BÀI THAM LUẬN :
TÁI CẤU TRÚC LẠI NỀN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM SAU
KHỦNG HOẢNG THEO HƯỚNG TOÀN DIỆN VÀ HIỆN ĐẠI.
Trần công Khích
Đặt vấn đề :
Thời gian qua, kinh tế Việt Nam nói chung và khu vực kinh tế nông nghiệp
nói riêng đã chịu nhiều tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới. Khủng
hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới đã tiếp tục tác động mạnh mẽ đến
nông nghiệp Việt Nam đang là ngành sản xuất hướng mạnh ra xuất khẩu. Trước
hết, gía nhiều mặt hàng nông sản trên thị trường thế giới giảm mạnh, sức ép cạnh
tranh lớn, trong khi đó các mặt hàng nông sản của ta chất lượng không đồng đều,
an toàn vệ sinh thực phẩm, hàng rào kỹ thuật đối với hàng nông sản xuất khẩu của
Việt Nam ngày càng gia tăng, hàng hoá của các nước trong khu vực có chất lượng
tốt hơn, giá có tăng hơn khoảng 10-20% so với sản phẩm trong nước nhưng họ vẫn
cạnh tranh được, đây là những thách thức đối với các mặt hàng được coi là thế
mạnh của nông nghiệp Việt Nam và là nguồn thu nhập lớn của đa số nông dân
(như gạo, hàng thuỷ sản, cà phê, điều, ). Chi phí đầu vào của sản xuất tăng
nhanh, nhất là từ năm 2008 đến nay, giá cả vật tư, giống, nhiên liệu, nguyên liệu
đầu vào của sản xuất và chế biến nông sản tăng nhanh; ảnh hưởng của biến đổi khí
hậu, thiên tai bão lũ, hạn hán, nắng nóng kéo dài diễn biến bất thường, cùng với
dịch bệnh gia súc, gia cầm, cây trồng ngày càng gia tăng, Từ đó đã dẫn đến : Giá
trị sản xuất và giá trị gia tăng cũng như kim ngạch xuất khẩu lâm sản, thuỷ sản đạt
thấp hơn cùng kỳ các năm trước
(1)
. Môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp và
hàng hoá nông sản trên thế giới và trong nước ngày càng gay gắt hơn. Đã tác động
trực tiếp đến giảm việc làm và thu nhập của nông dân, lực lượng lao động ở khu
vực nông thôn,
Tuy nhiên, trong những thời điểm khó khăn đất nước đã trải qua và những
tác động của các cuộc khủng hoảng kinh tế, nông nghiệp và kinh tế nông thôn vẫn
nước ta, góp phần làm thay đổi sâu sắc và ngày càng hiệu quả hơn trong việc khai
thác tài nguyên, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cũng như từng bước làm
thay đổi phương thức sản xuất ngày càng hiệu quả, hiện đại hơn và bền vững hơn.
Một số ví dụ về những số con số "ấn tượng" mà ngành nông nghiệp đã
đạt được vừa qua : (i) Năm 2009 là năm sút giảm mạnh về kinh tế, nhưng số
liệu của 6 tháng đầu năm 2010, kinh tế - xã hội nước ta tuy vẫn chịu tác động của
nền kinh tế thế giới, nhưng đang trên đà phục hồi và phát triển theo hướng tích cực
với mức tăng trưởng khá ở hầu hết các ngành, lĩnh vực. Tính chung 6 tháng đầu
năm, tổng sản phẩm trong nước tăng 6,16% so với cùng kỳ năm trước; trong
đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,31%, đóng góp 0,59 điểm
phần trăm vào mức tăng chung và cao hơn trên 1% so với năm 2009; điều quan
trọng là nông nghiệp góp phần quan trọng vào việc tạo việc làm, nâng cao dần
thu nhập của dân cư nông thôn và ổn định xã hội. (ii) Hoặc về xuất khẩu mặt hàng
nông, lâm, thuỷ sản : Nếu như tổng kim ngạch xuất khẩu của các hàng hoá khác sụt
giảm nhanh do khủng hoảng, thì xuất khẩu hàng nông lâm thuỷ sản vẫn giữ được
nhịp độ tăng trưởng cao 11-14%/năm; nếu năm 2000 chỉ mới đạt 4,197 tỉ USD, thì
năm 2007 con số này vượt trên 12 tỉ USD, năm 2009 đạt trên 14 tỉ USD và đã vượt
chỉ tiêu bình quân được đề ra trong giai đoạn 2006-2010; đồng thời là ngành có
nhiều mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD trở lên (6/10 mặt hàng xuất
khẩu có giá trị trên 1 tỉ USD/năm).
Nguyên nhân chính của những thành tựu là từ các chủ trương, chính
sách đúng đắn? Thực tế quá trình phát triển đất nước và thành tựu nông nghiệp đạt
được thời gian qua phải khẳng định bắt nguồn từ chủ trương, chính sách đúng đắn,
khơi dậy và khuýên khích sự sáng tạo của người dân, các thành phần kinh tế đóng
góp cho đất nước nói chung và nông nghiệp, nông thôn nói riêng.
Điểm lại trong nông nghiệp vừa qua cho thấy rõ : Năm 1989, khi công
nghiệp tăng trưởng âm, chính sách đổi mới của chỉ thị 100 của Bộ Chính trị (Khoá
6) tạo đột phá trong phát triển sản xuất nông nghiệp đã lần đầu tiên giúp đất nước
đủ gạo ăn và chuyển sang xuất khẩu. Năm 1999, chính sách mới của nghị quyết 6
Bộ Chính trị (Khoá 8) và vốn đầu tư cho nông nghiệp tăng cao tạo ra nhiều việc
(2) Cơ cấu nông nghiệp còn chuyển dịch chậm, trồng trọt vẫn chiếm tỉ trọng
lớn trong cơ cấu nội ngành nông nghiệp (năm 2007-2008 còn chiếm 75% trong cơ
cấu toàn ngành nông nghiệp, đến 6 tháng đầu năm 2010 vẫn chiếm trên 73%); cơ
cấu sản xuất trồng trọt thì nhóm cây lương thực vẫn chiếm chủ yếu (năm 2009 và 6
tháng đầu năm 2010 vẫn chiếm 58%); sản xuất chưa gắn với các cơ sở chế biến
công nghiệp, việc hình thành và xây dựng các vùng nguyên liệu cho chế biến công
nghiệp tiến hành chậm, còn phân tán, hiệu quả thấp;
(3) Năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của nhiều loại nông sản
thấp; việc ứng dụng khoa học, công nghệ để tăng năng suất, chất lượng cây trồng,
vật nuôi còn thấp; phần lớn nông sản xuất khẩu ở dạng thô và sơ chế; chưa có
thương hiệu, mẫu mã bao bì kém và chưa phù hợp với thị trường nên thường đạt
giá trị gia tăng thấp so với sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực (đến
năm 2007, mới có 12% quả, 8% rau, 13% thịt hơi, 6% gỗ lâm sản được qua chế
biến); vệ sinh an toàn thực phẩm kém đang là lo lắng của xã hội và làm giảm năng
lực cạnh tranh trong hội nhập.
(4) Cơ cấu lao động chuyển dịch chậm, chất lượng, năng suất và thu nhập
của lao động nông nghiệp còn thấp, sản xuất của nông hộ vẫn rất manh mún. Tổng
số hộ chuyên sản xuất nông nghiệp hiện còn trên 10,7 triệu hộ, chiếm trên 86% số
hộ; tổng lao động khu vực nông nghiệp 2008 còn trên 24 triệu người, chiếm 53%
lao động xã hội. Nguồn thu nhập chính ở nông thôn vẫn là từ nông nghiệp (trên
90%). Chuyển dịch cơ cấu lao động dang khu vực công nghiệp và dịch vụ vừa qua
còn khá chậm, mõi năm chưa đạt 2%. Chất lượng lao động nông thôn chưa được
cải thiện, tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt rất thấp (đến 2008 trong tổng số lao động
nông thôn mới chỉ có khoảng 10% lao động được đào tạo); lao động đang làm
nông nghiệp chủ yếu là phụ nữ, người lớn tuổi, tình hình trên đã làm cho lao động
ở nông thôn ngày càng "già" thêm. Do đất đai bình quân thấp, manh mún (hộ
SXNN có quy mô dưới 1 ha chiếm trên 82%, dưới 3 ha 97%), lại chưa tạo được
nhiều việc làm tại chỗ (như sản xuất vụ Đông ở các tỉnh phía Bắc, vụ 3 ở các tỉnh
phía Nam, phát triển các cây trồng ngắn ngày trên đất lúa, xây dựng mô hình đa
canh,…), thời gian sử dụng thực tế của lao động nông nghiệp mới đạt khoảng 65%
và kinh tế nông thôn vừa qua tuy có ban hành khá nhiều nhưng vẫn trong tình trạng
chưa hợp lý, thiếu đồng bộ, chậm được điều chỉnh; đồng thời việc xây dựng chính
sách chưa dựa vào cơ sở khoa học và thực tiễn của từng vùng, từng địa phương,
của nền kinh tế thị trường và còn những biểu hiện có yếu tố chủ quan, duy ý chí
trong xây dựng chính sách, nhất là chính sách đất đai, đầu tư cho khu vực nông
nghiệp. Do vậy, chính sách ban hành tính khả thi không cao, cùng với bộ máy và tổ
chức thực hiện kém, nên chủ trương dù có đúng đắn vẫn không vào được cuộc
sống.
Như vậy, những "điểm nghẽn" để kinh tế nông nghiệp phát triển vừa qua bắt
đầu từ những chính sách? Xin nêu một số "điểm nghẽn" chính đó là :
(1) Chủ trương đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh
tế nông thôn trên cơ sở có các chính sách phù hợp để phát triển hàng hoá và tăng
đầu tư cho khu vực này. Nhưng, việc điều chỉnh lại quy hoạch nông nghiệp thiếu
đồng bộ, cụ thể và đặc biệt đầu tư để thực hiện quy hoạch còn quá thấp
Chỉ nói riêng về đầu tư cho khu vực nông nghiệp vừa chưa tương xứng với
sự đóng góp của nông nghiệp; theo báo cáo của Bộ NN & PTNT tại đề án Tam
nông cho thấy : năm 2009 mức đóng góp của nông nghiệp chiếm khoảng 22%
GDP, nhưng đầu tư xã hội cho khu vực này giảm từ 13,8% năm 2002 xuống còn
7,5% năm 2007; vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho khối nông nghiệp luôn chỉ
đạt 18-19% tổng đầu tư trong nước; đầu tư của các thành phần kinh tế mới chỉ
bằng 16% tổng số vốn đầu tư và đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp, nông thôn
giai đoạn 2001- 2007 đạt 11% vốn đăng ký, nhưng thực hiện chỉ đạt 4% so với
cả nước (1,9 tỉ USD. Hoặc theo cam kết gia nhập WTO, hiện đầu tư của nhà nước
cho nông nghiệp mới chiếm khoảng 4%, trong khi theo cam kết của Việt Nam với
WTO chúng ta được quyền trợ cấp cho nông nghiệp lên đến 10% tổng giá trị sản
lượng nông nghiệp Đây là "điểm nghẽn" quan trọng làm cho nông nghiệp còn ở
trình độ thấp kém, hạ tầng kinh tế- xã hội còn nhiều bất cập, rủi ro do thời tiết,
thiên tại còn tiếp tục xảy ra và ảnh hưởng đến thành quả của người nông dân, đến
những cố gắng xây dựng nông thôn mới.
(2) Chủ trương đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp vào nông thôn nhằm xây
nay công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn rất nhiều hạn chế, chưa trở
thành công cụ để quản lý tốt đất đai, còn gây bị động, biến động đất đai chưa được
cập nhật kịp thời; đất lúa chưa được bảo vệ; việc thu hồi đất để sử dụng vào mục
đích quốc gia, lợi ích công cộng là chủ trương đúng đắn, nhưng chính sách và quá
trình thu hồi đất, đền bù giải toả mặt bằng còn khó khăn, xảy ra nhiều khiếu kiện;
xu hướng tích tụ đất đai để hình thành các vùng sản xuất hàng hoá chưa có những
chính sách cụ thể, khả thi, tình trạng sản xuất manh mún, phân tán, tự phát còn tiếp
tục xảy ra. Và cuối cùng là bộ máy quản lý nhà nước về đất đai nhìn chung còn
nhiều bất hợp lý, thiếu đồng bộ; các quyền của người sử dụng đất chưa được thực
hiện thuận lợi theo luật định, còn quá nhiều khó khăn về thủ tục; chưa tạo được
động lực mạnh để đất đai được chuyển dịch hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu
quả
(5) Điểm nghẽn lớn nữa đó là trình độ sản xuất và những bức xúc về giải
quyết việc làm, thu nhập cho nông dân. Tình trạng trình độ sản xuất còn thủ công,
năng suất thấp, đào tạo nghề cho nông dân và cho lao động nông thôn chậm được
triển khai, đặc biệt giải quyết việc làm và thu nhập cho nông dân có đất bị thu hồi
để sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp, việc tạo điều kiện cho lao động nông
thôn có việc làm tại chỗ và ngoài khu vực nông thôn còn rất nhiều bức xúc cần
được giải quyết đồng bộ.
Còn rất nhiều "điểm nghẽn" có thể kể ra để chứng minh làm hạn chế tăng
trưởng và đóng góp của khu vực nông nghiệp. Với 5 điểm nghẽn nói trên là cơ bản,
cần được quan tâm cấu trúc lại để nền nông nghiệp thực sự đi lên, khai thác có hiệu
quả lợi thế và tài nguyên cho khu vực này.
3. Một số kiến nghị tái cấu trúc nền nông nghiệp, kinh tế nông thôn
nhằm tăng trưởng toàn diện, hiệu quả và bền vững.
a. Mục tiêu và yêu cầu tái cấu trúc nền nông nghiệp, kinh tế nông thôn :
Nghị quyết Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 7 (khoá X) đã nêu :
"Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước"; theo đó xã đã xác
định "nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với
nghiệp đã có bước điều chỉnh về cơ cấu, nhưng nền sản xuất vẫn trong tình trạng
sản xuất manh mún, tự phát, hiệu quả thấp và đặc biệt chưa gắn với thụ trường.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu còn rất chậm, nông nghiệp và kinh tế nông thôn chưa
phát huy được thế mạnh theo lợi thế tự nhiên của từng vùng, lợi thế kinh tế của
từng loại cây trồng, con gia súc và hình thành được các vùng sản xuất hàng hoá
gắn với thị trường và công nghiệp chế biến, bảo đảm hiệu quả, bền vững. Đối
tượng mà chúng ta cần tập trung tái cơ cấu đó là chuyển mạnh sang sản xuất hàng
hoá, có các loại sản phẩm tạo ra giá trị hàng hoá cao, có thị trường và hiệu quả
kinh tế cao. Điều đó phải cấu trúc lại ở từng ngành (trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản,
nghề rừng và nghề muối" và phải trước hết được rà soát, bổ sung, điều chỉnh lại từ
quy hoạch sản xuất nông nghiệp ở từng vùng, từng địa phương; điều chỉnh lại lịch
thời vụ và quy trình canh tác phù hợp với từng điều kiện sinh thái và trình độ sản
xuất.
(2) Cấu trúc lại thị trường theo hướng tiếp tục phát triển và mở rộng thị
trường, tổ chức tốt việc tiêu thụ nông, lâm sản, thuỷ sản cho nông dân. Cần xác
định rõ từng loại sản phẩm sản xuất ra để đáp ứng yêu cầu của xuất khẩu, hoặc tiêu
thụ trong nước đồng thời với điều chỉnh lại thị trường, coi trọng hơn và phát triển
ổn định thị trường trong nước.
(3) Cấu trúc lại cơ cấu đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, bảo đảm các yêu
cầu về cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế đi đôi với bảm đảm các phúc lợi xã hội và
môi trường nông thôn. Trong đó, cần thiết và quan trọng nhất là cấu trúc lại cơ cấu
đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước, và huy động các nguồn vốn theo hướng đa
dạng hoá các nguồn lực xã hội để tiếp tục đầu tư phát triển mạnh hơn, hiệu quả hơn
các nguồn lực đầu tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn.
(4) Cấu trúc lại lực lượng lao động nông nghiệp và nông thôn theo hướng
chuyển mạnh lao động nông nghiêp sang ngành công nghiệp, dịch vụ như mục tiêu
đến 2020 tỉ lệ lao động nông nghiệp còn khoảng 50% tổng lao động xã hội. Tạo
điều kiện mọi mặt để nâng cao trình độ sản xuất, nâng cao năng suất lao động và
thu nhập cho nông, ngư, diêm dân; giải quyết cơ bản việc làm, nâng cao thu nhập
của dân cư nông thôn đến năm 2020 gấp trên 2,5 lần so với hiện nay; tạo điều kiện