Báo Cáo Thực Tế Nhóm 1
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tài nguyên đất quốc gia ngày càng được điều tra một cách toàn diện hơn,
xác định đúng tiềm năng làm cơ sở cho việc khai thác, sử dụng đất đai tiết kiệm,
có hiệu quả theo hướng phát triển bền vững; Tài sản đất đai quốc gia đã được giao
đến tận tay người sử dụng đất (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân) đúng pháp luật để
sản xuất, khai thác làm giàu cho bản thân và làm giàu cho đất nước; Hệ thống
pháp luật về đất đai ngày càng được hoàn chỉnh, giác ngộ pháp luật của nhân dân
được nâng cao, tổ chức thi hành pháp luật về đất đai ngày càng hiệu quả, góp phần
tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về đất đai.
Địa hình là một yếu tố quan trọng trong tự nhiên ví nó có hình dáng nổi bật
nhất và chi phối mạnh mẽ đến các yếu tố tự nhiên khác, là nơi diễn biến các yếu tố
tự nhiên, riêng bản thân nó thì khá bền vững và ít thay đổi. Việt Nam nằm ở vùng
nội chí tuyến đáng lẽ ít có sự phân hoá theo không gian, nhưng sự phân hoá Đông
Tây, Bắc – Nam, thấp lên cao làm cho tự nhiên Việt Nam vốn đã phức tạp lại càng
phức tạp hơn do có sự đóng góp của địa hình. Địa hình là nơi diễn ra mọi hoạt
động sản xuất của xã hội, làm cho địa hình ngày càng thay đổi, làm mất đi vẻ
nguyên sinh, hình thành nên dạng địa hình mới là dạng nhân sinh, phần lớn địa
hình VN ngày nay là dạng địa hình nhân sinh.
Thực tập thực tế chuyên ngành quản lý đất đai là hoạt động được tổ chức
trong dịp hè hàng năm của Bộ môn Tài nguyên đất đai thuộc Khoa Môi trường và
Tài nguyên Thiên nhiên. Chuyến đi qua một số tỉnh thuộc Đồng Bằng Sông Cửu
Long, Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên từ ngày
23/07/2012 đến 29/07/2012.
Đợt thực tập thực tế vừa qua, đã cung cấp thêm cho sinh viên chúng em
nhiều kiến thức bổ ích về vùng sinh thái, hiện trạng sử dụng đất… Từ đó giúp cho
chúng em có được định hướng tốt hơn về nghề nghiệp cụ thể trong tương lai khi
tốt nghiệp ra trường.
2. MỤC ĐÍCH THỰC TẾ
Trang bị cho sinh viên các kiến thức cơ bản về thực tế của ngành quản lý
đất đai (địa chính) tại một vài Sở Tài nguyên môi trường và quản lý nguồn tài
• Cực Bắc là xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi.
• Cực Tây là xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi.
• Cực Nam là xã Long Hòa, huyện Cần Giờ.
• Cực Đông là xã Thạnh An, huyện Cần Giờ.
* Địa Hình
Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Ðông Nam
bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Ðịa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc
xuống Nam và từ Ðông sang Tây. Nó có thể chia thành 3 tiểu vùng địa hình.
Vùng cao nằm ở phía Bắc - Ðông Bắc và một phần Tây Bắc (thuộc bắc
huyện Củ Chi, đông bắc quận Thủ Ðức và quận 9), với dạng địa hình lượn sóng,
độ cao trung bình 10-25 m và xen kẽ có những đồi gò độ cao cao nhất tới 32m,
như đồi Long Bình (quận 9).
Vùng thấp trũng ở phía Nam-Tây Nam và Ðông Nam thành phố (thuộc các
quận 9, 8,7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ). Vùng này có độ cao
trung bình trên dưới 1m và cao nhất 2m, thấp nhất 0,5m.
Vùng trung bình, phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố, gồm phần lớn
nội thành cũ, một phần các quận 2, Thủ Ðức, toàn bộ quận 12 và huyện Hóc Môn.
Vùng này có độ cao trung bình 5-10m.
Nhìn chung, địa hình Thành phố Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng
khá đa dạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt.
Trang 3
Báo Cáo Thực Tế Nhóm 1
* Thủy Văn
Sông Sài Gòn đoạn qua trung tâm thành phố và bán đảo Thủ Thiêm
Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai - Sài Gòn, Thành
phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng. Sông Ðồng Nai
Bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vực lớn,
khoảng 45.000 km². Với lưu lượng bình quân 20–500 m³/s, hàng năm cung cấp 15
tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố. Sông
Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành phố Hồ
phố đạt 1.949 mm/năm, trong đó năm 1908 đạt cao nhất 2.718 mm, thấp nhất
xuống 1.392 mm vào năm 1958. Một năm, ở thành phố có trung bình 159 ngày
mưa, tập trung nhiều nhất vào các tháng từ 5 tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt
hai tháng 6 và 9. Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không
đều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam – Ðông Bắc. Các quận nội thành và
các huyện phía Bắc có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại.
Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió
mùa Tây – Tây Nam và Bắc – Ðông Bắc. Gió Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dương,
tốc độ trung bình 3,6 m/s, vào mùa mưa. Gió Gió Bắc – Ðông Bắc từ biển Đông,
tốc độ trung bình 2,4 m/s, vào mùa khô. Ngoài ra còn có gió tín phong theo hướng
Nam – Đông Nam vào khoảng tháng 3 tới tháng 5, trung bình 3,7 m/s. Có thể nói
Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão.
Khí hậu Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Trung
bình tối
cao °C
(°F)
32
(90)
33
(91)
34
(93)
34
(93)
33
(91)
32
(90)
(75)
23
(73)
23
(73)
22
(72)
22 (72)
Lượng
mưa mm
(inch)
14
(0.6)
4
(0.2)
12
(0.5)
42
(1.7)
220
(8.7)
331
(13)
313
(12.3)
267
(10.5)
334
(13.1)
268
phòng, vì nằm gần đường hàng hải quốc tế, có huyện đảo Trường Sa, cảng Cam
Ranh và là cửa ngõ thông ra biển Ðông.
Khánh Hoà luôn chan hòa ánh nắng, nhiệt độ trung bình hàng năm 26oC,
lượng mưa trung bình hàng năm từ 1200 - 1800mm. Khí hậu có hai mùa rõ rệt:
mùa khô (từ tháng giêng đến tháng tám); mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 12), chỉ
kéo dài khoảng hơn hai tháng, thuận lợi cho phát triển du lịch.
Khánh Hòa có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng, phong phú, đặc biệt
tài nguyên biển có nhiều loại hải sản quý hiếm có thể khai thác, nuôi trồng, chế
biến xuất khẩu với khối lượng lớn, có yến sào, là nguồn nguyên liệu đặc biệt để
xuất khẩu và bào chế các sản phẩm bổ dưỡng quý hiếm cho con người.
Ðiều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, lịch sử văn hóa đã đem đến cho tỉnh Khánh
Hòa một tiềm năng lớn để phát triển du lịch, dịch vụ. Nha Trang - Khánh Hòa hiện
được xác định là một trong 10 trung tâm du lịch - dịch vụ lớn của cả nước. Tháng
5-2003, vịnh Nha Trang được công nhận là thành viên chính thức của Câu lạc bộ
các vịnh đẹp nhất thế giới.
* Địa Hình
Là một tỉnh nằm sát dãy núi Trường Sơn, đa số diện tích Khánh Hòa là núi
non, miền đồng bằng rất hẹp, chỉ khoảng 400 km², chiếm chưa đến 1/10 diện tích
toàn tỉnh. Miền đồng bằng lại bị chia thành từng ô, cách ngăn bởi những dãy núi
ăn ra biển. Do đó để đi suốt dọc tỉnh phải đi qua rất nhiều đèo như đèo Cả, đèo Cổ
Mã, đèo Chín Cụm, đèo Bánh Ít, đèo Rọ Tượng, đèo Rù Rì.
Bãi biển Dốc Lếch tại Ninh Hòa
Trang 7
Báo Cáo Thực Tế Nhóm 1
+ Vùng núi và bán sơn địa
Khánh Hòa là một tỉnh có địa hình tương đối cao ở Việt Nam, độ cao trung
bình so với mực nước biển khoảng 60 m. Núi ở Khánh Hòa tuy hiếm những đỉnh
cao chót vót, phần lớn chỉ trên dưới một ngàn mét nhưng gắn với dãy Trường Sơn,
lại là phần cuối phía cực Nam nên địa hình núi khá đa dạng.
Phía Bắc và Tây Bắc tỉnh có vùng núi cao thuộc dãy Vọng Phu cao hơn
Phong, Hòn Khói, đầm Nha Phu, vịnh Nha Trang (Cù Huân) và vịnh Cam Ranh.
Trong đó có nổi bật nhất vịnh Cam Ranh với chiều dài 16 km, chiều rộng 32 km,
thông với biển thông qua eo biển rộng 1,6 km, có độ sâu từ 18-20 m, và thường
được xem là cảng biển có điều kiện tự nhiên tốt nhất Đông Nam Á, trước đây
được sử dụng làm căn cứ quân sự của Hoa Kỳ rồi Liên Xô (sau này là Nga) nhưng
về sau được chuyển thành cảng dân sự.
Thềm lục địa tỉnh Khánh Hòa rất hẹp. Địa hình vùng thềm lục địa phản ánh
sự tiếp nối của cấu trúc địa hình trên đất liền. Các nhánh núi Trường Sơn đâm ra
biển trong quá khứ địa chất như dãy Phước Hà Sơn, núi Hòn Khô, dãy Hoàng
Ngưu không chỉ dừng lại ở bờ biển để tạo thành các mũi Hòn Thị, mũi Khe Gà
(Con Rùa), mũi Đông Ba mà còn tiếp tục phát triển rất xa về phía biển mà ngày
nay đã bị nước biển phủ kín. Vì vậy, dưới đáy biển phần thềm lục địa cũng có
những dãy núi ngầm mà các đỉnh cao của nó nhô lên khỏi mặt nước hình thành các
hòn đảo như hòn Tre, hòn Miếu, hòn Mun Xen giữa các đái đảo nổi, đảo ngầm là
những vùng trũng tương đối bằng phẳng gọi là các đồng bằng biển, đó chính là
đáy các vũng, vịnh như vịnh Vân Phong, vịnh Nha Trang, vịnh Cam Ranh.
Ngoài các đảo đá ven bờ, Khánh Hoà còn có các đảo san hô ở huyện đảo
Trường Sa, với khoảng 100 đảo bãi cạn, bãi ngầm rải rác trên một diện tích từ 160
đến 180 ngàn km², trong đó có từ 23 đến 25 đảo, bãi cạn nổi thường xuyên, với
tổng diện tích 10km². Đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa là Ba Bình chỉ rộng
0,65km². Bãi lớn nhất là bãi Thuyền Chài, dài 30km; rộng 5km (ngập nước khi
triều lên). Địa hình trên bề mặt các đảo rất đơn giản, chỉ là những mõm đá, vách
đá vôi san hô, cao vài ba mét.
* Tài Nguyên
Khánh Hòa có nhiều tài nguyên khoáng sản như than bùn, cao lanh, sét, sét
chịu lửa, vàng sa khoáng, cát thuỷ tinh, san hô, đá granit, quặng ilmênit, nước
khoáng, phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp khai thác. Ngoài ra
còn có nhiều tài nguyên biển, bao gồm các nguồn rong, tảo thực vật, trữ lượng hải
sản lớn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến hải sản; các điều kiện
thuận lợi để khai thác sinh vật biển và nuôi trồng thuỷ sản.
năm có tới 2.600 giờ nắng.
Trang 10
Báo Cáo Thực Tế Nhóm 1
Nhiệt độ trung bình hàng năm của Khánh Hòa cao khoảng 26,7 °C riêng
trên đỉnh núi Hòn Bà (cách Nha Trang 30 km đường chim bay) có khí hậu như Đà
Lạt và Sa Pa.
Độ ẩm tương đối khoảng 80,5%.
Từ tháng 1 đến tháng 8, có thể coi là mùa khô, thời tiết thay đổi dần. Những
tháng đầu mùa, trời mát, nhiệt độ từ 17-25 °C, nhưng từ tháng 5 đến tháng 8 trời
nóng nực, nhiệt độ có thể lên tới 34 °C (ở Nha Trang) và 37-38 °C (ở Cam Ranh).
Tháng 9 đến tháng 12, được xem như mùa mưa, nhiệt độ thay đổi từ 20-27 °C (ở
Nha Trang) và 20-26 °C (ở Cam Ranh). Khánh Hòa là vùng ít gió bão, tần số bão
đổ bộ vào Khánh Hòa thấp chỉ có khoảng 0,82 cơn bão/năm so với 3,74 cơn
bão/năm đổ bộ vào bờ biển Việt Nam. Các trận bão được dự đoán sẽ đổ bộ vào
Khánh Hòa trong những năm gần đây thường lệch hướng vào Nam hoặc tan ngay
khi gần vào bờ. Tuy vậy, do địa hình sông suối có độ dốc cao nên khi có bão kèm
theo mưa lớn, làm nước dâng cao nhanh chóng, trong khi đó sóng bão và triều
dâng lại cản đường nước rút ra biển, nên thường gây ra lũ lụt.
Nhiệt độ trung bình
các tháng
đo tại trạm Nha
Trang
Một Hai Ba Tư Năm Sáu Bảy Tám Chín Mười
Mười
một
Mười
hai
Cao nhất (°C) 27 28 29 31 32 32 32 32 32 30 28 27
Thấp nhất (°C) 22 22 23 25 26 26 26 26 25 24 24 22
chủ yếu là bình sơn nguyên, núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ
bằng phẳng đã tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng,
thực động vật và những cảnh quan kỳ thú cho Lâm Đồng.
Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Lâm Đồng là sự phân bậc khá rõ ràng
từ bắc xuống nam.
- Phía bắc tỉnh là vùng núi cao, vùng cao nguyên Lang Bian với những đỉnh
cao từ 1.300m đến hơn 2.000m như Bi Đúp (2.287m), Lang Bian (2.167m).
- Phía đông và tây có dạng địa hình núi thấp (độ cao 500 – 1.000m).
- Phía nam là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh – Bảo Lộc và bán
bình nguyên.
* Khí Hậu
Lâm Đồng nằm trong khu
vực chịu ảnh hưởng của khí hậu
nhiệt đới gió mùa biến thiên theo
độ cao, trong năm có 2 mùa rõ rệt;
mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11,
mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4
năm sau.
Nhiệt độ thay đổi rõ rệt
giữa các khu vực, càng lên cao
nhiệt độ càng giảm. Nhiệt độ
trung bình năm của tỉnh dao động
từ 18 – 25
0
C, thời tiết ôn hòa và
mát mẻ quanh năm, thường ít có
những biến động lớn trong chu kỳ
năm
Lượng mưa trung bình 1.850 – 3.150 mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình
cả năm 79 – 86%, số giờ nắng trung bình cả năm 2.028 – 2.347 giờ, thuận lợi cho
m
3
/ngày-đêm; hệ thống cấp nước huyện Di Linh, công suất 3.500 m
3
/ngày-đêm; hệ
thống cấp nước huyện Lâm Hà, công suất 6.000 m
3
/ngày-đêm. Đồng thời với việc
cấp nước, hệ thống xử lý nước thải công nghiệp và sinh hoạt đang được hoàn
thiện.
3.2 Sự thay đổi sử dụng đất đai vùng Đồng Bằng đến vùng Cao Nguyên
Dọc theo tuyến Quốc lộ mà đoàn thực tập đi qua thì vùng Đồng bằng Sông
Cửu Long địa hình cao từ 1-4 m, đất phù sa nên chủ yếu trồng lúa, cây ăn trái như:
Trang 14
Báo Cáo Thực Tế Nhóm 1
chuối, mít, dừa, nhãn…bên cạnh đó là nhà của các hộ dân sống ven lộ kinh doanh
nhỏ. Khi đến các tỉnh Miền Đông thì hiện trạng sử dụng đất có thay đổi, địa hình
cao từ 50-200m so với mực nước biển, đất là đỏ bazan và đất xám nên một phần
trồng cây ăn quả, canh tác lúa rất ít còn lại là cây công nghiệp như: cao su, đào lộn
hột, sầu riêng…và phát triển công nghiệp, thương mại. Qua các tỉnh thuộc Duyên
hải Nam Trung Bộ địa hình từ 60-100m, nơi đây chủ yếu là đất cát nên thấy trồng
các cây nho, thanh long, dừa, khoai mì…phát triển thủy sản, làm muối, làm gạch,
làm nước mắm, du lịch biển như Nha Trang - Khánh Hòa, tháp Chàm Ponagar…
Đến Lâm Đồng đất chủ yếu là đất đỏ bazan, địa hình khá cao từ 700-2000m nên
cây trồng chủ yếu là hoa màu như: hoa hồng, cúc, lan, cẩm tú, súp lơ, bắp cải, cà
rốt, sà lách, dâu, cây thông… Bên cạnh đó du lich sinh thái rừng cũng là thế mạnh
của địa phương.
3.3 Thổ nhưỡng từng vùng sinh thái
3.3.1 TP Hồ Chí Minh
Vườn ông Lê Văn Cẩn, Cù lao Tân Triều, Phố 4, Ấp Vĩnh Hiệp, Xã Tân Bình,
Lâm Đồng
Lâm Đồng có diện tích đất 977.219,6 ha, chiếm 98% diện tích tự nhiên, bao
gồm 8 nhóm đất và 45 đơn vị đất:
Nhóm đất phù sa (fluvisols)
Nhóm đất glây (gleysols)
Trang 17
Báo Cáo Thực Tế Nhóm 1
Nhóm đất mới biến đổi (cambisols)
Nhóm đất đen (luvisols)
Nhóm đất đỏ bazan (ferralsols)
Nhóm đất xám (acrisols)
Nhóm đất mùn alit trên núi cao (alisols)
Nhóm đất xói mòn mạnh (leptosols)
Đất có độ dốc dưới 25
o
chiếm trên 50%, đất dốc trên 25
o
chiếm gần 50%.
Chất lượng đất đai của Lâm Đồng rất tốt, khá màu mỡ, toàn tỉnh có khoảng
255.400 ha đất có khả năng sản xuất nông nghiệp, trong đó có 200.000 ha đất
bazan tập trung ở cao nguyên Bảo Lộc - Di Linh thích hợp cho việc trồng cây
công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như cà phê, chè, dâu tằm. Diện tích
trồng chè và cà phê khoảng 145.000 ha, tập trung chủ yếu ở Bảo Lâm, Bảo Lộc,
Di Linh, Lâm Hà; diện tích trồng rau, hoa khoảng 23.800 ha tập trung tại Đà Lạt,
Đơn Dương, Đức Trọng; chè, cà phê, rau, hoa ở Lâm Đồng đa dạng về chủng loại,
có những loại giá trị phẩm cấp cao. Đất có khả năng nông nghiệp còn lại tuy diện
tích khá lớn nhưng nằm rải rác xa các khu dân cư, khả năng khai thác thấp vì bị
úng ngập hoặc bị khô hạn, tầng đất mỏng có đá lộ đầu hoặc kết vón, độ màu mỡ
thấp, hệ số sử dụng không cao Trong diện tích đất lâm nghiệp, đất có rừng chiếm
60%, còn lại là đất trồng đồi trọc (khoảng 40%).
Báo Cáo Thực Tế Nhóm 1
sơ, chỉ có một số ít công trình kiên cố. Chưa đầy một thế kỷ sau, Nha Trang đã trở
thành một đô thị lớn có tốc độ phát triển đến chóng mặt nhưng cũng mất dần vẻ
đẹp thanh bình vốn có.
Thế nhưng trong khoảng 15 năm trở lại đây, tốc độ đô thị hóa tại Nha
Trang diễn ra nhanh đến chóng mặt. Những công trình cao tầng đua nhau mọc lên,
cái sau cao hơn cái trước. Đầu tiên là khách sạn Lodge cao 14 tầng, tiếp đến là
Sunrise, Novotel, Sheraton… và bây giờ là Hoàn Cầu, Crown Plaza, Nha Trang
Plaza (cao nhất TP với 40 tầng, 119 m).
Vinpearl
Khánh Hòa có hệ thống cơ sở hạ tầng về tương đối phát triển, nằm trên các
trục giao thông quan trọng ven biển của Việt Nam như: Quốc lộ 1A chạy dọc ven
biển từ Đèo Cả đến Ghềnh Đá Bạc nối liền với các tỉnh phía Bắc và phía Nam;
quốc lộ 26 nối Ninh Hòa với Đăk Lăk và các tỉnh Tây Nguyên; đường 723 (Nha
Trang đi Đà Lạt) và dự án đường cao tốc Bắc Nam đi qua Khánh Hòa.
* Đà Lạt - Lâm Đồng
Trang 20
Báo Cáo Thực Tế Nhóm 1
Địa hình Đà Lạc chủ yếu là đồi núi, khí hậu lạnh vì vậy nó củng ảnh hưởng
kiến trúc đô thị: đường uống lượn quanh đồi núi, nhà ở đa số thiết kế phòng nhỏ
gọn.
Đối với địa hình bằng phẳng, việc quy hoạch ô bàn cờ là giải pháp tốt khi
sử dụng và tiện lợi về mọi phương diện. Để tạo cảm giác thẩm mỹ, người ta
phải dùng đến các biện pháp: đắp đất tạo đồi, đào hồ tạo mặt nước, mở các mặt
hồ để tạo thành các không gian biến động.
Thành phố Đà Lạt có địa hình mấp mô, uốn lượn, cộng với việc tổ chức
hệ thống giao thông hình mạng nhện, đã tạo thành những không gian linh động,
biến đổi không ngừng. Đi trên đường Trần Hưng Đạo, giữa rừng thông cao vút
của Dinh II, bất ngờ chợt nhìn qua phía bên kia, cả một khoảng không gian kỳ
ảo bỗng hiện ra dãy Lang Biang xanh thẫm làm nền cho toàn cảnh bức tranh.
Số liệu khảo sát của cơ quan chức năng cho biết đến tháng 4-2009, bình
quân diện tích nhà ở trên đầu người ở TP là 13,4m
2
/người và dự kiến đến năm
2010 là 14m2/người. Hiện nhà ở chủ yếu là nhà bán kiên cố, cấp 3, 4 và chiếm
Trang 22
Báo Cáo Thực Tế Nhóm 1
khoảng 65% tổng số căn nhà, số còn lại là nhà cấp 1, 2 và nhà lụp xụp trên và ven
kênh rạch. Dự kiến đến năm 2010 TP có khoảng 1,7 triệu căn nhà.
TP phấn đấu sẽ trở thành khu đô thị hiện đại, gắn với vùng đô thị TP.HCM
(gồm TP.HCM và bảy tỉnh xung quanh là Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh,
Long An, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và Tiền Giang). Cùng với sự phát triển
này đến năm 2020, TP dự kiến phấn đấu chỉ tiêu đất xây dựng đô thị bình quân 80-
100m
2
/người, trong đó đất dân dụng bình quân 55-65m
2
/người, còn lại là đất cho
cây xanh, giao thông, công trình công cộng Tổng nhu cầu đất xây dựng đến năm
2020 lên đến khoảng 100.000ha.
TP.HCM xác định việc phát triển TP sẽ theo hướng đa trung tâm, phát triển
các đô thị vệ tinh xung quanh và lấy trung tâm hiện hữu mở rộng sang khu đô thị
mới Thủ Thiêm làm trung tâm chính. Các khu đô thị khác được xác định theo bốn
hướng, cụ thể như sau:
Hướng phát triển về đông bắc gắn với huyện Dĩ An (Bình Dương) và TP
Biên Hòa (Đồng Nai), gồm các quận 2, 9 và Thủ Đức. Đây được xem là hướng
cửa ngõ của TP đi các tỉnh miền Trung và miền Bắc, đồng thời cũng là hướng phát
triển chính với khu đô thị mới Thủ Thiêm, một trung tâm mới gắn liền trung tâm
hiện hữu là quận 1, 3. Chính vì vậy khu đô thị mới này sẽ được ưu tiên đáng kể
trong việc đầu tư hạ tầng, kỹ thuật với các dự án lớn đã và đang thực hiện: hầm,
huyện Trảng Bàng của tỉnh Tây Ninh, huyện Đức Hòa của Long An mà Chính phủ
đã phê duyệt).
Hướng còn lại là tây nam dọc quốc lộ 1 trên địa bàn quận Bình Tân và
huyện Bình Chánh. So với các khu vực khác, tốc độ đô thị hóa tại đây diễn ra rất
nhanh.
Với đặc thù là cửa ngõ để TP tiếp cận với các tỉnh miền Tây nên có nhiều
dự án cầu, đường đã và đang triển khai như quốc lộ 1A, đường cao tốc TP.HCM -
Trung Lương, đại lộ đông-tây Tuy nhiên, việc hình thành và phát triển nhanh các
khu công nghiệp tập trung tại khu vực này đã hút một lượng lớn dân nhập cư,
khiến thiếu hụt chỗ ở và các dịch vụ đi kèm. Đây cũng là khu vực có nhiều nơi
phát triển tự phát.
* Nha Trang - Khánh Hòa
Trang 24
Báo Cáo Thực Tế Nhóm 1
Kể từ khi chính thức trở thành đô thị loại 1 vào năm 2009, thành phố Nha
Trang tỉnh Khánh Hòa có tốc độ phát triển rất mạnh. Theo báo cáo của UBND tỉnh
Khánh Hòa năm 2010, tốc độ tăng trưởng GDP tăng 11%. GDP bình quân đầu
người đạt khoảng 1.480 USD.
Với nhiều lợi thế hơn hẳn các tỉnh, thành trong khu vực Nam Trung Bộ,
Khánh Hòa đã thu hút được nhiều nhà đầu tư tiềm lực tài chính và năng lực kinh
nghiêm trong đầu tư, quản lý điều hành dự án và kinh doanh có hiệu quả. Nhiều
khách sạn được đầu tư xây dựng đạt tiêu chuẩn từ 4 đến 5 sao như Vinpearland;
Novotel; Sheraton; Evasion Six Senses Hideway…
Khách sạn Sheraton
Ở khu vực Bãi Dài, hầu hết phần diện tích phía Đông đại lộ Nguyễn Tất Thành
(giáp Biển) đã được UBND tỉnh cho phép các nhà đầu tư lập dự án tại đây. Hiện
có 5 nhà đầu tư đã được cấp phép xây dựng, các nhà đầu tư còn lại đã được cấp
giấy chứng nhận đầu tư và đang tiến hành các bước xin cấp phép xây dựng.
Đáng chú ý, từ năm 2010, khá nhiều khu đô thị mới được hình thành và phát triển
nhanh chóng, đặc biệt là về phía Tây thành phố Nha Trang. Thống kê của Savills