TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG
=============
BÁO CÁO
THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
Đề tài:
“Đánh giá hiện trạng sử dụng đất năm 2008
của Huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An”
Sinh viên thực hiện : HOÀNG THỊ NGA
Lớp : QLA
Khoá : K50
Ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Giáo viên hướng dẫn : TS. ĐOÀN CÔNG QUỲ
Địa điểm thực tập : Phòng Tài nguyên Môi trường
Huyện Diễn Châu – tỉnh Nghệ An
Thời gian thực tập : Từ 15/01/2009 đến 15/05/2009
HÀ NỘI - 2009
1
PHẦN THỨ NHẤT
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại độc lập với ý thức của con
người. Đất đai là môi trường sống của toàn xã hội, là thành phần quan trọng
hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng
các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng. Thực tế đất đai là
nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất của mọi ngành sản xuất
nhất là ngành nông nghiệp. Đất là nguồn gốc của mọi quá trình sống và cũng
là nguồn gốc của mọi sản phẩm hàng hoá xã hội. Ông cha ta từ lâu đời đã
nhận thức được giá trị của đất đai qua câu tục ngữ: “Tấc đất, tấc vàng”.Tuy
vậy đất đai không phải là nguồn tài nguyên vô hạn, nó có giới hạn về số lượng
trong phạm vi ranh giới của quốc gia và vùng lãnh thổ. Nó không thể tự sinh
phải xem xét, đánh giá tình trạng sử dụng đất của khu vực lập dự án và thời
gian trước đó.
Huyện Diễn Châu là một huyện phía Bắc của tỉnh Nghệ An có vị trí
thuận lợi cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Nghệ An. Để quản lý sử
dụng đất hợp lý và có hiệu quả thì cần phải tiến hành làm quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất cụ thể và chi tiết. Do vậy việc đánh giá tình hình quản lý
và hiện trạng sử dụng đất của Huyện Diễn Châu là hết sức cần thiết.
Trước tình hình cấp thiết đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Đánh giá hiện trạng sử dụng đất năm 2008 của Huyện Diễn Châu tỉnh
Nghệ An”.
2. Mục đích và yêu cầu
* Mục đích
- Đánh giá thực trạng về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của huyện
Diễn Châu gây áp lực đối với đất đai
- Nắm được xu thế biến động đối với đất đai và phân tích đúng nguyên
nhân gây ra biến động.
- Điều tra nắm chắc quỹ đất hiện tại của huyện, phân tích sự hợp lý và
3
chưa hợp lý trong việc tổ chức quản lý hiện trạng sử dụng các loại đất, khả
năng chuyển đổi mục đích sử dụng làm căn cứ cho việc lập quy hoạch kế
hoạch sử dụng đất trong tương lai đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các ngành
và mục tiêu và phát triển kinh tế xã hội trong toàn huyện.
* Yêu cầu
- Đánh giá hiện trạng tình hình sử dụng đất phải đúng thực tiễn thể hiện
tính khoa học khách quan, dễ hiểu, dễ làm để thực hiện và mang tính xã hội
hoá cao.
- Phản ánh đầy đủ và chính xác thực trạng sử dụng đất của huyện từ đó
đưa ra phương pháp sử dụng đất một cách đầy đủ, khoa học, hợp lý và hiệu
quả để tăng cường công tác quản lý bảo vệ đất và bảo vệ môi trường
4
- Liên xô (cũ) có lịch sử hình thành và phát triển công tác đánh giá đất
từ lâu đời. Năm 1917 việc đánh giá đất gắn liền với công tác địa chính mà tiên
phong là hoạt động của Hội đồng địa chính thuộc Bộ tài sản. Từ năm 1960
việc phân hạng đánh giá đất được thực hiện theo 3 bước:
+ Đánh giá lớp phủ thổ nhưỡng.
+ Đánh giá khả năng của đất.
+ Đánh giá kinh tế đất.
- Để đáp ứng yêu cầu thực tế về công tác đánh giá đất, Tổ chức FAO đã
tập hợp các nhà khoa học trên thế giới cùng nhau hợp tác và nghiên cứu xây
dựng quy trình đánh giá đất đai. Các nhà khoa học này đã tiến hành nghiên
cứu và đưa ra dự thảo đề cương đánh giá đất đầu tiên vào năm 1972, sau đó
được Brinkiman và Smith soạn lại và cho xuất bản năm 1973. Từ bản dự thảo
này cùng với các ý kiến đóng góp của các nhà khoa học hàng đầu của tổ chức
FAO đã xây dựng nội dung phương pháp đánh giá đầu tiên (A Framewok For
Land Evaluation), công bố năm 1976 Rome.
Phương pháp đánh giá đất của FAO dựa trên cơ sở phân hạng thích hợp
đất đai được thử nghiệm trên nhiều nước và nhiều khu vực trên thế giới đã có
hiệu quả. Qua nhiều năm sửa đổi bổ sung và đúc rút từ kinh nghiệm thực tế
FAO đã đưa ra nhiều tài liệu hướng dẫn cho các đối tượng cụ thể trong công
tác đánh giá đất.
Hiện nay con người đã dần ý thức được tầm quan trọng của công tác
đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất một cách bền vững nên công tác đánh
giá đất đai được thực hiện ở hầu hết các quốc gia và trở thành khâu trọng yếu
trong hoạt động đánh giá tài nguyên đất hay trong quy hoạch sử dụng đất, là
công cụ cho việc quản lý sử dụng đất bền vững ở mỗi quốc gia.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, từ thế kỷ XV những hiểu biết về đất đai bắt đầu được chú
trọng và tổng hợp thành tài liệu quốc gia như: “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi,
các tài liệu của Lê Quý Đôn, Lê Tắc, Nguyễn Bỉnh Khiêm…
Trong thời kỳ Pháp thuộc, để thuận lợi cho công cuộc khai thác tài
làm chủ nhiệm năm 1995. Tài liệu này xây dựng trên quan điểm sinh thái và
phát triển lâu bền để đánh giá hiện trạng và khả năng sử dụng đất. Với mục
7
tiêu quản lý và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho công tác phát triển
và bảo vệ sức khoẻ con người.
Trong bối cảnh hiện nay, các tác động của con người đối với khai thác
sử dụng đất hoàn toàn bị chi phối bởi yếu tố kinh tế, xã hội. Vì vậy đòi hỏi sự
kết hợp xem xét giữa điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể, từ
đó chỉ ra các biện pháp khả thi trong việc sử dụng tài nguyên đất trên quan
điểm sinh thái và phát triển lâu bền.
2. Cơ sở lý luận và pháp lý của đánh giá hiện trạng sử dụng đất
2.1. Cơ sở lý luận của đánh giá hiện trạng sử dụng đất
2.1.1. Khái niệm về đánh giá hiện trạng sử dụng đất
Đất đai là một phần diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm cả các
yếu tố cấu thành môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt trái đất, là tư
liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong sản xuất nông nghiệp. Theo
FAO (1993): Đất đai là một nhân tố sinh thái bao gồm tất cả các thuộc tính
sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng
và hiện trạng sử dụng đất.
Đánh giá hiện trạng sử dụng đất là mô tả hiện trạng sử dụng từng quỹ
đất (đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp, đất chưa sử dụng). Từ đó rút ra
những nhận định, kết luận về tính hợp lý hay chưa hợp lý trong sử dụng đất,
làm cơ sở để đề ra những quyết định sử dụng đất có hiệu quả kinh tế cao,
nhưng vẫn đảm bảo việc sử dụng đất theo hướng bền vững.
2.1.2. Sự cần thiết phải đánh giá hiện trạng sử dụng đất
Đánh giá hiện trạng sử dụng đất là một bộ phận quan trọng trong việc
đánh giá tài nguyên thiên nhiên. Đối với quá trình quy hoạch và sử dụng đất
cũng vậy, công tác đánh giá hiện trạng sử dụng đất là một nội dung quan
trọng, là cơ sở để đưa ra những quyết định cũng như định hướng sử dụng đất
hợp lý cho địa phương. Đánh gía hiện trạng sử dụng đất làm cơ sở khoa học
trạng sử dụng đất giúp cho các nhà quản lý đất đai cập nhật, nắm chắc các
thông tin về hiện trạng sử dụng đất một cách chính xác nhất, giúp cho các
nhà quản lý chỉnh sửa bổ sung những thay đổi trong quá trình sử dụng đất. Vì
vậy có thể nói công tác đánh giá hiện trạng sử dụng đất có một vai trò hết sức
quan trọng đối với công tác quản lý nhà nước đối với đất đai.
9
2.2. Cơ sở pháp lý của đánh giá hiện trạng sử dụng đất
Đánh giá hiện trạng sử dụng đất là nội dung được quy định tại thông tư
số 30/2004/TT – BTNMT ngày 01 tháng 11 năm 2004 về việc hướng dẫn lập,
điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và được cụ thể hoá
tại quyết định số 04/2005/QĐ – BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2005 về việc
ban hành quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Việc
đánh giá hiện trạng phải theo trình tự các bước, việc đánh giá biến động sử
dụng đất phải đánh giá được biến động cho giai đoạn 10 năm về trước.
10
PHẦN THỨ BA
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Nội dung
1.1. Nghiên cứu các đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Diễn
Châu - tỉnh Nghệ An.
Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan môi trường
+ Điều kiện tự nhiên:
- Vị trí địa lý.
- Điạ hình, địa chất.
- Khí hậu, thuỷ văn, nguồn nước.
+ Tài nguyên thiên nhiên.
- Tài nguyên đất.
- Tài ngụyên nước.
- Tài nguyên khoáng sản.
- Tài nguyên nhân văn.
Dựa vào các số liệu, tài liệu bản đồ thu thập được qua việc xử lý, kết
hợp với việc nghiên cứu áp dụng một cách linh hoạt các phương pháp xây
dựng và chỉnh lý hiện trạng sử dụng đất của Bộ Tài nguyên và Môi trường,
mọi thông tin cần thiết được biểu diễn trên bản đồ theo đúng quy định về ký
hiệu, màu sắc, kích thước với tỷ lệ thích hợp tạo thành bản đồ.
+ Kết quả xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất huyện Diễn Châu.
1.4. Nghiên cứu tiềm năng đất đai và định hướng sử dụng đất huyện Diễn
Châu - tỉnh Nghệ An.
1. Tiềm năng đất đai
- Khái quát tiềm năng quỹ đất đai
- Tiềm năng đất đai để phát triển các ngành
+ Tiềm năng đất đai cho phát triển nông lâm nghiệp
+ Tìêm năng đất phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
+ Tiềm năng phát triển giao thông vận tải
+ Tiềm năng phát triển ngành du lịch
2.Quan điểm sử dụng đất huyện Diễn Châu - tỉnh Nghệ An
3. Định hướng sử dụng đất huyện Diễn Châu giai đoạn 2009-2020
- Phương hướng và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020
- Định hướng sử dụng các loại đất chính đến năm 2020
12
2. Phương pháp nghiên cứu.
2.1. Phương pháp chuyên khảo, điều tra thu thập hệ thống thông tin số
liệu liên quan đến đề tài
Đây là phương pháp điều tra tài liệu, số liệu trong phòng, thu thập các tài
liệu liên quan đến hiện trạng sử dụng đất.
Gồm 2 phương pháp:
- Điều tra ngoại nghiệp: Đi thực tế để quan sát, đo đếm, tìm hiểu các yếu tố.
- Điều tra nội nghiệp: Tiến hành thu thập số liệu
+ Thu thập số liệu về tự nhiên, kinh tế, xã hội.
+ Thu thập số liệu theo bản đồ nông hoá thổ nhưỡng.
51
'
31
''
đến 19
0
11
'
05
''
vĩ độ
Bắc; 105
0
30
'
13
''
đến 105
0
39
'
26
''
kinh độ Đông. Có phạm vi ranh giới như sau:
Phía Bắc: Giáp huyện Quỳnh Lưu;
Phía Nam: Giáp huyện Nghi Lộc;
Phía Đông: Giáp biển Đông;
Phía Tây: Giáp huyện Yên Thành;
Huyện nằm trên trục giao thông Bắc - Nam là nơi tập trung của nhiều
tuyến giao thông quan trọng như: quốc lộ 1A, quốc lộ 7A, quốc lộ 48, tỉnh lộ
hình vùng thấp trũng từ 0,5 - 1,7 m và thường bị ngập úng vào mùa mưa lũ.
Đây là khu vực sản xuất lương thực trọng điểm của huyện.
* Vùng cát ven biển: Phân bố ở khu vực ở phía Đông quốc lộ 1A kéo
dài từ Diễn Hùng đến đền Cuông (Diễn Trung). Độ cao địa hình của vùng từ
1,8 - 3 m. Đây là địa bàn dễ chịu tác động của triều cường khi có bão gây
ngập mặn.
1.1.3. Khí hậu.
Diễn Châu chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa với
một mùa nóng, ẩm, lượng mưa lớn (từ tháng 4 đến tháng 10) và một mùa khô
lạnh, ít mưa (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau). Những đặc điểm chính của
khí hậu thời tiết như sau:
* Chế độ nhiệt:
Nhiệt độ bình quân cả năm tương đối cao 23,4
0
C, phân hóa theo mùa
khá rõ nét (cao nhất 40,1
0
C và thấp nhất 5,7
0
C). Đặc trưng theo mùa thích hợp
cho việc bố trí cơ cấu cây trồng đa dạng.
Tổng tích ôn lớn hơn 8.000
0
C, cho phép phát triển nhiều vụ cây trồng
ngắn ngày trong năm.
Bảng 1: Một số chỉ tiêu nhiệt độ trong năm của huyện Diễn Châu
Chỉ tiêu Cả năm
Mùa nóng
(tháng 4 - 10)
Mùa lạnh
không khí có thể xuống tới 56%) hạn chế khả năng sinh trưởng của cây trồng.
* Chế độ gió, bão:
+ Hứng chịu tác động của 2 hướng gió chủ đạo: Gió mùa Đông Bắc và
gió mùa Tây Nam. Gió mùa Đông Bắc thịnh hành từ tháng 11 đến tháng 3
năm sau kèm theo nền nhiệt độ thấp gây rét lạnh. Gió Tây Nam xuất hiện từ
trung tuần tháng 4 tới đầu tháng 9 với tần suất 85% số năm, kèm theo khô
nóng, độ ẩm không khí thấp, mỗi đợt kéo dài 10 - 15 ngày.
+ Diễn Châu là địa bàn thường chịu tác động đáng kể của bão (bình
quân mỗi năm có 1 đến 8 cơn bão đổ bộ vào đất liền ở Nghệ An).
1.1.4. Thủy văn, nguồn nước.
Mạng lưới sông ngòi trên địa bàn huyện khá dày gồm sông Bùng,
sông Vếch Bắc, kênh Nhà Lê,… trong đó quan trọng nhất là sông Bùng.
Chế độ nước của các sông phụ thuộc vào lượng mưa hàng năm, mùa
mưa nước các sông lên cao gây ngập úng cục bộ các khu vực ven sông
và mùa khô nước các sông xuống thấp gây hiện tượng xâm nhập mặn
khu vực cửa sông. Do phần lớn các sông chảy qua địa hình cao dốc, tốc
độ dòng chảy mạnh nên khả năng tích nước kém.
16
Chế độ thủy triều ở huyện là nhật triều và bán nhật triều không đều.
Thời kỳ triều dâng thường trùng vào thời điểm có bão gây tác hại đối với khu
vực ven biển.
1.2. Các nguồn tài nguyên
1.2.1. Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất huyện Diễn Châu tỷ lệ
1/25.000, không tính diện tích đất chuyên dùng, đất ở, sông suối, mặt nước
chuyên dùng và núi đá, toàn huyện có 9 nhóm đất chính, được chia ra 14 đơn vị
đất như sau:
* Cồn cát trắng: (Cc)
Diện tích 1.345 ha (chiếm 4,41% diện tích tự nhiên của huyện). Được
phân bố tập trung ở các xã Diễn Hùng, Diễn Trung. Loại đất này có thành
> 5,5 ở tất cả các tầng),
hàm lượng hữu cơ và đạm tổng số ở lớp đất mặt khá tương ứng là (1,75% và
0,125%). Đất có thành phần cơ giới là thịt trung bình, tỷ lệ các cấp hạt sét có
xu hướng tăng theo chiều sâu.
Loại đất này hiện đang trồng 2 vụ lúa, những nơi cao trồng thêm một vụ
khoai lang hoặc một vụ lúa mùa, những nơi trũng nên sử dụng theo phương thức
lúa cá.
* Đất mặn ít: (Mi)
Diện tích 691 ha (chiếm 2,27% diện tích tự nhiên của huyện), phân bố ở
địa hình cao hơn đất mặn trung bình nên mực nước ngầm thường thấp. Đất có
thành phần cơ giới thịt trung bình hoặc thịt nặng, một số ít có cơ giới cát pha,
thịt nhẹ. Đất có phản ứng chua (pH
KCL
4 - 5,5); hàm lượng mùn từ (1 - 2%),
đạm tổng số nghèo từ (0,05 - 0,1%), lân tổng số nghèo (dao động từ 0,05 -
0,1%), kali tổng số nghèo - trung bình (0,05 - 0,25%);
* Đất phù sa không được bồi, không có tầng glây và loang lổ: (P)
Diện tích 6.735 ha (chiếm 22,09% diện tích tự nhiên của huyện), phân bố
ở các xã Diễn Yên, Diễn Trường, Diễn Xuân, Diễn Đoài …, đất có thành phần
cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng. Đất có phản ứng chua (pH
KCL
4,41 ở tầng
mặt) và ít có sự thay đổi giữa các tầng. Hàm lượng hữu cơ và đạm tổng số
nghèo, hàm lượng mùn từ (1,28 - 2,28%) kali tổng số dễ tiêu rất nghèo. Lượng
canxi và magiê trao đổi rất thấp. Dung tích hấp thu (CEC) thấp.
Loại đất này hiện đang trồng 2 vụ lúa có năng suất cao nhất của huyện,
những nơi có địa hình cao không chủ động về nguồn nước tưới nên trồng hoa
màu và cây công nghiệp ngắn ngày như ngô, khoai, lạc hoặc luân canh lúa màu.
* Đất phù sa Glây: (Pg)
Diện tích 1.870 ha (chiếm 6,13% diện tích tự nhiên của huyện), phân
Hiện tại loại đất này đang trồng cây hoa màu và cây lâu năm.
* Đất vàng nhạt trên đá cát: (Fq)
Diện tích 303 ha (chiếm 0,99% diện tích tự nhiên của huyện). Đất được
hình thành trên sản phẩm phong hóa của đá cát, cấu trúc của đất thường là hạt
rời rạc. Phản ứng của đất chua ít (pH
KCL
4,63 ở tầng đất mặt). Hàm lượng hữu
cơ và đạm tổng số ở lớp đất mặt rất nghèo (0,93 - 0,072%). Lượng Cation trao
đổi trong đất rất thấp.
* Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước: (Fl)
Diện tích 122 ha (chiếm 0,40% diện tích tự nhiên của huyện).
* Đất xám bạc màu
Đất được hình thành trên nền đất ferralit, trên các loại đá mẹ khác
19
nhau: như đá phiến sét, đá biến chất, đá sa thạch,… được con người khai phá
thành ruộng bậc thang để trồng lúa nước. Đất có phản ứng chua (pH
KCL
4,42 ở
lớp đất mặt). Lân tổng số ở lớp đất mặt trung bình (0,061%), ở các tầng dưới
nghèo. Lân dễ tiêu rất nghèo ở các tầng đất. Kali tổng số trung bình, kali dễ
tiêu nghèo. Đất có thành phần cơ giới thịt trung bình, tỷ lệ sét vật lý dao động
trong khoảng 30 - 40%.
.* Đất xám bạc màu trên phù sa cổ: (B)
Diện tích 1.395 ha (chiếm 4,57% diện tích tự nhiên của huyện), phân
bố ở xã Diễn Lâm,… Đất được hình thành trên sản phẩm phù sa cổ thường
phân bố ở khu vực địa hình chuyển tiếp giữa đồng bằng và trung du đồi núi.
Đất có phản ứng chua (pH
KCL
4,9 ở tầng mặt). Hàm lượng hữu cơ và đạm tổng
số ở lớp đất mặt nghèo tương ứng là (0,85 - 0,065%), càng xuống sâu các tầng
3. Đất mặn ít Mi 691 2,27
4. Đất mặn trung bình M 48 0,16
5. Đất mặn nhiều Mn 442 1,45
6. Đất phù sa không được bồi không có tầng glây P 6.735 22,09
7. Đất phù sa Glây Pg 1.870 6,13
8. Đất phù sa ngập úng Pj 1.600 5,25
9. Đất đỏ vàng trên đá sét Fs 4.354 14,28
10. Đất vàng nhạt trên đá cát Fq 303 0,99
11. Đất xám bạc màu trên phù sa cổ B 1.395 4,57
12. Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước Fl 122 1,57
13. Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ D 41 0,13
14. Đất xói mòn trơ sỏi đá E 1.557 5,11
(Nguồn:Theo kết quả điều tra đất năm 2001 - Viện Quy hoạch và TKNN)
1.2.2. Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt quan trọng nhất trên địa bàn huyện được cung cấp bởi
hệ thống sông ngòi và lượng mưa hàng năm. Tuy nhiên khả năng sử dụng
nguồn nước mặt cho tưới không lớn. Do hệ thống sông thường dốc và ngắn
nên trong mùa mưa nước thường tập trung nhanh và thoát nước chậm thường
gây úng ngập cho các vùng trũng ven sông, vào mùa khô, mực nước thấp lại
bị nhiễm mặn khá sâu nên hạn chế đáng kể khả năng sử dụng nước cho sản
xuất nông nghiệp, sinh hoạt đời sống của nhân dân.
Tuy chưa được thăm dò khảo sát toàn diện nhưng qua số liệu thu thập
được cho thấy nguồn nước ngầm của huyện cũng khá dồi dào. Mức độ nông,
sâu thay đổi tùy theo địa hình và lượng mưa trong mùa, thường vùng đồng
bằng và ven biển có mực nước ngầm nông, vùng đồi núi nước ngầm sâu hơn
và dễ bị cạn kiệt vào mùa khô. Chất lượng nước ngầm nhìn chung khá tốt, có
21
thể sử dụng trong sinh hoạt và sản xuất. Tuy nhiên ở khu vực ven biển thường
bị nhiễm mặn về mùa khô, do thuỷ triều lên.
Hiện nay, nhiều hộ gia đình trong huyện đang sử dụng nguồn nước
góp nhiều công sức cùng nhân dân cả nước giành được thắng lợi vẻ vang
trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ.
Ngày nay trong công cuộc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, dưới sự
lãnh đạo của Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân huyện Diễn Châu luôn thể hiện
tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, cần cù sáng tạo trong lao động, sản xuất.
Đã đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các mặt kinh tế - văn hóa - xã
hội. Kế thừa những thành quả đã đạt được, tranh thủ thời cơ, phát huy truyền
thống vốn có, Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân huyện đang vững bước tiến vào
thế kỷ XXI, cùng với tỉnh Nghệ An và cả nước vượt qua những khó khăn thách
thức thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.
1.2.7. Cảnh quan môi trường.
Nét đặc biệt của huyện là vừa có núi, có sông, có đồng, có biển; cùng
với khu di tích Đền Cuông, với những thắng cảnh đẹp được thiên nhiên ưu đãi
- lịch sử hào hùng - con người nhân ái, tất cả đã hòa quyện, đi vào thi ca sử
sách để tạo nên cho nơi đây một bức tranh tổng thể hùng vĩ và sống động.
Hiện tại tình trạng ô nhiễm đất, nước, không khí của huyện chưa nhiều,
điều kiện môi trường ở Diễn Châu khá thuận lợi đối với đời sống của dân cư và
phát triển sản xuất. Đến nay toàn huyện đã có 31/39 xã quy hoạch được bãi rác
thải tập trung, nhưng mới chỉ có 6 xã đã xây dựng . Tuy nhiên, có một số nguy cơ
gây ô nhiễm môi trường của huyện đó là:
- Nguồn gây ô nhiễm từ sản xuất: Trong sản xuất nông nghiệp, do
người dân quá lạm dụng trong việc sử dụng phân hoá học và thuốc trừ sâu đã
gây nên sự ô nhiễm trực tiếp tới nước, đất và môi trường không khí, ảnh
hưởng đến môi trường sinh thái, gây hại cho các vi sinh vật trong đất dẫn đến
làm giảm qúa trình phân huỷ chất hữu cơ và giảm độ phì của đất.
- Nguồn gây ô nhiễm về dân sinh: Đó là những chất thải từ vật nuôi, từ
sinh hoạt hàng ngày của nhân dân chưa được xử lý kịp thời. Đặc biệt hệ thống
tiêu thoát nước còn thiếu, nước thải sinh hoạt đổ ra hầu như ngấm trực tiếp
xuống đất.
còn có một số ít đồng chiêm trũng nhưng nhờ biện pháp thuỷ lợi kịp thời nên
năng suất lúa ổn định. Nhân dân có thể áp dụng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến,
24
ứng dụng khoa học kỹ thuật để đưa các giống lúa mới và đảm bảo cả số lượng và
sản lượng cây trồng làm tăng hiệu quả trong quá trình sản xuất kinh doanh.
- Nguồn nguyên vật liệu như: Cát, sỏi, đá, có trữ lượng lớn thuận lợi
cho ngành khai thác nguyên vật liệu xây dựng.
- Hệ thống giao thông đường bộ, đường thuỷ tương đối phát triển sẽ
góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của các ngành kinh tế, nhất là với
ngành tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề truyền thống, giao thông vận tải…
- Nhân dân trong huyện cần cù, chịu khó, ham học hỏi ,sáng tạo, đoàn
kết. Với nguồn lao động dồi dào, giàu kinh nghiệm, ý thức hướng tới sản xuất
hàng hoá…. Và luôn chịu ảnh hưởng tiếp thu văn minh đô thị.
- Cũng phải kể đến cảnh quan môi trường có núi, sông, có đồng, có
biển, cùng với khu di tích Đền Cuông, với những thắng cảnh đẹp được thiên
nhiên ưu đãi - lịch sử hào hùng – con người nhân ái trên địa bàn huyện tạo ra
một thế mạnh cho huyện về di tích và dịch vụ, thương mại.
* Khó khăn:
- Mặc dù nhiều thuận lợi, song cũng chính điều kiện tự nhiên cũng tạo
ra không ít khó khăn cho việc phát triển kinh tế của huyện.
- Yếu tố đầu tiên phải kể đến là điều kiện khí hậu thời tiết khắc nghiệt
và phức tạp đã gây nhiều trở ngại cho phát triển sản xuất, điển hình là các trận
bão lũ (bình quân mỗi năm có 1 đến 8 cơn bão đổ bộ vào đất liền ở Nghệ An)
đã gây nên hiện tượng ngập úng, làm nhiễm mặn vùng diện tích ven các cửa
sông ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân. Hoặc nhiệt độ cao, gió lào, hạn
hán kéo dài, cũng gây ảnh hưởng không nhỏ vào sản xuất, sinh hoạt cuả
người dân địa phương.
- Địa hình nửa miền núi nửa đồng bằng phức tạp đặc biệt địa hình của
vùng miền núi tương đối dốc, độ che phủ rừng thấp nên bị rửa trôi xói mòn
mạnh gây nên hiện tượng đất bị bạc màu xói mòn trơ sỏi đá.