nghiên cứu sự biến động về vi sinh vật trên đối tượng chim yến nuôi tại các vùng nam trung bộ và tây nguyên. khảo sát sự nhạy cảm kháng sinh trên loài vi sinh vật đã phân lập được - Pdf 15


LỜI MỞ ĐẦU
Chim yến là một loài động vật quý hiếm đã tồn tại trong thiên nhiên từ rất
lâu mà cho tới bây giờ vẫn chưa có một tài liệu nào nghiên cứu và cho biết rõ về
loài chim này có từ khi nào. Chúng ta chỉ có thể tìm hiểu về lịch sử hình thành chim
yến từ lịch sử về sự tiêu thụ tổ chim yến hãy quay về người Trung Hoa, trong suốt
1.500 triều đại nhà Đường (618-907 sau công nguyên). Người ta tin rằng tổ yến
được các thủy thủ đường biển mang về tư vùng Nan Vang, (vùng phía Nam của
Trung Quốc), và sau đó giới thiệu vào cung vua Trung Quốc như một món ăn cao
lương mỹ vị của hoàng tộc. Từ thời điểm đó người ta mới biết về chim yến là loài
động vất quý hiếm vì giá trị tổ yến do giải nước yến kết tinh mang lại rất cao mặc
dù loài chim này đã có trước đó rất lâu
Trong suốt trong thời đại đó chỉ có các Đế Vương và các quan chức hoàng
triều mới có cơ hội thưởng thức món tổ yến này. Mãi cho đến cuối triều đại này,
người dân thường mới được giới thiệu về chim yến và tổ yến, giá trị cũng như nhu
cầu về tổ yến đã tăng lên kể từ khi đó do sự khan hiếm và dinh dưỡng cao của tổ yến.
Từ các tài liệu đó cho thấy rằng có 1 sự hiểu biết đang được tiến triển về các
loài chim yến xuyên thời gian. Còn về tài liệu trong vòng năm 1587 cho thấy rằng
số lượng chim yến, tổ yến được nhập vào Trung Quốc như một sự đánh thuế. Vào
năm 1618 theo nhiều tài liệu cho thấy rằng số lượng nhập khẩu tăng quá nhiều đến
nỗi số lượng đánh thuế bị sụt giảm. Vào thời đó tổ chim yến được ưa chuộn như 1
thức ăn quý giá bỡi cư dân của 2 tỉnh Guangdong and Fujian ở Trung Quốc. Kể từ
khi đó nhiều tài liệu phủ kín cả những nơi xuất phát nguồn gốc chim yến.
Hàng trăm năm sau đó tổ chim yến cũng dần dần được chấp nhận như một
loại thức ăn quý giá của Trung Quốc. Ngày càng được chấp nhận rộng rãi bởi
người Hoa vì có tính năng chữa bệnh rất hiệu quả.
Dựa vào các nhà nghiên cứu hiện đại, lượng protein chứa trong tổ yến có khả
năng kích thích sự sống của con người tươi trẻ lại thì cũng tự triệt tiêu trong chính
tổ yến. Các nhà nghiên cứu cho biết tổ chim yến chứa một lượng các yếu tố phát
triển biểu bào. Nguồn nước trong tổ chim yến kích thích một cách trực tiếp sự phát


phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học, đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi hoàn
thành đề tài.
Cuối cùng, tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, những
người luôn quan tâm giúp đỡ, động viên, đồng thời là chỗ dựa tinh thần rất lớn
giúp tôi hoàn thành tốt mọi công việc được giao trong suốt thời gian học tập và
thực hiện đồ án vừa qua.
Nha Trang, tháng 7 năm 2012

Sinh viên

Huỳnh Ngọc Hoàng Trang

i
MỤC LỤC

Trang
LỜI MỞ ĐẦU
LỜI CÁM ƠN
DANH MỤC BẢNG BIỂU iv
DANH MỤC HÌNH KÝ HIỆU CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT v
KÝ HIỆU CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN 1
1.1 Tổng quan về chim yến 1

CHƯƠNG II : VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Vật liệu 25
2.1.1 Mẫu 25
2.1.2 Phương pháp lấy mẫu và chuẩn bị mẫu 25
2.1.2.1 Mục đích và yêu cầu của việc lấy mẫu 25
2.1.2.2 Lấy mẫu 25
2.1.3 Trang thiết bị và dụng cụ thí nghiệm 26
2.1.3.1 Thiết bị chuyên dùng 26
2.1.3.2 Hóa cất, môi trường và thuốc thử (xem ở phần phụ lục) 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.3 Phân lập và định danh vi khuẩn bằng các thử nghiệm sinh hóa 27
2.3.1 Phân lập vi khuẩn 27
2.3.2 Định danh vi khuẩn phân lập được bằng các thử nghiệm sinh hóa 36
2.3.2.1 Vi khuẩn E.coli 36
2.3.2.1 Vi khuẩn Salmonella 39
2.3.2.2 Vi khuẩn Vibrio 42
2.4 Phương pháp xác định khả năng mẫn cảm của vi khuẩn E.coli phân lập
được đối với một số loại khái sinh thông dụng 43
CHƯƠNG III : KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 46
3.1 Phân lập vi khuẩn và định danh vi khuẩn bằng các thử nghiệm sinh hóa
46 iii
3.1.1 Vi khuẩn Escherichia coli 46
3.1.2 Vi khuẩn Vibrio 51
3.1.3 Vi khuẩn Salmonella 53
3.1.4 Đặc điểm hình thái tế bào vi khuẩn bằng phương pháp nhuộm Gram57
3.1.4.1 Vi khuẩn E.coli 57
3.1.4.2 Vi khuẩn Vibrio 58


Hình 1.1 Chim Yến 1
Hình 1.2 Bản đồ phân bố của chim yến tại các tỉnh miền Trung và miền Nam 4
Hình 1.3 Tổ Yến 7
Hình 1.4 Khai thác Yến trong hang 10
Hình 1.5 Đường cong sinh trưởng của vi sinh vật 16
Hình 1.6 Tổng số vi khuẩn hiếu khí qua các nồng độ pha loãng 17
Hình 1.7 Coliforms 17
Hình 1.8 Escherichia Coli 18
Hình 1.9 Staphylococcus aureus 19
Hình 1.10 Salmonella 19
Hình 1.11 Vibrio Cholera và Vibrio parahaemolyticus 20
Hình 1.12 Nấm Saccharomyces Cerevisiea 21
Hình 1.13 Vị trí tác dụng chính của một số chất kháng sinh 23
Hình 2.1 Sơ đồ cách tiếp cận các nội dung nghiên cứu của đề tài 27
Hình 2.2 Sơ đồ pha loãng mẫu 28
Hình 2.3 Sơ đồ quy trình phát hiện và định danh E.coli 30
Hình 2.4 Sơ đồ quy trình phát hiện và định danh V.brio 32
Hình 2.5 Sơ đồ quy trình phát hiện và định danh V.brio 34
Hình 3.1 Khuẩn lạc nghi ngờ là E.coli được phân lập trên môi trường EMB 46
Hình 3.2 Kết quả thử nghiệm Indol dương tính của E.coli 48
Hình 3.3 Kết quả thử nghiệm MR dương tính của E.coli 49
Hình 3.4 Kết quả thử nghiệm VP âm tính của E.coli 49
Hình 3.5 Kết quả thử nghiệm Citrate âm tính của E.coli 50
Hình 3.6 Khuẩn lạc nghi ngờ là ibrio parahaemolyticus trên môi trường TCBS 51
Hình 3.7 Kết quả thử nghiệm KIA của các mẫu nghi ngờ Vibrio 52
Hình 3.8 Khuẩn lạc nghi ngờ là Salmonella trên môi trường XLD 54
Hình 3.9 Kết quả thử nghiệm KIA của các mẫu nghi ngờ Salmonella 55
Hình 3.10 Kết quả thử nghiệm Citrate dương tính của các mẫu nghi ngờ là Salmonella 55



1
CHƯƠNG I : TỔNG QUAN
1.1 Tổng quan về chim yến
1.1.1 Giới thiệu các đặc điểm về chim yến
1.1.1.1 Hình dạng và kích thước của chim yến
Chim yến có hình dạng bề ngoài và kích thước giống với các loài chim én.
Nhiều loài yến có hình dáng đặc trưng, với đuôi ngắn và chẻ, các cánh dài cụp về
phía sau, trông tương tự như trăng lưỡi liềm. Chúng có mỏ ngắn, miệng rộng, chân
nhỏ và yếu, với đôi cánh dài hình lưỡi liềm. Chân của chim yến được phủ bằng lớp
da trần và bị thoái hóa, nên không bao giờ đậu trên mặt đất, dây diện, trên cây, chỉ
bám vào các bề mặt thẳng đứng. Thân chim yến to bằng thân chim sẻ nhưng có sải
cánh rộng hơn sải cánh chim bồ câu. Kích thước các loài yến dao động từ nhỏ như ở
yến lùn (Collocalia troglodytes) chỉ cân nặng 5,4g và dài 9cm (3,7 inch) đến yến
đuôi nhọn tía (Hirundapus celebensis) cân nặng 184g và dài 25 cm (10inch) . Như
chúng ta đã biết, trọng lượng một con chim yến ở Việt Nam nặng từ 15 đến 20gr.
Không quá chênh lệch giữa chim bố và chim mẹ. Do được sống ở trong vùng nhiệt
đới luôn có thức ăn là côn trùng bay trong không khí nên chim yến ít thay đổi trọng
lượng cơ thể giữa các mùa.

Hình 1.1 Chim Yến 2
1.1.1.2 Tập quán sinh sống của chim yến
Chim yến thường sinh sống ở đảo hay tại các đô thị có điều kiện phù hợp với
tập quán sinh sống của chúng. Với những đặc tính trên, chim yến có khả năng bay
rất giỏi và sức chịu đựng dẻo dai. Chim yến thường bay theo những tuyến đường
tròn nhưng chỉ theo một hướng.
Yến là loài chim bay ở trên không nhiều nhất, chúng bắt côn trùng làm thức

nơi yến đậu. Còn phần trong tổ là nơi đựng trứng hoặc chỗ ở của chim con.
Tuy nhiên, chất liệu cấu thành tổ yến mới chính là đặc tính phân biệt chim
yến với những loại chim khác trên thế giới. Ngay sau khi giao hợp, chúng tự rút ra
những sợi nước dãi (nước bọt) dài và mọng ra khỏi những tuyến nước bọt bên dưới
lưỡi. Chính những sợi bọt này đóng một vai trò quan trọng trong việc làm tổ.
Tổ chim yến được xây trong mùa sinh sản và do con trống xây trong 35 ngày
. Tổ yến bao gồm nhiều phiến mỏng được dệt từ nhiều sợi tơ bằng nước bọt chim
yến và bện vào nhau. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Hồng Kông, chất
lượng tổ yến trong nhà không thua gì tổ yến ngoài đảo. Yến nuôi trong nhà mỗi năm
có thể cho đến 04 đợt tổ, trong khi yến ở ngoài đảo chỉ cho 01 - 02 đợt. Tổ chim yến
làm lần đầu kéo dài trong 4 tháng, bị thợ yến khai thác, chim lại làm tổ lần 2, 3
khoảng 1 tháng. Tổ yến thường có màu trắng hoặc hồng, đỏ.
Theo các nhà khoa học thì màu sắc của tổ không liên quan đến bản thân con
chim bố mẹ mà chủ yếu là do môi trường. Tổ yến Khánh Hoà có khối lượng nhỏ
hơn tổ yến Bình Ðịnh và Ðà Nẵng. Ở Bình Ðịnh, xí nghiệp khai thác yến sào Quy
Nhơn khai thác lần đầu vào tháng 4. Mỗi năm bình quân thu hoạch 3 lần, thông
thường ở mỗi hang yến có khoảng 2.000 - 3.000 tổ. Hang càng ít tổ thì mật độ tổ
yến cách nhau càng thưa, cũng như loài ong, khoảng cách của tổ yến trong mỗi
hang cho thấy loài chim yến cũng khá kỷ luật trong việc xây dựng quy hoạch nơi ăn
chốn ở của mình.
1.1.1.3 Sự phân bố địa lý của chim yến ở Việt Nam và trên thế giới
Các loài yến phân bố rộng khắp trên thế giới trong khu vực ôn đới và nhiệt
đới, nhưng khi tới mùa đông thì các loài yến sống ở vùng ôn đới di trú về vùng 4
nhiệt đới. Chim yến có tổ ăn được chỉ tập trung ở Sri Lanka, tây nam Ấn Ðộ hoặc
Indonesia, Malaysia, Brunei, Philippines, Campuchia và Việt Nam.

Hình 1.2 Bản đồ phân bố của chim yến tại các tỉnh miền Trung và miền Nam

giống với Malaysia năm 2001. Nếu được chú trọng đầu tư đúng cách, nghề nuôi
chim yến sẽ rất có tiềm năng phát triển và mang lại nguồn thu lớn cho đất nước.
Nuôi chim yến trong nhà đang mở ra triển vọng mới cho Việt Nam, loại
“vàng trắng” thiên nhiên này có khả năng xuất khẩu mang về hàng trăm triệu đô la
Mỹ. Các nước Indonesia, Malaysia, Thái Lan phát triển thành ngành công nghiệp
nuôi chim yến thu lợi khổng lồ. Tại hội thảo khoa học "Nuôi yến trong nhà" do
Viện khoa học công nghệ Phương Nam tổ chức, các chuyên gia khẳng định đầu tư
nuôi chim yến đúng quy trình kỹ thuật thì khả năng thành công cao hơn thất bại.
PGS.TS. Huỳnh Văn Hoàng, viện trưởng Viện khoa học công nghệ Phương
Nam cho biết, Việt Nam có nhiều thuận lợi và tiềm năng phát triển nghề nuôi chim
yến trong nhà như các nước Indonesia, Malaysia, Philippines hay Thái Lan. Hiện
Indonesia có trên 200.000 căn nhà yến, Thái Lan có trên 70.000, Malaysia có trên
35.000… trong khi Việt Nam hiện chỉ có khoảng 3.000 - 5.000 căn quy mô nhỏ lẻ,
tự phát. Sản lượng tổ yến của Indonesia 105 tấn, Thái Lan 35 tấn, Malaysia 12
tấn… Việt Nam hiện có khoảng 4,5 tấn, trong đó Công ty yến sào Khánh Hòa
chiếm 70% nhưng chủ yếu là tổ yến tự nhiên, thu hoạch từ các đảo.
TS. Lê Võ Định Tường (Viện công nghệ Hóa học) khẳng định, chim yến là
đặc sản độc quyền của vùng biển Đông Nam Á, loài chim yến làm tổ có giá trị kinh
tế cao chỉ có vùng biển này vì vậy các nước trong vùng tận dụng ưu thế đẩy mạnh
phát triển nghề nuôi chim yến xuất khẩu. Tại Malaysia, chính phủ cho xây dựng 6
những vùng nuôi chim yến tập trung quy mô công nghiệp, xây dựng “chung cư
chim yến” đến 20 tầng vừa khai thác yến vừa bán trả góp cho các nhà đầu tư.
Nuôi chim yến không cần quỹ đất lớn, có thể xây nhà nuôi ở vùng đất kém
màu mỡ, không sản xuất nông nghiệp được. Thức ăn chim yến là các loại côn trùng
nên góp phần tiêu diệt loài gây hại. Một cặp chim yến có khả năng cho thu nhập 1
triệu đồng/năm, vòng đời chim yến là 12 năm, tương ứng 12 triệu đồng. Anh
Nguyễn Trọng Nghĩa (Bình Thuận) cho biết, một căn nhà yến diện tích 5 x 20 m,

người khai thác từ khoảng thế kỷ 16.
Khi vào mùa làm tổ, yến bố mẹ chọn được vị trí ưng ý cho mình, sau đó làm
dấu và tiến hành xây tổ. Khi tuyến nước bọt của chim tiết ra chất sợi trong suốt,
chúng dùng lưỡi của mình để xây tổ lên vách đá. Nước bọt vừa ra khỏi miệng, gặp
gió sẽ khô cứng ngay. Chim làm tổ trong một thời gian nhất định. Vào khoảng
tháng ba, tháng tư âm lịch tuyến nước bọt của chim yến bố mẹ phát triển mạnh,
lượng nước bọt tiết dịch nhiều, do đó kích thước tổ yến lớn lên nhanh chóng. Khi
chiếc tổ đã hoàn thành, chim bố mẹ nằm vào lòng tổ để quẹt nước bọt lên mép tổ,
sau đó là lòng tổ tạo ra một lớp xốp mịn để đẻ trứng. Tổ chim yến làm lần đầu kéo
dài trong 4 tháng, bị thợ yến khai thác, chim lại làm tổ lần 2, 3 khoảng 1 tháng. Tổ
yến thường có màu trắng hoặc hồng.
Đây là món cao lương mỹ vị của các quốc gia Đông Á như Nhật Bản, Triều
Tiên, Trung Quốc, Việt Nam và nhiều quốc gia khác. Ở Việt Nam, yến sào được
xếp vào hàng Bát Trân. Món súp yến sào được mệnh danh là "món trứng cá
Cavia của phương Đông". Món yến sào đã được người Trung Hoa tiêu thụ từ cách
đây 400 năm. Món súp yến sào trông giống như chất keo a dao được nấu với gia vị
có bổ sung thêm một ít tinh bột, đường. 8
Trên thế giới có hàng trăm loài chim yến. Riêng chim yến cho tổ ăn được chỉ
có 04 loài, để nuôi trong nhà và khai thác tổ yến chỉ có 02 loài là yến tổ trắng
(Aerodramus Fuciphagus) và yến hàng (Aerodramus Geranicus), yến hàng là loại
được nuôi phổ biến.
Tổ yến được chia ra làm 4 loại: yến huyết, yến quang, yến thiên, và yến địa .
1.1.5 Giá trị dinh dưỡng của tổ chim yến
Tổ yến là một loại glycoprotein tự nhiên với giá trị dinh dưỡng 345
kilocalo/100 gram. Khoa học hiện đại đã giải mã được thành phần trong tổ yến. Yến
sào chứa hàm lượng protein cao (45-55%), trong đó chứa 18 loại axit amin, một số
axit amin có hàm lượng rất cao như aspartic acid (4,69%), proline (5,27%) có tác

rất cần sự phát triển và tái sinh tế bào nhanh chóng (ví dụ: phụ nữ có thai, trẻ em
đang trong thời kỳ phát triển). Một trong những cuộc nghiên cứu mới được công bố
gần đây đã khẳng định tổ yến có chứa một hàm lượng cao chất đạm-đường có thể
hòa tan trong nước. Chất này có tác dụng giúp việc phân bào trong hệ thống miễn
nhiễm của con người.
1.1.6 Giá trị thị trường của tổ chim yến
Tổ yến có giá trị kinh tế rất cao, hiện nay giá trị thị trường từ 3.000 đến
4.000 USD/kg yến đảo, 1.400-1.800 USD/kg yến nhà .Yến sào là một trong những
món ăn được làm từ động vật đắt đỏ nhất, ở Hồng Kông giá của một bát canh tổ yến
khoảng 60 USD .
1.1.7 Tình trạng khai thác yến sào ở Việt Nam và trên thế giới
Tổ yến đã trở thành một mặt hàng bổ dưỡng đắt nhất, chính vì lẽ đó mà từ
sau năm 1997, nghề nuôi yến đã bùng nổ thực sự tại các nước Đông Nam Á. Tính
đến tháng 5/2005, Indonesia đã trở thành nước sản xuất tổ yến nhiều nhất thế giới
với hơn 200.000 nhà yến (khoảng 120 tấn), Thái Lan đứng thứ 2 với hàng trăm
ngàn nhà yến (40 tấn); Malaysia đứng thứ 3 với 10.000 nhà yến (20 tấn). Riêng
Malaysia, trong vòng 5 năm (2001-2005), số nhà yến tăng lên 10 lần (từ 1.000 lên
10.000), sản lượng tăng gấp 2 lần (từ 10 tấn lên 20 tấn). Tư liệu thống kê mới đây
của 8 thành phố phía bắc Malaysia cho thấy, mỗi nơi có từ 300-800 cửa hiệu chuyển 10
sang nuôi yến. Năng suất một nhà yến hai tầng có tổng diện tích 262 m
2
là 2.800
tổ/3 tháng (112 kg/năm). Còn ở Thái Lan, các vùng nuôi yến chính nằm dọc bờ biển
phía Tây Nam: Surat Thani, Sri Thamarat, Phatthalung, Samut Sakhon… Tại thị
trấn Pak Phanang gần khu rừng ngập mặn lớn nhất Thái Lan, chỉ trong vòng 5-7
năm cũng đã hình thành một “phố chim yến”, hiện nay đã có trên 400 nhà nuôi yến
kết hợp với phát triển du lịch.

dài và đặc biệt là không thể cho yến ăn bằng thức ăn nhân tạo do bản chất chim yến
hoang đã và chỉ có thể bắt công trùng khi đang bay. Tùy theo màu sắc tổ yến, tổ yến
trong nhà thường là trắng ngà, tổ yến có thể được thu hoạch từ 1-4 lần một năm.
Chim yến sinh sản quanh năm.
1.1.8.2 Phân loại theo màu sắc
Lý do tại sao tổ yến có màu khác nhau vẫn còn là một đề tài tranh luận. Theo
dân gian Việt Nam người ta tin rằng những con chim yến già hoặc chim Yến trong
mùa thức ăn thiếu phải dùng máu của mình hòa cùng nước bọt để xây tổ. Điều này
lý giải cho mầu sắc đỏ hoặc hồng cũng như độ nở kém của Yến huyết so với Bạch
yến. Tuy nhiên nhiều giả thuyết về điều kiện nhiệt độ, độ ẩm hoặc thức ăn của yến
tạo ra yến huyết vẫn đang được nghiên cứu. Ngoài ra khi tổ Bạch yến được làm trên
các vách đá có màu đỏ và thấm nước rỉ ra từ các khe đá cũng tạo ra màu đỏ của tổ
Yến. Tuy nhiên loại Yến huyết do vách đá này có độ nở khi ngâm nước tương
đương với Bạch yến (tức 7 – 9 lần)
 Huyết Yến (Blood Nest)
Ðây là loại tổ yến có màu đỏ tươi và là loại có giá cao nhất trong số các màu
vì hiếm hoi và có nhu cầu tiêu thụ cao. Không phải cơ sở sản xuất nào cũng có loại
tổ yến này. Và nếu có đi chăng nữa thì loại huyết yến cũng chỉ có thể thu hoạch 1-2 12
lần trong năm với tỉ lệ rất nhỏ mà thôi. Số lượng Huyết Yến và Hồng Yến chiếm
chưa đầy 10% tổng sản lượng tổ yến trên thị trường thế giới.
 Hồng Yến (Pink Nest)
Giống như Huyết Yến về giá cả và sự hiếm hoi, Hồng yến có màu cam
nhưng màu sắc có thể thay đổi từ màu vỏ quýt đến màu vàng lòng đỏ trứng gà. Màu
càng đậm thì giá càng cao.
 Bạch Yến (White Nest)
Bạch Yến là loại tổ yến thông dụng nhất trên thị trường. Mỗi năm có thể thu
hoạch 3-4 lần. Số lượng Bạch Yến (bao gồm cả 3 loài yến kể trên) bán trên thị

màu xanh. Ðối với yến huyết - yến sào có màu đỏ, hồng thì khi nhúng một ít vào
nước trà (chè xanh) nếu gặp yến giả nhuộm oxyt sắt thì chúng sẽ phản ứng hoá học
và đen sẫm lại. Hoặc khi ngâm trong nước, tổ yến giả nhuộm phẩm màu sẽ bị mất
màu, tan trong nước, còn tổ yến thật dù có đem nấu chín trong nước sôi 100
0
C vẫn
còn nguyên màu sắc.
1.2 Tổng quan về vi sinh vật
Vi sinh vật là thuật ngữ khoa học chung để chỉ tất cả cơ thể sống và tổ chức
sống có kích thước nhỏ bé, muốn quan sát được phải dùng kính hiển vi. Vi sinh vật
phân bố rộng rãi trong thiên nhiên, trong đất, trong nước và trong không khí.
Nguồn dinh dưỡng của vi sinh vật hết sức đa dạng, có thể nói rằng hầu hết
các chất trong thiên nhiên, từ một số chất vô cơ đơn giản đến các chất hữu cơ phức
tạp đều có thể bị chuyển hóa bởi các loài vi sinh vật tương ứng.
Vi sinh vật vô cùng phong phú cả về thành phần và số lượng. Chúng bao
gồm các nhóm khác nhau có đặc tính khác nhau về hình dạng, kích thước, cấu tạo
và đặc biệt khác nhau về đặc tính sinh lý, sinh hoá.
Dựa vào đặc điểm cấu tạo tế bào, người ta chia ra làm 3 nhóm lớn:
- Nhóm chưa có cấu tạo tế bào bao gồm các loại virus.
- Nhóm có cấu tạo tế bào nhưng chưa có cấu trúc nhân rõ ràng (cấu trúc nhân
nguyên thuỷ) gọi là nhóm Procaryotes, bao gồm vi khuẩn, xạ khuẩn và tảo lam. 14
- Nhóm có cấu tạo tế bào, có cấu trúc nhân phức tạp gọi là Eukaryotes bao gồm
nấm men, nấm sợi , một số động vật nguyên sinh và tảo đơn bào.
Hoạt động sống của vi sinh vật có vai trò rất quan trọng trong các chu trình
chuyển hóa vật chất trong thiên nhiên. Vì vậy chúng rất cần thiết đối với sự vận
động của hệ sinh thái. Vi sinh vật đóng vai trò vô cùng quan trọng trong thiên nhiên
cũng như trong cuộc sống của con người. Sự tồn tại, sinh trưởng và phát triển của vi

hằng số, quá trình trao đổi chất diễn ra mạnh mẽ nhất.
 Giai đoạn ổn định (stationary phase) hay pha cân bằng : Qua giai đoạn
Logarit sự sinh trưởng của quần thể cuối cùng sẽ dừng lại, tốc độ sinh trưởng cũng
như trao đổi chất của vi khuẩn giảm, đường cong sinh trưởng đi ngang. Nồng độ vi
khuẩn trong giai đoạn ổn định thường vào khoảng 10
9
/ml. Số lượng tế bào chết cân
bằng với số lượng tế bào sinh ra. Một số nguyên nhân khiến vi khuẩn chuyển qua
pha cân bằng như : chất dinh dưỡng cạn kiệt, nồng độ oxi giảm ( đối với vi khuẩn
hiếu khí ), các chất độc tích lũy, pH thay đổi, ….
 Giai đoạn tử vong (Death phase) : Việc tiêu hao chất dinh dưỡng và việc
tích lũy các chất thải độc hại sẽ làm tổn thất đến môi trường sống của vi sinh vật,
làm cho số lượng tế bào sống giảm xuống, số tế bào chết vượt số tế bào sinh ra. Đó
là đặc điểm của giai đoạn tử vong. Giống như giai đoạn logarit, sự tử vong của quần
thể vi sinh vật cũng có tính logarit (tỷ lệ tế bào chết trong mỗi giờ là không đổi).
Một số vi khuẩn chứa các enzyme tự phân giải tế bào. Số khác có hình dạng tế bào
bị thay đổi do thành tế bào bị hư hại nhiều.
Nếu lấy thời gian nuôi cấy là trục hoành và lấy số logarit của số lượng tế bào
sống làm trục tung sẽ có thể vẽ được đường cong sinh trưởng của các vi sinh vật
sinh sản bằng cách phân đôi. Đường cong này có 4 giai đoạn (phases) khác nhau.
Sự sinh trưởng và phát triển của vi sinh vật liên quan chặt chẽ với các điều
kiện môi trường bên ngoài, chịu ảnh hưởng rất lớn đối với các nhân tố vật lý, hóa
học của môi trường sống. Các điều kiện này bao gồm hàng loạt các yếu tố tác động
qua lại với nhau. Các yếu tố môi trường có thể ảnh hưởng thuận lợi hay bất lợi đến
vi sinh vật. Ảnh hưởng bất lợi sẽ dẫn đến tác dụng ức khuẩn hoặc diệt khuẩn.

Trích đoạn Vi khuẩn Vibrio Phương pháp xác định khả năng mẫn cảm của vi khuẩn E.coli phân lập Vi khuẩn Escherichia coli
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status