.1. Sáu tháng đầu năm 2014.
6.1.1.Phân tích.
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2014 ước tính tăng
5,18% so với cùng kỳ năm 2013, trong đó quý I tăng 5,09%; quý II tăng 5,25%.
Đây là mức tăng GDP cao so với mức tăng cùng kỳ năm 2012 và 2013 [1] và cả ba
khu vực đều có mức tăng cao hơn mức tăng cùng kỳ năm 2013.
Cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm nay vẫn theo hướng tích cực. Khu vực
nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 17,69%; khu vực công nghiệp và xây
dựng chiếm 38,70%; khu vực dịch vụ chiếm 43,61% (Cơ cấu tương ứng của cùng
kỳ năm 2013 là: 18,18%; 38,70%; 43,12%).
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
6 tháng đầu năm các năm 2012, 2013 và 2014

6.2. Chín tháng năm 2014.
6.2.1. Phân tích.
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng năm 2014 ước tính tăng 5,62% so
với cùng kỳ năm 2013, trong đó quý I tăng 5,09%; quý II tăng 5,42%; quý III tăng
6,19%. Đây là mức tăng cao so với mức tăng cùng kỳ năm 2012 và 2013[1], cho
thấy dấu hiệu tích cực của nền kinh tế.
Về cơ cấu kinh tế 9 tháng năm nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
chiếm tỷ trọng 17,40%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,04%; khu vực
dịch vụ chiếm 44,56% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2013 là: 17,85%;
37,86% và 44,29%).
NHÓM 1 Page 22
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước 9 tháng các năm 2012, 2013 và 2014
9 tháng 2012 9 tháng 2013 9 tháng 2014
Nông nghiệp 2,50 2,39 3,00
Công nghiệp 5,76 5,20 6,42
Dịch vụ 5,66 6,25 5,99
Tổng 5,10 5,14 5,62
6.2.2. Nguyên nhân.
Kinh tế - xã hội nước ta 9 tháng năm 2014 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế
giới hồi phục chậm và không đồng đều giữa các nền kinh tế sau suy thoái toàn cầu.
Ngoài ra, tình hình chính trị bất ổn tại một số quốc gia, nhất là khu vực châu Âu
dẫn đến kinh doanh trong lĩnh vực thương mại và công nghiệp cũng như xuất khẩu
của khu vực đồng EURO bị ảnh hưởng mạnh bởi các biện pháp trừng phạt kinh tế
giữa các nước trong khu vực.
Ở trong nước, kinh tế vĩ mô diễn biến theo hướng tích cực. Tuy nhiên, tổng
cầu của nền kinh tế tăng chậm, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp còn khó khăn, tồn kho hàng hóa vẫn ở mức cao. Sức hấp thụ vốn của nền
kinh tế còn yếu. Tình hình biển Đông có nhiều diễn biến phức tạp, ảnh hưởng phần
nào đến động thái phát triển kinh tế - xã hội và đời sống dân cư cả nước.

trưởng kinh tế và ngược lại song cũng chỉ ra một số vấn đề cần lưu ý khi xem xét
về mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong
những năm gần đây.
Thực tế, chiều tác động của mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách với tăng
trưởng kinh tế phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và đặc điểm phát triển của nền kinh tế
trong từng giai đoạn. Ngoài ra một số điểm khác biệt ở Việt Nam trong phân tích
những tác động của chính sách chi ngân sách đến các biến số kinh tế vĩ mô là do có
sự xuất hiện của các khoản thu và chi chuyển nguồn.
NHÓM 1 Page 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status