Đồ án tốt nghiệp – GVHD: Th.S Khúc Thị An
Trần Thị Kim Chi
Lớp 49 Công nghệ sinh học – Đại học Nha Trang BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
= = =
= = =
TRẦN THỊ KIM CHI
Trần Thị Kim Chi
Lớp 49 Công nghệ sinh học – Đại học Nha Trang BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
= = =
= = =
TRẦN THỊ KIM CHI
Thế là bốn năm học cũng đã trôi qua thật nhanh, bốn năm với những kỉ
niệm vui buồn có lẽ tôi sẽ không bao giờ có thể quên được, giờ đây khi sắp phải
chia xa với bạn bè với thầy cô, với giảng đường thân thương này trong lòng tôi
lâng lâng một niềm bồi hồi khó tả, xin cám ơn tất cả các thầy cô những người
đang ngày đêm vất vả để dẫn dắt chúng em không những trên con đường học
thức mà còn trong lối sống nhân bản để làm sao trở thành một nhà tri thức có đủ
phẩm chất và năng lực làm việc, thầy cô đã tận tình giúp đỡ chúng em như
những anh chị đi trước truyền đạt kinh nghiệm cho đàn em tạo nên một mối
quan hệ gần gũi thân thương mà những năm học các cấp dưới chúng em không
cảm nhận được, bao nhiêu công ơn đó chúng em sẽ khắc mãi trong tim mình.
Để hoàn thành đề tài này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn được sự
hỗ trợ rất lớn từ nhiều người, tôi chân thành gửi lời cám ơn tới:
Ban lãnh đạo viện Công Nghệ Sinh Học & Môi Trường, các thầy cô
trong bộ môn Công Nghệ Sinh Học, Đại học Nha Trang đã trang bị cho tôi
những kiến thức cơ bản, làm nền móng để tôi thực hiện đề tài và làm tốt công
việc sau này.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến cô Th.S Khúc Thị An, xin
cám ơn cô đã tận tình hướng dẫn và cung cấp cho tôi những tư liệu quý giá, tạo
mọi điều kiện để cho tôi hoàn thành tốt đề tài này.
Cám ơn chị Nhật cán bộ phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học đã luôn
giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi hoàn thành đợt thực tập.
Các bạn Huyền, Chi, Dung…trong tập thể lớp 49SH, đã động viên giúp
đỡ tôi trong suốt khóa học.
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến anh Hiến ở trại nấm Suối Tiên đã giúp đỡ
tận tình để tôi hoàn thành tốt đề tài.
Đồ án tốt nghiệp – GVHD: Th.S Khúc Thị An
Trần Thị Kim Chi
Lớp 49 Công nghệ sinh học – Đại học Nha Trang
Trang
Danh mục chữ viết tắt i
Danh mục bảng ii
Danh mục đồ thị iii
Danh mục hình iv
LỜI MỞ ĐẦU
Phần 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1
I. Tổng quan về nấm Bào ngư Nhật ( Pleurotus abalonus) 1
I.1. Vị trí phân loại, chu trình đời sống, hình thái và giá trị dinh dưỡng của
nấm Bào ngư Nhật 1
I.1.1.Vị trí, phân loại 1
I.1.2. Hình thái nấm Bào ngư Nhật 1
I.1.3. Chu trình sống nấm Bào ngư 3
I.2. Nhu cầu dinh dưỡng của nấm Bào ngư Nhật 4
I.3. Giá trị của nấm Bào ngư Nhật 8
I.3.1. Giá trị dinh dưỡng nấm Bào ngư Nhật 8
I.3.2. Giá trị dược liệu nấm Bào ngư 10
I.4. Khả năng chuyển hóa môi trường của nấm Bào ngư 11
I.5. Một số điểm lưu ý khi trồng nấm bào ngư Nhật 13
1.6. Bảo quản chế biến nấm bào ngư Nhật 15
1.6.1 Bảo quản nấm bào ngư Nhật 15
1.6.2. Chế biến nấm bào ngư Nhật 15
I.7 Thực trạng công nghệ sản xuất và chế biến nấm bào ngư Nhật của Việt
Nam và thế giới 16
1.7.1. Tình hình trong nước 16
1.7.2. Tình hình trên thế giới 16
1.7.3. Thị trường tiêu thụ nấm bào ngư Nhật 17
I.8. Tình hình sản xuất và chế biến nấm trên địa bàn tỉnh Gia Lai 18
III.1. Tốc độ tăng trưởng hệ sợi nấm Nhật P. abalonus trên môi trường giá
thể tổng hợp 47
III.2 Sự tạo quả thể 48
PHẦN 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
4.1. Kết luận 53
4.2.Kiến nghị 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC Đồ án tốt nghiệp – GVHD: Th.S Khúc Thị An
Trần Thị Kim Chi
Lớp 49 Công nghệ sinh học – Đại học Nha Trang CHỮ VIẾT TẮT P. eryngii, P. e : Pleurotus eryngii
P. abalonus : Pleurotus abalonus
P. ostreatus : Pleurotus ostreatus
P. sapidus : Pleurotus sapidus
P. sajor-caju : Pleurotus sajorcaju
P. florida : Pleurotus florida
PE : Polyetylen
PGA : Potato Glucose Agar
Pleurotus spp : Pleurotus special plural
Pleurotus sp, P. sp : Pleurotus special
thạch PGA 36
Bảng 10. Tốc độ sinh trưởng hệ sợi (mm) của nấm bào ngư Nhật P. abalonus
trên môi trường hạt lúa 40
Bảng 11:Tốc độ tăng trưởng của hệ sợi nấm bào ngư Nhật P. abalonus trên môi
trường cọng 44
Bảng 12. Tốc độ tăng trưởng hệ sợi nấm Bào ngư Nhật P. abalonus trên cơ chất
tổng hợp vỏ cà phê 47
ii
Đồ án tốt nghiệp – GVHD: Th.S Khúc Thị An
Trần Thị Kim Chi
Lớp 49 Công nghệ sinh học – Đại học Nha Trang DANH MỤC ĐỒ THỊ
Trang
Đồ thị 1: Tốc độ tăng trưởng của hệ sợi nấm bào ngư Nhật trên môi trường thạch PGA 36
Đồ thị 2. Tốc độ lan tơ của nấm Bào ngư Nhật P. abalonus trên môi trường hạt
lúa (mm/ngày) 40
Đồ thị 3 : Tốc độ tăng trưởng của hệ sợi nấm bào ngư Nhật P. abalonus trên môi
trường cọng mì 44
Đồ thị 4 : Tốc độ tăng trưởng của hệ sợi nấm bào ngư Nhật P. Abalonus trên cơ
chất tổng hợp vỏ cà phê 47
Hình 8: Tủ cấy đơn giản 26
Hình 9: Lò hấp bịch meo giống 26
Hình 10: Cấu tạo của lò hấp khử trùng 27
Hình 11: Lò hấp bịch phôi 27
Hình 12: Phân lập giống từ tổ chức mô của nấm bào ngư 29
Hình 13: Nhân giống cấp hai 30
Hình 14: Cấy giống từ chai giống cấp hai sang chai giống cấp ba 31
Hình 18: Tạo lỗ hình nón ở giữa bịch phôi 33
Hình 19: Tiến hành ủ vỏ cà phê 34
Hình 20: Xếp bịch phôi lên kệ và ủ 34
Hình 21: Tơ nấm bào ngư Nhật xuất hiện dịch đen 38
Hình 22: Tơ nấm bào ngư nhật trên môi trường thạch PGA 39
Hình 23: Tơ nấm bào ngư Nhật trong môi trường hạt 42
Hình 24: Tơ nấm bào ngư Nhật xuất hiện dịch đen 43
Hình 26: Tơ nấm bào ngư Nhật trên môi trường cọng mì 46
Hình 27:Bịch phôi nấm bào ngư Nhật trồng trên cơ chất vỏ cà phê 49
Hình 28: Các dạng quả thể nấm bào ngư Nhật trên vỏ cà phê 50 iv
Đồ án tốt nghiệp – GVHD: Th.S Khúc Thị An
Trần Thị Kim Chi
Lớp 49 Công nghệ sinh học – Đại học Nha Trang LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây nấm ăn được người tiêu dùng xem như loại rau
sạch và an toàn, giàu dinh dưỡng nên được tiêu thụ mạnh.Chính vì thế nghề trồng
Lớp 49 Công nghệ sinh học – Đại học Nha Trang nông nghiệp khác, chất thải này phân hủy lâu hơn, gây ô nhiễm môi trường, đây là
nguồn phế thải quan trọng. Trong khi các nước trên thế giới đã có những công trình
xử lý vỏ cà phê để sản xuất thức ăn cho gia súc gia cầm, trồng nấm ăn, ứng dụng lên
men tạo phân bón; sản xuất hương thơm tự nhiên, nghiên cứu ứng dụng nhiệt
năng thì ở nước ta, rất ít công trình nghiên cứu đến việc ứng dụng của phế phẩm này.
Người nông dân nước ta thường đem đốt vỏ cà phê thành tro hoặc đổ hết ra
vườn, phế thải này chậm phân hủy nên phát sinh nhiều mầm bệnh gây ô nhiễm môi
trường. Vậy để khắc phục được điều này, biện pháp kinh tế và an tòan hơn cả là tận
dụng vỏ cà phê làm môi trường nuôi trồng nấm sẽ góp phần quan trọng trong việc
xử lý vỏ cà phê và góp phần bảo vệ môi trường. Do đó chúng tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu nuôi trồng nấm bào ngư Nhật P. abalonus trên cơ chất vỏ cà phê ”
nhằm mục đích:
1. Chuyển hóa vỏ cà phê thành cơ chất dinh dưỡng để nuôi trồng nấm bào
ngư Nhật.
2. Xây dựng quy trình trồng nấm bào ngư Nhật phù hợp với thực tế tình
hình nguyên liệu vỏ cà phê ở Gia Lai.
3. Góp phần giảm thiểu các vấn đề ô nhiễm môi trường do vỏ cà phê gây ra. Đồ án tốt nghiệp – GVHD: Th.S Khúc Thị An
Trần Thị Kim Chi
Lớp 49 Công nghệ sinh học – Đại học Nha Trang
1
Phần 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Đồ án tốt nghiệp – GVHD: Th.S Khúc Thị An
Trần Thị Kim Chi
Lớp 49 Công nghệ sinh học – Đại học Nha Trang
2 Hình 1. Các giai đoạn phát triển của quả thể nấm Bào ngư
• Dạng san hô (hình 1a): quả thể mới tạo thành, dạng sợi mảnh hình chum.
• Dạng dùi trống (hình 1b): mũ xuất hiện dưới dạng khối tròn, còn cuống
phát triển cả về chiều ngang và chiều dài nên đường kính cuống và mũ không khác
bao nhiêu.
• Dạng phễu (hình 1c): mũ mở rộng, trong khi cuống còn ở giữa (giống cái phễu).
• Dạng bán cầu lệch (hình 1d): cuống lớn nhanh một bên và bắt đầu lệch so
với vị trí trung tâm của mũ.
• Dạng lá lục bình (hình 1e): cuống ngừng tăng trưởng, trong khi mũ vẫn
tiếp tục phát triển, bìa mép thẳng đến dợn sóng.
Từ giai đoạn phễu sang bán cầu lệch có sự biến đổi về chất (giá trị dinh
dưỡng), còn từ giai đoạn bán cầu lệch sang dạng lá có sự nhảy vọt về khối lượng
(trọng lượng tăng), sau đó giảm dần. Vì vậy, thu hái nấm Bào ngư Nhật nên chọn
lúc tai nấm vừa chuyển sang dạng lá.
Hình 2 : Nấm bào ngư Nhật (Pleurotus abalonus )
Đồ án tốt nghiệp – GVHD: Th.S Khúc Thị An
Trần Thị Kim Chi
Lớp 49 Công nghệ sinh học – Đại học Nha Trang
3
Đồ án tốt nghiệp – GVHD: Th.S Khúc Thị An
Trần Thị Kim Chi
Lớp 49 Công nghệ sinh học – Đại học Nha Trang
4 Hình 3. Chu trình sống của nấm Bào ngư Nhật
I.2. Nhu cầu dinh dưỡng của nấm Bào ngư Nhật
Nấm sử dụng nitơ để cấu tạo nên màng sợi nấm dưới dạng các hợp chất
kitin. Ngoài ra, còn tham gia vào thành phần cấu trúc của tế bào, cơ thể dưới dạng
protein, coenzyme… Do đó, nguồn nitơ còn phụ thuộc vào hydrate carbon và các
yếu tố trong quá trình nuôi cấy.
Đối với nấm Bào ngư là loài có khả năng sử dụng lignin mạnh, nhất là thời
gian khởi đầu của việc tạo quả thể nấm. Thí nghiệm của Zadrazil (1980) cho thấy
hầu hết các cơ chất nuôi trồng nấm Bào ngư đều có sự giảm lignin một cách đáng kể.
Ở gỗ mà nấm thường mọc, hầu như rất nghèo đạm. Vì vậy, để nấm mọc tốt
cần có thêm nguồn đạm thích hợp. Nhiều thí nghiệm bổ sung muối Nitrat, muối
Amonium và Urea cho thấy: tơ nấm tăng trưởng tốt nhất trên nguyên liệu có thêm
Urea. Bột đậu nành, bột lông vũ cũng là nguồn bổ sung rất tốt cho Bào ngư. Ngoài
ra, mỗi tác giả cũng tìm thấy một loại đạm thích hợp cho nấm.
Martínez MJ và cộng sự (1990) tiến hành khảo sát khả năng sinh enzyme
Manganese peroxydase của P. eryngii thì cho thấy: khi dùng Ammonium tartrate
làm nguồn nitơ thì khả năng sinh enzyme này hầu như không có, thay vào đó, nếu
dùng N – base thì hàm lượng enzyme này sinh ra rất cao, lên tới 3 U/ml dịch nuôi cấy.
Đồ án tốt nghiệp – GVHD: Th.S Khúc Thị An
2
C
4
H
4
O
6
P. ostreatus Hashimoto &Takahashin (1976)
Ammonium (NH
4
)
2
HC
6
H
5
O
7
P. ostreatus Voltz (1972)
Potassium nitrate KNO
3
P. sajor-caju Giandaik & kapoor (1976)
P. ostreatus Hashimoto & Takahashin (1976)
Peptone
P. ostreatus Hong (1978) & Sugimori (1971)
Urea NH
2
CONH
2
4
, thì
việc bổ sung 150 – 250 µg Mn và 4 – 12% Cu thì tốc độ phát triển, năng suất và khả
năng kháng bệnh của P. eryngii là cao hơn so với việc không bổ sung hay bổ sung
với lượng Cu < 8% và Mn < 150µg.
Năm 2007, JIN Ping và cộng sự qua nghiên cứu đã kết luận rằng nguồn C và
N bổ sung tốt nhất là từ bột bắp và NH
4
Cl, KH
2
PO
4
là muối khoáng phù hợp nhất,
tiếp theo là MgSO
4
.7H
2
O. Tỷ lệ phối trộn phù hợp nhất theo nhóm tác giả là bột bắp
5%, NH
4
Cl 0,3%, KH
2
PO
4
0,05% và MgSO
4
.7H
2
O 0,15%.
Ngoài các chất dinh dưỡng, sự tăng trưởng và phát triển của nấm còn liên
Với nồng độ CO
2
> 36% sẽ gây ức chế sự phát triển của tơ nấm.
Đồ án tốt nghiệp – GVHD: Th.S Khúc Thị An
Trần Thị Kim Chi
Lớp 49 Công nghệ sinh học – Đại học Nha Trang
7
Độ ẩm cũng rất quan trọng đối với sự phát triển của quả thể. Trong thời kỳ
tưới đón nấm, độ ẩm không khí không được dưới 70%, tốt nhất ở 70 – 95%. Độ ẩm
thấp hơn 70% quả thể bị vàng và khô mép. Ở 50% nấm ngừng phát triển và chết,
dạng bán cầu lệch và dạng lá bị khô mặt và cháy vàng ở bìa mép mũ nấm. Ngược
lại, độ ẩm cao (95%) chưa hẳn đã tốt cho nấm, tai nấm dễ bị nhũn và rũ xuống.
Bảng 2: Nhiệt độ thích hợp cho ủ tơ và ra quả thể của vài loài nấm bào ngư
Loài nấm bào ngư Nhiệt độ thích
hợp cho sự lan tơ
Nhiệt độ thích
hợp ra nấm
Nhiệt độ thích
hợp sản xuất
P.ostreatus
P.florida
P.sajor-caju
P.cortinatus
P.cystidionsus
P.flabellatus
P.eryngii
C
25
0
C
15
0
C
20
0
C
25
0
C
28
0
C
25 – 28
0
C
20 – 25
0
C
20 – 22
0
C
28 – 30
0
C
25 - 28
0
0
C ± 5
0
C
25
0
C ± 5
0
C
30
0
C ±5
0
C
20
0
C ± 5
0
C
[Nguồn : Lê Duy Thắng, 1999]
Cơ chất khi chế biến thường có những biến đổi về pH. Đối với nấm bào ngư
Nhật, khả năng chịu đựng sự giao động pH tương đối tốt, pH môi trường có thể
giảm xuống 4,4 hoặc tăng lên 9 thì tơ nấm vẫn mọc được. Tuy nhiên pH thích hợp
đối với hầu hết các loài nấm bào ngư trong khoảng 5 – 7, pH thấp làm quả thể
không hình thành và ngược lại pH quá kiềm tai nấm bị dị hình.
Philippoussis A. và cộng sự (2001) đã tiến hành trồng P. eryngii trên 3 môi
trường cơ chất khác nhau là môi trường rơm lúa mì, bông phế thải và vỏ hạt đậu
phụng. Kết quả cho thấy tốc độ phát triển tốt nhất là trên môi trường rơm lúa mì.
[Nguồn : Lê Duy Thắng, 1999]
Ánh sáng: yếu tố này chỉ cần thiết trong giai đoạn ra quả thể nhằm kích thích
nụ nấm phát triển. Nhà nuôi trồng nấm cần có ánh sáng khoảng 200 – 300 lux (ánh
sáng khuếch tán – ánh sáng phòng). Còn ánh sánh yếu làm chân nấm dài ra và mũ hẹp.
I.3. Giá trị của nấm Bào ngư Nhật
I.3.1. Giá trị dinh dưỡng nấm Bào ngư Nhật
Nấm bào ngư Nhật có mùi thơm của quả hạnh, vị ngọt và giòn của bào ngư.
Dinh dưỡng nấm bào ngư Nhật rất cao không kém hơn dinh dưỡng các sản phẩm từ
động vật. Kết quả phân tích cho thấy nấm bào ngư Nhật có hàm lượng protein
chiếm khoảng 25%, đặc biệt có chứa hơn 18 loại acid amin, ngoài ra còn có
carbohydrate, nhiều vitamin và các khoáng chất khác. Sử dụng nấm không những
không tăng cân mà còn ngăn ngừa một số bệnh như: giảm cholesterol trong máu,
tiểu đường, béo phì, đau bao tử, rối loạn gan, ung thư, v.v , đồng thời người ăn nấm
thường xuyên sẽ giúp cơ thể tăng tính miễn dịch, điều hòa huyết áp, dễ tiêu hóa và
chống lão hóa.
Nấm ăn nói chung và nấm bào ngư nói riêng là loại thực phẩm có giá trị
dinh dưỡng cao. Hàm lượng protein chỉ đứng sau thịt, cá, giàu các chất khoáng và
các acid amin tan trong nước, các acid amin không thay thế như lyzin, tryptophan,
các acid amin chứa nhóm lưu huỳnh. Ngoài ra chúng còn chứa một lượng lớn các
vitamin quan trọng.
Đồ án tốt nghiệp – GVHD: Th.S Khúc Thị An
Trần Thị Kim Chi
Lớp 49 Công nghệ sinh học – Đại học Nha Trang
9
Thành phần các chất dinh dưỡng chính của một số loài nấm Bào ngư bao
gồm: carbonhydrate, protein, amino acid, chất béo, khoáng chất, hoạt chất và các
vitamin được nhiều nhà dinh dưỡng học quan tâm nghiên cứu, nhằm đánh giá vai
Hàm lượng chất béo nhìn chung là khá thấp, trị số này cao nhất ở loài
Pleurotus cystidiosus (9%) và bằng nhau ở Pleurotus abalonus và Pleurotus
blaoensis.
Đồ án tốt nghiệp – GVHD: Th.S Khúc Thị An
Trần Thị Kim Chi
Lớp 49 Công nghệ sinh học – Đại học Nha Trang
10
Hàm lượng carbonhydrat cao nhất ở Pleurotus abalonus và thấp nhất là ở
Pleurotus blaoensis ; hơn nữa, hàm lượng chất xơ trong Pleurotus abalonus là thấp
nhất, do vậy mà về mặt cảm quan cho thấy nấm Pleurotus abalonus có mùi vị thơm
ngon nhất trong 3 loài, tiếp đến là Pleurotus cystidiosus.
Hàm lượng nước của 3 loài trên dao động trong khoảng 89 - 91.7% nghĩa
là lượng sinh khối khô chỉ vào khoảng 10% song tỷ lệ chất dinh dưỡng rất đáng kể
và cân đối, vượt hơn hẳn các loại rau quả. Do đó quan niệm trước đây coi nấm như
là một loại rau là không chính xác. Hàm lượng protein thô của nấm Bào ngư nếu
như so với các loại thịt cá lượng protein đạt xấp xỉ 40% trọng lượng khô, trị số sinh
năng lượng khá thấp, chỉ cung cấp năng lượng ở mức tối thiểu, đây là một trong
những ưu điểm của loài nấm ăn này, thích hợp cho người ăn kiêng.
I.3.2. Giá trị dược liệu nấm Bào ngư
Ngoài giá trị dinh dưỡng phong phú nấm Bào ngư Nhật còn có giá trị dược
liệu. Ở nấm bào ngư Nhật còn phát hiện được chất kháng sinh, gọi là pleurotin. Chất
này ức chế hoạt động của vi khuẩn Gram dương (Robins và cộng sự, 1947). Bên
cạnh đó, Yoshioka và cộng sự (1975) cũng tìm thấy hai polysaccharide có tính
kháng ung bướu. Cả hai đều có nguồn gốc là glucose. Trong đó chất được biết
nhiều nhất, bao gồm 69% β (1-3) glucan, 13% galactose, 6% mannose, 13% uronic
acid [Lê Duy Thắng, 1999].
và Dehydrogenase chủng P. eryngii có khả năng khử các hợp chất thơm ở dạng
aldehyde acid thành các gốc rượu thơm tương ứng mở ra triển vọng công nghiệp
hương liệu (Gutíerrez và cộng sự, 1996). Kết hợp với Mn trong quá trình lên men
nó còn có khả năng phân hủy thuốc trừ cỏ Atrazine nhờ vào sự gia tăng của các
enzyme P – 450 của hệ Cytochrome, Oxygenase và Peroxydase (Sannia và cộng sự,
1990). Ngoài ra, nhờ vào hoạt động của hệ enzyme đa dạng mà Pleurotus có khả
năng chuyển hóa nhiều loại cơ chất. Đây cũng là triển vọng mới trong công nghệ
sản xuất enzyme ngoại bào cho các nhà nghiên cứu. Điều này cho thấy tiềm năng
của Pleurotus spp trong xử lý môi trường là rất cao.
Nhóm hydro đa vòng thơm là nhóm các hợp chất hữu cơ ô nhiễm môi trường
được nghiên cứu rộng rãi nhất hiện nay. Chúng được hình thành từ quá trình cháy
Đồ án tốt nghiệp – GVHD: Th.S Khúc Thị An
Trần Thị Kim Chi
Lớp 49 Công nghệ sinh học – Đại học Nha Trang
12
hoàn toàn cúa các hợp chất hữu cơ ở nhiệt độ cao. Những nguồn chính thải ra các
nhóm này là: các phương tiện giao thông sử dụng xăng dầu, các lò đốt chất thải
Do có tính phổ biến trong môi trường, đặc biệt một số chất có thể gây ung thư như:
pyrene, fluoren, antraxen nên chúng được xếp vào danh sách các hợp chất ô nhiễm
hàng đầu hiện nay của các tổ chức bảo vệ môi trường trên Thế giới. Qua các nghiên
cứu của các nhà khoa học thì nấm Bào ngư có khả năng chuyển hóa các chất hữu cơ
độc hại nhờ các enzyme được tiết ra từ chúng (Masaphy và cộng sự, 1996; Bezalel
và cộng sự, 1996).
Trong công nghiệp, thuốc nhuộm được thải ra cũng ảnh hưởng nhiều đến
môi trường, theo các nghiên cứu thì nấm Bào ngư P. ostreatus có khả năng chuyển
hóa thuốc nhuộm trong công nghiệp dệt (Vyas B. R. M. và Molitoris H. P., 1995).
Năm 1990, Sannia và cộng sự đã tiến hành quá trình lên men P. eryngii kết
enzyme đa dạng.
I.5. Một số điểm lưu ý khi trồng nấm bào ngư Nhật
Nấm bào ngư rất nhạy cảm với môi trường. Khi nấm ở dạng san hô, nếu
nhiệt độ lên trên 32
0
C trong 1 một giờ, nụ nấm bị khô quéo lại như cỏ úa (hình 1.5).
Cũng như trong giai đoạn này, nếu độ ẩm tăng lên trên 90% nhiều giờ thì nấm non
sẽ bị thối nhũn.
Đặc biệt nước tưới nhiễm phèn hơi nặng (pH axit), thì tai nấm ngã vàng, tai
bị dị dạng, mũ nấm khô nứt. Trường hợp phèn nhẹ cũng làm trên bề mặt mũ nấm có
những nốt sần mở ra thành hốc nhỏ (hình 1.6).
Hình 5: Tai nấm bị khô quéo
Nấm bào ngư Nhật còn đặc biệt nhạy cảm với các tác nhân gây ô nhiễm
môi trường như hóa chất, thuốc trừ sâu, các kim loại nặng… cả trong nguyên liệu,
cũng như không khí nơi nuôi trồng. Tai nấm thường sẽ bị biến dạng hoặc ngừng tạo
quả thể.