Báo cáo thực tập tốt nghiệp: “Một số vấn đề cho vay hộ sản xuất ở Hội sở Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Giang - thực trạng và giải pháp” doc - Pdf 15



Báo cáo thực tập tốt nghiệp
“Một số vấn đề cho vay hộ sản xuất ở Hội sở Ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Giang -
thực trạng và giải pháp”

mục lục lời nói đầu

Chương I:
Hộ sản xuất trong nền kinh tế nước ta và vai trò của tín dụng Ngân hàng đối
với sự phát triển của hộ sản xuất

I. Vị trí, vai trò của kinh tế hộ trong nền kinh tế nước ta

1. Hộ sản xuất

2. Sự phát triển của kinh tế hộ và vai trò của hộ sản xuất

2.1. Sự phát triển của kinh tế hộ sản xuất

2.2. Vai trò của hộ sản xuất đối với các ngành kinh tế nói chung và ngành
3. Công tác sử dụng vốn

4. Công tác khác

III. Thực trạng cho vay hộ sản xuất ở Hội sở Ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn Hà Giang

1. Tình hình cho vay kinh tế hộ nông dân ở Hội sở Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn Hà Giang

2. Một số tồn tại và nguyên nhân

chương iii:
giải pháp nhằm mở rộng cho vay gắn liền với nâng cao chất lượng tín dụng
hộ sản xuất ở Hội sở Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà
Giang

I. Những giải pháp

II. Một số kiến nghị cụ thể

1. Đối với Nhà nước

2. Đối với Ngân hàng cấp trên

3. Đối với Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hà
Giang


hoá trong nông nghiệp là vô cùng quan trọng, nó là nguồn lực dồi dào cung cấp
lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Đồng thời nó cũng là
2
thị trường tiêu thụ sản phẩm của ngành công nghiệp, tạo công văn việc làm, tận
dụng mọi nguồn lực lao động trong nông thôn, góp phần hạn chế các tệ nạn xã hội
nhất là trong khu vực nông thôn hiện nay.
Để mọi tầng lớp nhân dân đều có thể được vay vốn phát triển sản xuất kinh
doanh, ngày 30 tháng 3 năm 1999 Chính phủ đã ban hành Quyết định số
67/1999/QĐ-TTg về “Một số chính sách tín dụng Ngân hàng phục vụ cho việc phát
triển nông nghiệp và nông thôn” với quy định hộ gia đình vay đến 10 triệu đồng
không phải thế chấp tài sản. Và mới đây là Nghị quyết số 11/2000/NQ-CP ngày 31
tháng 7 năm 2000 của Chính phủ về “Một số giải pháp điều hành kế hoạch phát
triển kinh tế xã hội 6 tháng cuối năm 2000”, nâng mức vay vốn không phải thế chấp
lên 20 triệu đồng. Văn bản này đã được triển khai sâu rộng tới tận thôn bản làm nức
lòng nông dân, tạo động lực mới, thúc đẩy sản xuất phát triển mạnh mẽ, củng cố
thêm lòng tin yêu của dân với Đảng, với Chính phủ, với ngành Ngân hàng.
Hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhận thấy rõ sự
cần thiết phải chuyển hướng nhanh đối tượng tín dụng từ khu vực kinh tế quốc
doanh và tập thể sang khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và hộ sản xuất. Đây là sự
chuyển hướng phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Mặt khác đi vào thị trường
tín dụng nông thôn và phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển nông thôn. Thị trường tín dụng nông thôn là mảnh đất còn chứa
ẩn nhiều tiềm năng mà Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn cần phải
vươn tới để thực hiện nhiệm vụ kinh doanh và thực hiện chủ trương lớn của Đảng
và Nhà nước là xoá đói - giảm nghèo. Song hiện nay quan hệ tín dụng giữa Ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn đối với kinh tế hộ sản xuất còn hạn hẹp
do nhiều vướng mắc và trở ngại. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng nhằm tìm ra
nguyên nhân và cách tháo gỡ là rất cần thiết.
Qua thời gian học tập tại Học viện Ngân hàng và quá trình công tác thực tế
nghiên cứu, khảo sát thực tế tại hội sở Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông

dụng thành thạo và vững chắc thay cho “con trâu đi trước, cái cày theo sau”, khi
xưởng máy mọc lên ở các làng mạc, thị trấn, ngành nghề phát triển rộng khắp, một
bộ phận đáng kể nông dân trở thành công nhân công nghiệp, hình thành cục diện
mới ở các vùng nông thôn thì lúc đó mới có thể nói công nghiệp hoá - hiện đại hoá
được hoàn thành cơ bản trên phạm vi cả nuớc”
(1)
. Chính vì lẽ đó kinh tế nông
nghiệp nông thôn mà chủ nhân là hộ sản xuất có vị trí vô cùng quan trọng trong
công cuộc đổi mới đất nước.
Hộ sản xuất ra đời là một yêu cầu bức xúc của ngành kinh tế, thể hiện chủ
trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Từ khi Chỉ thị 100 khoán 10
ra đời, kinh tế hộ sản xuất đã hình thành và phát triển đa dạng. Thực chất hộ sản
xuất là đơn vị kinh tế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất cũng như tiêu
thụ sản phẩm mà mình làm ra. Nói cách khác hộ sản xuất là chủ thể trong mọi mối
quan hệ sản xuất kinh doanh.

1
Trích bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười tại Hội nghị Khoa
giáo toàn quốc
5
2. Sự phát triển của kinh tế hộ sản xuất và vai trò của hộ sản xuất.
2.1. Sự phát triển của kinh tế hộ sản xuất.
a. Trước Chỉ thị 100.
Sản xuất nông nghiệp nông thôn tồn tại dưới hình thức tập trung như hợp tác
xã, nông trường quốc doanh người lao động làm việc theo kiểu ghi công tính
điểm, họ không có quyền gì trong vấn đề lựa chọn kế hoạch sản xuất, ăn chia, phân
phối hay sở hữu tư liệu sản xuất. Lúc này khái niệm hộ sản xuất chưa có, hiệu quả
sản xuất kém.
b. Sau Chỉ thị 100 và khoán 10.
Khi chủ trương của Nhà nước được đưa ra thực hiện việc giao khoán sản

thu được hiệu quả kinh tế thì đời sống của họ được nâng lên, tiện nghi sinh hoạt và
tư liệu sản xuất cũng trở nên hiện đại hơn, góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế
nông thôn với hệ thống cơ sở hạ tầng khang trang đẹp đẽ, an ninh trật tự xã hội
được giữ vững. Thật đúng là hộ sản xuất là những người “dân giàu làm nên nước
mạnh, xã hội văn minh”.
b. Vai trò của hộ sản xuất đối với nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Trước đây kinh tế nông nghiệp nông thôn phát triển một cách ỳ ạch, hiệu quả
thấp, vì vậy việc bố trí lao động chưa hợp lý, cách tổ chức sản xuất và phân phối sản
phẩm chưa khích lệ được người lao động. Nhưng từ khi hộ sản xuất ra đời, kinh tế
hộ sản xuất phát triển rộng rãi thì việc tận dụng lao động về mặt số lượng, cường độ
đã được sử dụng hợp lý.
Chính vì vậy, hộ sản xuất đã tự chủ trong tất cả các khâu công việc: Từ việc
mua sắm vật tư thiết bị sản xuất đến việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi cho phù
hợp với đặc điểm của từng vùng đất, từng địa phương, từng thời kỳ nhằm thu được
hiệu quả cao và tăng cường được khối lượng hàng hoá cho xuất khẩu. Có thể nói
Việt Nam từ một nước nghèo, đói ăn đã trở thành nước thứ 2 trên thế giới về xuất
khẩu gạo. Đó là sự đóng góp to lớn của kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp nông thôn.
7
Không những thế, việc khai hoang mở rộng diện tích gieo trồng, khai thác
mặt nước trồng thuỷ - hải sản đã được thực hiện tốt, tạo ra sự phong phú về sản
phẩm, đa dạng về chủng loại. Những làng nghề mọc lên cùng với truyền thống, kinh
nghiệm lâu đời của cha ông đã góp phần làm cho bộ mặt kinh tế nông nghiệp nông
thôn được đổi mới toàn diện.
3. Đặc điểm của kinh tế hộ.
Đặc điểm của kinh tế hộ - nhất là kinh tế hộ sản xuất nông nghiệp - có vai trò
quan trọng như đã nêu ở phần trên, tuy nhiên kinh tế hộ còn gặp phải nhiều khó
khăn và còn bộc lộ một số hạn chế nhất định.
 Sản xuất còn bị ảnh hưởng nhiều của yếu tố tự nhiên như: Thiên tai, hạn
hán, bão, lụt, dịch bệnh
 Hộ sản xuất tuy có kinh nghiệm lâu năm, có tinh thần cần cù chịu khó

tái sản xuất cho sản xuất nông nghiệp. Bởi một lẽ dân ta còn rất thiếu vốn để sản
xuất, trong khi đó thế mạnh và khả năng tiềm tàng của đất nước lại rất dồi dào. Nếu
có vốn, mọi ngành nghề sẽ được mở mang và phát triển, tạo ra một sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế quan trọng: Cơ cấu sản phẩm sẽ thay đổi phù hợp với nhu cầu của thị
trường trong nước, tiến tới đáp ứng nhu cầu của thị trường thế giới. Mặt khác nếu
có vốn tín dụng thì người sản xuất có thêm vốn giúp họ mạnh dạn đầu tư, áp dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm thu được hiệu quả kinh tế cao hơn.
Như vậy, rõ ràng tín dụng Ngân hàng có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển
kinh tế nông nghiệp và chỉ có vốn tín dụng là nguồn vốn gần nhất, tiện lợi nhất giúp
các nhà sản xuất có đủ vốn để sản xuất kinh doanh, có cơ sở để hạch toán lãi, lỗ và
giúp ngăn chặn tệ nạn xã hội cho vay nặng lãi ở nông thôn.

2. Tín dụng Ngân hàng đối với kinh tế hộ.
9
Trước đây hộ sản xuất do tâm lý ngại vay vốn Ngân hàng và do nhiều lý do
khác nữa nên đồng vốn Ngân hàng chưa đến được tận tay người nông dân, họ phải
đi vay nặng lãi khi vụ mùa giáp hạt, cho nên kinh tế hộ sản xuất chưa có dịp để phát
triển và bùng ra như bây giờ.
Ngày nay với hình thức cho vay tới tận tay người sản xuất, đồng vốn Ngân
hàng đã len lỏi đến tận các ngõ xóm, vùng sâu, vùng xa, miền núi. Hộ sản xuất đã
quen dần và phấn khởi khi mình có vốn trong tay bất kể lúc nào, đã tự chủ với đồng
vốn, tự sản xuất kinh doanh, tính toán thu chi và sắp xếp tiêu dùng gia đình. Họ
không phải lo lắng quá nhiều mỗi khi thời vụ đến bởi vì bên cạnh họ đã có người
bạn thân thiết vừa cho vay lại vừa tham mưu, giúp đỡ họ trong sản xuất kinh doanh.
Với mô hình Ngân hàng mở rộng từ Ngân hàng loại IV, Ngân hàng lưu động
và hình thức cho vay người nghèo thông qua tổ chức tương trợ, Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn đã trở thành người bạn đồng hành không thể thiếu
được của kinh tế hộ nông nghiệp nông thôn.
Tuy nhiên cho vay tới hộ sản xuất là hình thức phổ biến rộng rãi, làm một thị
trường rộng lớn mới mẻ đầy triển vọng nhưng cũng không tránh khỏi những hạn

Song để ngày một hoàn thiện hơn về quy chế cho vay tới khách hàng
cũng như khuyến khích sự phát triển ngày càng lớn mạnh của hộ kinh tế. Ngân
hàng Nông nghiệp Việt Nam đã căn cứ vào quyết định số 324/1998/QĐ-
NHNN1 ngày 30 tháng 9 năm 1998 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
về việc ban hành “quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng”.
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã ban hành
quyết định số 180/QĐ-HĐQT: “Quy định cho vay đối với khách hàng” ngày 15
tháng 12 năm 1998.
Đây là văn bản đầu tiên cụ thể hoá các quy định của hoạt động các tổ chức
tín dụng về hoạt động tín dụng.
Để bổ sung và hoàn thiện hơn các quy định về hoạt động tín dụng cho các tổ
chức tín dụng, ngày 25 tháng 8 năm 2000 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết
11
định ban hành “Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng” số
284/2000/QĐ-NHNN.
Theo đó Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam đã có
Quyết định số 06/QĐ-HĐQT ngày 18 tháng 1 năm 2001 về việc ban hành quy định
cho vay đối với khách hàng. Trong đó đã cụ thể hoá từng biện pháp nghiệp vụ đối
với cho vay hộ sản xuất như sau:
3.1. Nguyên tắc vay vốn.
3.1.1. Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín
dụng.
3.1.2. Phải hoàn trả nợ gốc và lãi đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng
tín dụng.
3.1.3. Việc đảm bảo tiền vay phải thực hiện quy định của Chính phủ, Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn về đảm bảo tiền vay của Ngân hàng Nông
nghiệp đối với khách hàng.
3.2. Điều kiện vay vốn.
3.2.1. Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách
nhiệm dân sự theo quy định cụ thể của pháp luật.

phương án phục vụ đời sống.
3.4.2. Các nhu cầu tài chính của khách hàng sau đây:
 Số tiền thuế xuất khẩu, nhập khẩu khách hàng phải nộp để làm thủ tục
xuất khẩu, nhập khẩu mà giá trị lô hàng đó Ngân hàng Nông nghiệp cho vay.
 Số lãi tiền vay trả cho Ngân hàng Nông nghiệp trong thời hạn thi công,
chưa nghiệm thu bàn giao và đưa tài sản cố định vào sử dụng đối với cho vay trung,
dài hạn để đầu tư tài sản cố định mà khoản trả lãi được tính trong giá trị tài sản cố
định đó.
13
 Số tiền khách hàng vay để trả cho khoản vay tài chính (bằng tiền) cho
nước ngoài mà các khoản vay đó đã được Ngân hàng Nông nghiệp bảo lãnh, nếu có
đủ các điều kiện sau: dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc
dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống sử dụng khoản vay trên đang được thực
hiện có hiệu quả, khoản vay nằm trong hạn trả nợ, khách hàng đạt được điều kiện
vay vốn thuận lợi hơn hoặc tiết kiệm chi phí so với vay vốn nước ngoài và có khả
năng trả nợ.
 Các nhu cầu tài chính khác phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và phục vụ đời sống theo quy định của Ngân hàng Nông nghiệp.
3.5. Thời hạn cho vay:
 Cho vay ngắn hạn: Tối đa đến 12 tháng, được xác định phù hợp với chu
kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng.
 Cho vay trung, dài hạn: Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với thời
hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất
nguồn vốn cho vay của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam.
+ Thời hạn cho vay trung hạn từ 12 tháng đến 60 tháng.
+ Thời hạn cho vay dài hạn từ trên 60 tháng trở lên, nhưng không quá thời
hạn hoạt động còn lại của doanh nghiệp và không quá 15 năm đối với cho vay các
dự án đầu tư phục vụ đời sống.
3.6. Lãi suất cho vay:
 Mức lãi suất cho vay do Ngân hàng Nông nghiệp nơi cho vay và khách

quyết định mức vốn tự có tham gia và xác định mức cho vay phù hợp với khả năng
trả nợ.
+ Đối với khách hàng được Ngân hàng Nông nghiệp nơi cho vay lựa chọn,
áp dụng cho vay có đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay: Việc xác định vốn
tự có tham gia, mức cho vay theo điều 17 quy định việc thực hiện các biện pháp
15
đảm bảo tiền vay trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam ban hành kèm
theo quyết định 167/HĐQT-03.
3.8. Trả nợ gốc và lãi:
3.8.1. Căn cứ vào đặc điểm sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, khả năng
tài chính, thu nhập và nguồn trả nợ của khách hàng, Ngân hàng Nông nghiệp nơi
cho vay và khách hàng thoả thuận việc trả nợ gốc và lãi tiền vay như sau:
 Các kỳ hạn trả nợ gốc;
 Các kỳ hạn trả lãi theo định kỳ hàng tháng, quý, vụ, chu kỳ kinh doanh,
hoặc trả lãi cùng với kỳ trả gốc;
 Đồng tiền trả nợ và bảo toàn giá trị nợ gốc bằng các hình thức thích hợp,
phù hợp với quy định của pháp luật.
3.8.2. Khi đến kỳ hạn trả nợ hoặc kết thúc thời hạn cho vay, nếu
khách hàng không trả được nợ đúng hạn và không được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ
hoặc không được gia hạn nợ, thì số nợ đến hạn không trả được phải chuyển sang nợ
quá hạn, khách hàng phải trả lãi suất nợ quá hạn đối với số tiền chậm trả.
3.8.3. Đối với khách hàng vay trả bằng nội tệ nếu trả trước hạn, số lãi
phải trả chỉ tính từ ngày vay đến ngày trả nợ; Đối với khách hàng vay bằng ngoại tệ,
nếu trả trước thời hạn thì Ngân hàng Nông nghiệp nơi cho vay và khách hàng thoả
thuận về số lãi tiền vay phải trả, nhưng không vượt quá số lãi đã ghi trong hợp đồng
tín dụng.
3.9. Hợp đồng tín dụng:
Hợp đồng tín dụng theo mẫu quy định gồm:
3.9.1. Hợp đồng tín dụng dùng cho khách hàng là pháp nhân, doanh
nghiệp tư nhân, công ty hợp doanh;

17
 Kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của
khách hàng;
 Chấm dứt việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng
cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm hợp đồng tín dụng;
 Khi đến hạn trả nợ mà khách hàng không trả nợ, nếu các bên không có
thoả thuận khác, thì Ngân hàng Nông nghiệp có quyền bán tài sản làm đảm bảo tiền
vay theo sự thoả thuận trong hợp đồng để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật
hoặc yêu cầu của người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với trường hợp
khách hàng được bảo lãnh vay vốn;
 Miễn, giảm lãi tiền vay thực hiện theo hướng dẫn hiện hành của Ngân
hàng Nông nghiệp Việt Nam, gia hạn nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, mua bán nợ theo
quy định của Ngân hàng Nông nghiệp và thực hiện việc đảo nợ, khoanh nợ, giãn nợ
theo quy định của Chính phủ.
3.11.2. Ngân hàng Nông nghiệp có nghĩa vụ:
 Thực hiện đúng thoả thuận trong hợp đồng tín dụng.
 Lưu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật.
3.12. Bộ hồ sơ cho vay:
3.12.1. Hồ sơ pháp lý:
 Chứng minh nhân dân, hộ khẩu (chỉ xuất trình khi làm thủ tục vay vốn);
 Đăng ký kinh doanh đối với cá nhân phải đăng ký kinh doanh.
 Giấy uỷ quyền cho người đại diện (nếu có).
3.12.2. Hồ sơ vay vốn:
 Hộ sản sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp vay vốn không phải thực
hiện đảm bảo bằng tài sản: giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất, kinh
doanh, sổ đỏ.
 Hộ gia đình, cá nhân (trừ hộ gia đình quy định tại điểm trên):
18
 Giấy đề nghị vay vốn;
 Dự án hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ;

Thị xã Hà Giang có diện tích tự nhiên 97km
2
với 5 xã thuần nông và 4
phường bán nông nghiệp, diện tích canh tác đất nông nghiệp là 1.200ha.
Dân số của thị xã có gần 30 vạn người, hơn 10 dân tộc cùng chung sống.
Tổng số hộ sản xuất 4.100 hộ với 13.900 khẩu, trong đó có 3.500 lao động.
Kinh tế nông nghiệp đã chuyển dần từ sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất
chuyên canh và giao lưu hàng hoá đã phát triển. Trình độ dân trí dần được nâng cao,
nhiều hộ đã biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp, phá
bỏ tập tục du canh du cư, phá rừng làm nương rẫy, chăn nuôi gia súc thả rông.
Bên cạnh đó, các điều kiện về môi sinh của thị xã chưa được tốt như nạn chặt
cây, phá rừng, đào đãi vàng, quặng đã làm cho nguồn nước cạn kiệt, xói mòn, lũ
quét và hạn hán xảy ra gây nên sự mất mùa, gây thiệt hại tiền của cho các hộ sản
xuất nông nghiệp.
Trong những năm gần đây do chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nước, quan
hệ Việt - Trung được nối lại, cửa khẩu quốc gia Thanh Thuỷ (cách thị xã Hà Giang
20
20km) đã thông thương, giao lưu buôn bán được mở rộng, hàng ngàn hộ nông dân
trước kia do chiến tranh biên giới phải bỏ nhà, ruộng nương đi sơ tán, nay trở lại
làm ăn sinh sống. Phần lớn những hộ này đều thiếu vật tư, tiền vốn để tổ chức lại
sản xuất, nhất là vốn một nhu cầu cấp bách đối với hộ nông dân ở Hà Giang
Trước yêu cầu đó, các cấp uỷ, chính quyền địa phương đã có nhiều nỗ lực
tập trung đưa nông nghiệp thị xã Hà Giang đi lên. Quan tâm tới vốn liếng và kỹ
thuật cho hộ nông dân là mục tiêu, chính sách của nhiều ngành, nhiều cấp. Các giải
pháp về cấp vốn xoá đói, giảm nghèo, đầu tư vốn ngân sách, vốn tín dụng, chuyển
dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi của hộ nông dân là hàng loạt những cố gắng của
chính quyền địa phương - trong đó tín dụng hộ sản xuất là công cụ quan trọng nhất.
2. Đặc điểm tình hình sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất trên địa bàn
thị xã Hà Giang:
Hà Giang là một tỉnh miền núi cao mới được chia tách từ tháng 10/1991, nơi

động, tiền bạc, thời gian của người dân, thay vì làm lợi cho họ.
Hai là vấn đề màng lưới và hình thức đầu tư: Nếu để riêng cho cán bộ tín
dụng trực tiếp nắm bắt nhu cầu của từng hộ, thẩm định từng món vay ở thôn bản thì
không thể đáp ứng được nhu cầu đông đảo của hộ sản xuất mang tính thời vụ được.
Thời vụ là cùng lúc có phân bón, cây giống làm sao hộ sản xuất thiếu vốn chờ được
cán bộ tín dụng đi thẩm định từng hộ. Vì vậy vấn đề đòi hỏi là phải tổ chức cho vay
qua các tổ trung gian: liên gia, tín chấp, tổ hỗ trợ vay vốn Thành lập những tổ này
sẽ chắp thêm những cánh tay vươn dài cho Ngân hàng nông nghiệp đến tận ngõ
ngách, thôn, bản, tạo cơ sở nắm chắc địa bàn, nắm vững đối tượng để đầu tư đúng
hướng, có hiệu quả.
Ba là vấn đề pháp lý: Trong điều kiện môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh
mà việc cho vay phải tuân thủ những quy định chặt chẽ để bảo toàn vốn, để vừa
phục vụ đắc lực cho nông thôn, nông dân, vừa đạt được yêu cầu trên, thì không có
cách nào khác là phải vận dụng linh hoạt luật với lệ để cho vay. Pháp luật đôi khi
còn mơ hồ, khó hiểu đối với nông dân miền núi, nhưng luật lệ làng bản, dòng tộc lại
có sức mạnh thiêng đối với họ. Nếu làm cho hoạt động tín dụng hộ sản xuất gắn với
22
đời sống của bà con, gắn được với quyền lợi của làng bản thì khả năng đầu tư sẽ
không ngừng được mở rộng với sự đảm bảo ngày càng cao.
Bốn là hoạt động tín dụng phải đi đôi với ứng dụng khoa học kỹ thuật: Ngân
hàng sẽ không thể đầu tư đại trà vào nông nghiệp, một ngành có tỷ suất lợi nhuận
thấp, nếu không tính đến sự đầu tư khoa học kỹ thuật tương ứng để nâng cao năng
suất, sản lượng, chất lượng sản phẩm, tạo tỷ suất hàng hoá cao, tỷ suất lợi nhuận lớn
hơn, đảm bảo có lãi trả đủ vốn cho Ngân hàng (gốc và lãi) và tái sản xuất mở rộng.
Ngân hàng không chỉ đơn thuần cho vay hộ sản xuất mà không tính đến điều kiện
cung cấp giống, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh, thị trường tiêu thụ sản phẩm là
những yếu tố có vai trò quan trọng đến việc tổ chức sản xuất của người nông dân.
Năm là về lãi suất: Cần có một chính sách lãi suất hợp lý cho nông nghiệp,
cho hộ sản xuất. Đặc biệt trước cơ chế khoán tài chính của Ngân hàng Nông nghiệp,
nếu cứ bình đẳng lãi suất với các thành phần kinh tế thì nông dân chỉ có thể vay đủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status