NỢ CÔNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN NỀN KINH TẾ
GS.TS Ngô Thế Chi
Giám đốc Học Viện Tài Chính
Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính nổ ra tháng 9/2008 đang chồng chất lên
vai các quốc gia gánh nặng nợ nần do họ phải đi vay để chi tiêu và cứu trợ kinh tế.
Hy Lạp đứng trước nguy cơ vỡ nợ, nhiều nước trong khu vực đồng euro cũng nợ ở
mức báo động. Mức nợ công của Việt Nam nếu tính theo GDP sắp xấp xỉ mức nợ
tối thiểu tính theo GDP đối với các thành viên thuộc khu vực euro.
Hai năm trước, Hy Lạp gia nhập khu vực đồng euro. Ngày nay, với nợ công
lên tới 110% GDP, Hy Lạp bị khủng hoảng và gặp khó khăn trong việc thanh toán
nợ cũ, khó bán các khoản nợ mới ở mức giá hợp lý; thậm chí có nguy cơ bị khai
trừ hoàn toàn khỏi thị trường nợ. Thế giới đứng trước nguy cơ Hy Lạp trở thành
một Lehman Brothers, tập đoàn đầu tư lớn thứ tư của Mỹ, phá sản tháng 9/2008, là
mồi lửa gây "hoả hoạn" Phố Wall, lây lan ra hệ thống ngân hàng Mỹ và thế giới.
Khủng hoảng nợ nhà nước của Hy Lạp cũng có khả năng lây lan thành một đợt rối
loạn tài chính toàn cầu mới.
Dưới sức ép của EU, Hy lạp có 3 tháng để tự cứu mình. Quốc hội Hy Lạp
vừa thông qua các giải pháp thắt lưng buộc bụng mất lòng dân, "đau đớn nhất" mà
hoàn cảnh trước đây không cho phép thực hiện, như cắt giảm chi tiêu khu vực nhà
nước, hạn chế trả lương, thưởng và ngừng trợ cấp hưu trí; tăng thuế giá trị gia tăng,
tăng thuế nhiên liệu, thuốc lá, rượu và hàng xa xỉ.
Hy Lạp, cũng như các nước sử dụng đồng euro, đã từng thực hiện nhiều thủ
thuật che giấu thực trạng tài chính và nhằm đạt được những chỉ tiêu đề ra cho các
nước thành viên, như tổng dư nợ không quá 60% GDP và thâm hụt ngân sách hàng
năm không quá 3% GDP. Để đạt được những chỉ tiêu ấy, nhiều năm qua các chính
phủ EU đã bán ra nhiều tài sản quốc gia và che giấu nhiều khoản chi. Hy Lạp che
giấu một số khoản chi quốc phòng, với lý do "bí mật nhà nước". Năm 2000, Hy
Lạp báo cáo chi 828 triệu euro (1,13 tỉ USD) cho quân sự, chỉ bằng 1/4 con số 3,17
tỉ euro mà sau đó họ thừa nhận đã chi cho quốc phòng. Nay Hy Lạp thừa nhận đã
báo cáo mức chi cho quốc phòng thấp hơn thực tế tới 8,7 tỉ euro trong giai đoạn
hỗ trợ cần thiết từ các tổ chức tín dụng quốc tế, thế nhưng, "thắt lưng buộc bụng"
lại dẫn tới những cuộc biểu tình phản đối của quần chúng, gây căng thẳng, bất ổn
chính trị, xã hội, bởi những người nghèo, những người yếu thế trong xã hội là
những người bị tác động mạnh nhất từ chính sách cắt giảm phúc lợi, cắt giảm chi
tiêu của chính phủ. Chẳng hạn, để được nhận gói cứu trợ nhằm giải quyết khủng
hoảng nợ, Chính phủ Hy Lạp đã phải quyết định tăng nhiều loại thuế, từ thuế giá trị
gia tăng đến thuế thu nhập, thuế bất động sản; và đánh thuế vào nhiều sản phẩm
như rượu, thuốc lá , đồng thời chấp nhận áp dụng các biện pháp cắt giảm chi tiêu
mạnh tay. Để phản đối chính sách này của chính phủ, các cuộc tổng đình công đã
diễn ra, hàng chục ngàn người đã tham gia biểu tình trên khắp đất nước Hy Lạp,
nhất là tại thủ đô A-ten.
Năm 2001, Ác-hen-ti-na đã phải đối mặt với tình trạng rối loạn nghiêm trọng
do các làn sóng biểu tình khắp nơi phản ứng các biện pháp "thắt lưng buộc bụng",
để rồi Tổng thống Ác-hen-ti-na khi đó là ông Féc-nan-đô đơ la Rua đã phải từ
chức, và 4 ngày sau đó, người kế nhiệm là A-đôn-phơ Rô-ri-get Saa phải tuyên bố
tình trạng vỡ nợ quốc gia, với khoản nợ 90 tỉ USD - mức nợ lớn nhất trong lịch sử
đất nước này.
- Trong thời điểm hiện nay, khi nền kinh tế toàn cầu mới thoát khỏi khủng
hoảng, bắt đầu có dấu hiệu phục hồi do kết quả của các gói kích thích kinh tế mà
chính phủ các nước đã chi ra trong những năm trước đây, thì việc cắt giảm chi tiêu,
tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư, kìm hãm sự phục hồi của nền kinh tế, làm chậm tốc
độ tăng trưởng, thậm chí có thể đẩy nền kinh tế vào "khủng hoảng kép". Nghiêm
trọng hơn, việc tung ra các gói kích thích kinh tế chính là một trong những nguyên
nhân làm tăng nợ công của các chính phủ, vậy nếu như khủng hoảng "tái xuất" thì
liệu các chính phủ có còn đủ khả năng xoay xở, cứu vãn nền kinh tế của mình?
Vấn đề đặt ra cho các chính phủ là phải chèo lái để giải quyết được thâm hụt ngân
sách nhưng không đẩy nền kinh tế trở lại tình trạng suy thoái, trong khi các biện
pháp để giải quyết hai vấn đề này lại có tác động không thuận chiều.
- Khi nợ công liên tục tăng cao, nÒn kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm theo báo cáo
của các tổ chức chuyên đi đánh giá tín nhiệm các công ty và quốc gia khác, niềm
dẫn nền kinh tế đến bên bờ vực phá sản. Ngược lại, nếu yên tâm với tỉ lệ nợ công
còn trong giới hạn an toàn, mà không phân tích cẩn trọng, chú ý đúng mức đến
khoản nợ đó được hình thành như thế nào, bằng cách nào, thực trạng nền kinh tế ra
sao và khả năng trả nợ thế nào , cũng sẽ dễ đẩy nền kinh tế rơi vào vòng xoáy
thâm hụt ngân sách - "thắt lưng buộc bụng" - tác động tiêu cực đến tăng trưởng.
Nî c«ng ë ViÖt nam
ViÖt nam quan niÖm, nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ
bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Theo định nghĩa này, tổng số dư nợ công
đến cuối năm 2009 của Việt Nam ước khoảng 44,7% GDP, trong đó nợ của Chính
phủ là 35,4% GDP, nợ được Chính phủ bảo lãnh là 7,9% GDP và nợ của chính
quyền địa phương là 1,4% GDP.
Theo khái niệm nµy th× nợ c«ng của ViÖt nam hẹp hơn so với khái niệm
phổ biến của quốc tế. Theo Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Hội
nghị của LHQ về thương mại và phát triển (UNCTAD), nợ công còn bao gồm các
nghĩa vụ nợ của ngân hàng trung ương, các đơn vị trực thuộc chính phủ (bao gồm
cả doanh nghiệp nhà nước) ở tất cả các cấp chính quyền. Có lẽ đây là nguyên nhân
làm cho số liệu về nợ công của Việt Nam trong cơ sở dữ liệu của một số tổ chức
quốc tế cao hơn hẳn so với số liệu của ViÖt Nam.
Một xu thế rất đáng lo ngại là cũng trong giai đoạn 2001-2009, thâm hụt
ngân sách (cả trong và ngoài dự toán) tăng từ 2,8% GDP lên tới 9% GDP. Như
vậy, trong khi nợ công tăng liên tục thì ngân sách lại ngày càng trở nên thâm hụt.
Điều này vi phạm một nguyên tắc cơ bản của quản lý nợ công bền vững, đó là nợ
công ngày hôm nay phải được tài trợ bằng thặng dư ngân sách ngày mai.
Hơn thế, thâm hụt ngân sách ở Việt Nam đã trở thành kinh niên và mức
thâm hụt đã vượt xa ngưỡng "báo động đỏ" 5% theo thông lệ quốc tế, khiến tính
bền vững của nợ công càng bị giảm sút. Trong khi đó, với nhu cầu tiếp tục đầu tư
để phát triển, chắc chắn nợ công của Việt Nam sẽ còn tăng trong nhiều năm tới. Cụ
thể là, với tỉ lệ tiết kiệm nội địa chỉ khoảng 27% GDP trong khi mức đầu tư toàn xã
hội mỗi năm khoảng 42% GDP thì Chính phủ sẽ phải tiếp tục đi vay rất nhiều (bên
cạnh vốn đầu tư nước ngoài) để bù đắp khoản thiếu hụt đầu tư.
sở hữu bình quân của các ngành trong năm 2009 (khoảng 20%).
Ba lµ, Đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm : Khủng hoảng nợ công châu Âu có
thể tạo ra t¸c động trái chiều hoàn toàn với luồng vốn FDI trên phạm vi toàn cầu.
Trong những quốc gia có trình độ phát triển tương đương với các nước thuộc EU
sẽ hưởng lợi do nguồn vốn FDI dịch chuyển từ châu Âu sang các quốc gia này khi
nhà đầu tư muốn tránh thuế thu nhập doanh nghiệp đang có xu hướng tăng cao tại
các quốc gia châu Âu.
Ngược lại, các nước có trình độ phát triển thấp như Việt Nam lại hoàn toàn
không được hưởng lợi từ việc dịch chuyển luồng vốn FDI khỏi châu Âu do sự
chênh lệch quá lớn về trình độ công nghệ, trong khi luồng vốn từ các nhà đầu tư
châu Âu vào các quốc gia này giảm sút do cuộc khủng hoảng nợ.
Bèn lµ, Giá vàng bùng nổ : Các nhà đầu tư trên thế giới đang tìm vàng như một nơi
trú ẩn an toàn trước nguy cơ cuộc khủng hoảng nợ châu Âu ngày một lan rộng, làm
cho giá vàng trong thời gian qua tăng mạnh, lên mức trên 1.300 USD/ounce. Điều
này phản ánh nhu cầu về dự trữ an toàn hơn so với đồng tiền giấy, sau khi nhiều cá
nhân và tổ chức ở châu Âu, châu Á đua nhau mua vàng, mua bạch kim và bạc.
Việc giá vàng tăng cùng với xu hướng tăng mạnh của đồng USD là điều ít
khi xảy ra. Rất có thể sẽ tăng tới một kỷ lục mới trong thời gian tới và tạo sự tách
biệt hoàn toàn giữa giá tài sản vàng và các tài sản khác. Điều này sẽ tác động xấu
đến đầu tư toàn thế giới và Việt Nam bởi một khi vàng chiếm tỉ trọng lớn trong
danh mục đầu tư của các tổ chức thì cũng đồng nghĩa với việc các danh mục khác
như cổ phiếu, trái phiếu sẽ bị giảm mạnh. Như vậy, luồng vốn đầu tư gián tiếp
càng trở nên hạn chế.
Bèn lµ, Bảo hiểm rủi ro tín dụng (CDS) xu hướng tăng lên; Vấn đề Hy Lạp
đang làm cho các nhà đầu tư trên thế giới càng trở nên thận trọng hơn với các quốc
gia có vấn nạn tương tự : 3 số liệu cảnh báo bao gồm : nợ quá nhiều, thể hiện ở tỉ lệ
nợ trên GDP cao; chi tiêu quá mức, thể hiện ở mức thâm hụt ngân sách lớn so với
GDP; và tốc độ tăng trưởng GDP sụt giảm.
Hệ quả là Việt Nam với tỉ lệ nợ cao, thâm hụt ngân sách triển miên đang bị
các tổ chức tài chính quốc tế xếp vào mục rủi ro cao, với mức CDS là 263, xếp
của PMU 18 và hệ quả của nó. Mục tiêu sử dụng vốn ODA là đầu tư vào cơ sở hạ
tầng với thời hạn dài, hoàn vốn lâu, quản lý vốn qua nhiều cấp. Mặt khác, cơ chế
quản lý nợ công của Việt Nam còn chồng chéo giữa nhiều cơ quan chức năng, khả
năng quản lý nợ, nhất là của chính quyền địa phương và vốn vay được Chính phủ
bảo lãnh, còn nhiều bất cập. Vì vậy, nếu không xem xét quản lý nợ công nghiêm
túc thì tác động của nó tới nền kinh tế mai sau sẽ không phải là nhỏ, nhất là kinh tế
Việt Nam được đánh giá là có độ mở cao trên thế giới.