Báo cáo tốt nghiệp: “Giải pháp nhằm phát triển cho vay trung và dài hạn đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi nhánh Ngân hàng Công thương Cầu Giấy” - Pdf 15


Báo cáo tốt nghiệp “Giải pháp nhằm phát triển cho vay trung và dài hạn đối với
các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi nhánh Ngân hàng
Công thương Cầu Giấy”
Mục lục
Báo cáo tốt nghiệp 1
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI 6
1.1. Tổng quan về cho vay trung và dài hạn của NHTM 7
1.1.1. Khái niệm cho vay trung và dài hạn 7
1.1.2. Vai trò của cho vay trung và dài hạn 7
1.1.3. Đặc điểm của cho vay trung, dài hạn của NHTM 10
1.2. Khái quát về DNNQD tại Việt Nam 15
1.2.1. Khái niệm DNNQD 15
1.2.2. Đặc điểm của DNNQD tại Việt Nam 16
1.2.3. Vai trò của DNNQD Việt Nam trong nền kinh tế thị trường 19
1.2.4. Cho vay trung và dài hạn của NHTM đối với DNNQD 22

3.2.1. Nhóm giải pháp khách quan 65
3.2.2. Nhóm giải pháp chủ quan từ phía ngân hàng 67
KẾT LUẬN 76

LỜI MỞ ĐẦU


xuất, tiêu thụ và xuất khẩu; làm tiền đề cho CNH - HĐH. Tuy nhiên trong quá
trình thực hiện đã nảy sinh nhiều vướng mắc và kết quả đạt được chưa như
mong muốn. Vì vậy vấn đề cấp thiết hiện nay là phải tìm ra được biện pháp
giải quyết tình trạng này. Trên đây là những lý do xuất phát từ sự cấp thiết
của thực tiễn để em lựa chọn đề tài “Giải pháp nhằm phát triển cho vay
trung và dài hạn đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi
nhánh Ngân hàng Công thương Cầu Giấy”
2. Mục đích nghiên cứu
Chuyên đề tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
_ Những vấn đề cơ bản về cho vay trung và dài hạn của NHTM; cũng
như tìm hiểu về khu vực DNNQD
_ Khái quát về thực trạng công tác cho vay trung và dài hạn đối với
DNNQD tại CN NHCTCG
_ Đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển cho vay trung và dài hạn đối
với DNNQD tại CN NHCTCG
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
_ Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là: hoạt động cho vay trung và dài
hạn đối với DNNQD Việt Nam
_ Phạm vi nghiên cứu của chuyên đề là thực trạng hoạt động cho vay
trung và dài hạn tại CN NHCTCG đối với riêng DNNQD trong thời gian 3 năm 2005, 2006, 2007 và hướng phát triển tiếp theo của hoạt
động này trong thời gian tới
4. Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng kết hợp trong chuyên đề
bao gồm: phương pháp thống kê và thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích,
so sánh đối chiếu, tổng hợp.
5. Kết cấu chuyên đề
Kết cấu chuyên đề gồm 3 phần:

cho vay trung và dài hạn là để bổ sung cho tài sản cố định của người đi vay
nhằm phát triển sản xuất theo chiều rộng và chiều sâu.
Cho vay trung và dài hạn của ngân hàng là các khoản cho vay có thời
hạn trên 01 năm nhưng không dài hơn thời gian sử dụng còn lại của tài sản
hình thành bằng vốn vay. Việc phân định cụ thể thời gian của cho vay trung
hạn và dài hạn tuỳ thuộc vào quy định của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, theo
“Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng”
3
thì: “Cho vay
trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60
tháng; Cho vay dài hạn là các khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên 60
tháng trở lên”.
1.1.2. Vai trò của cho vay trung và dài hạn
1.1.2.1. Vai trò của cho vay trung và dài hạn đối với NHTM
 Mang lại lợi nhuận cao hơn cho vay ngắn hạn

2
Điều 3, quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN
3
Điều 8, quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN Trong các loại tài sản của ngân hàng thì khoản mục cho vay bao giờ
cũng chiếm tỷ trọng cao nhất (thường là 70%) và là khoản mục mang lại thu
nhập chủ yếu cho ngân hàng. Trong tổng thể các hoạt động cung cấp dịch vụ
của NHTM thì chỉ có lãi suất thu được từ cho vay mới bù đắp nổi các chi phí
tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí thuế và các chi
phí rủi ro đầu tư… Hoạt động cho vay trung và dài hạn tuy chiếm tỷ trọng
nhỏ do tính rủi ro cao nhưng cũng chính tính rủi ro của những khoản cho vay
này lại đem lại lợi nhuận cao hơn các khoản cho vay ngắn hạn của NHTM.

thành của NHTM, là cơ sở nâng cao chất lượng tín dụng và hạn chế rủi ro tín
dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Như vậy, một mặt thì do nhu cầu khách quan của nền kinh tế, mặt khác
để đạt được mục tiêu phát triển cho chính mình thì đối với các NHTM cho
vay trung và dài hạn luôn là mảng kinh doanh đầy tiềm năng.
1.1.2.2. Đối với nền kinh tế
Cho vay trung và dài hạn của NHTM góp phần giảm gánh nặng cho
ngân sách Nhà nước cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Nó là công cụ
tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành kinh tế mũi nhọn.
Thông qua hệ thống ngân hàng, Nhà nước tài trợ cho các ngành kinh tế kém
phát triển bằng việc cho vay ưu đãi với lãi suất thấp, thời gian dài, mức vốn
lớn. Bên cạnh đó Nhà nước còn có thể tài trợ cho những ngành kinh tế mũi
nhọn - các ngành này phát triển sẽ tạo cơ sở cho các ngành kinh tế khác phát
triển theo. Bên cạnh đó, khi cho vay thì một trong những yêu cầu đầu tiên mà
ngân hàng đặt ra là phải đảm bảo được tính an toàn. Chính vì vậy mà ngân
hàng luôn có các biện pháp kiểm tra, giám sát chặt chẽ trước, trong và sau khi
cho vay đối với mọi dự án. Và cũng không giống như nguồn vốn cấp phát từ
ngân sách Nhà nước, nguồn vốn từ ngân hàng được cấp dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi, vì vậy người đi vay sẽ phải đảm bảo thực hiện đúng
tiến độ, sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất. Đây chính là điểm ưu việt của
nguồn vốn vay trung và dài hạn của NHTM so với nguồn từ ngân sách Nhà
nước.
Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, nguồn vốn trung và dài hạn là
một nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
CNH-HĐH. Thêm vào đó, nó là công cụ đòn bẩy thúc đẩy mạnh mẽ phát triển
kinh tế hàng hoá, hình thành và góp phần ổn định nền kinh tế thị trường. Tuy
nhiên, thị trường tài chính – tiền tệ, nhất là thị trường vốn chưa phát triển thì
toàn bộ áp lực về vốn trung và dài hạn đang dồn lên vai các ngân hàng.

tài sản thuộc dự án đầu tư; chi phí khác”
5

1.1.3.3. Nguồn hình thành nguồn vốn trung và dài hạn của NHTM
Tín dụng trung, dài hạn hình thành từ 5 nguồn: vốn chủ sở hữu; vốn
huy động dài hạn (trái phiếu, tiền gửi dài hạn); huy động ngắn hạn; vay nước
ngoài; vốn nhận uỷ thác và vốn tài trợ để cho vay theo chương trình hoặc dự
án đầu tư của Nhà nước, của tổ chức kinh tế - tài chính - tín dụng - xã hội ở
trong và ngoài nước
Vốn chủ sở hữu hình thành do vốn góp hay do tích luỹ được trong quá
trình kinh doanh có vai trò rất quan trọng. Nó góp phần xác định quy mô và
cơ cấu của ngân hàng, tăng khả năng mở rộng cho vay và đầu tư, đặc biệt là
trung và dài hạn. Số vốn này thuộc về sở hữu của NHTM nên dùng để cho
vay trung và dài hạn là khá an toàn. Tuy nhiên vốn chủ sở hữu lại chiếm tỷ
trọng nhỏ, thường chỉ từ 5% đến 7% nên không dễ dàng mở rộng cho vay.
Nguồn hình thành từ hoạt động phát hành trái phiếu của ngân hàng và
huy động tiền gửi dài hạn của khách hàng: Nguồn từ phát hành trái phiếu
không có tính thường xuyên và cũng chỉ chiếm từ 4% đến 6,7% lượng vốn mà

5
Điều 8, quyết định 367/1995/QĐ-NHNN NHTM huy động được. Còn nguồn từ tiền gửi dài hạn của khách hàng tại
ngân hàng thì còn hạn chế về cả khối lượng và thời gian gửi. Hơn nữa lãi mà
ngân hàng phải trả cho tiền huy động dài hạn lại cao hơn khi huy động ngắn
hạn. Do đó nguồn này được xem là khan hiếm và đắt đỏ.
Nguồn do huy động ngắn hạn chiếm tới 70% tổng lượng vốn huy động
của NHTM do đó có thể xem đây là một nguồn dồi dào. Và với công cụ
chuyển hoán kỳ hạn thì nguồn ngắn hạn có thể dùng để cho vay trung và dài

biến động của thị trường (gọi là lãi suất thả nổi). Tuy nhiên với các khoản cho
vay có thời gian là trung và dài hạn thì NHTM thường áp dụng lãi suất thả nổi
nhằm đảm bảo cả hai mục tiêu là an toàn và sinh lợi.
1.1.3.7. Cho vay trung và dài hạn có tính rủi ro cao
So với các khoản cho vay ngắn hạn với thời gian dưới 01 năm thì cho
vay trung và dài hạn là hoạt động có tính rủi ro cao. Tính chất rủi ro của các
khoản cho vay trung và dài hạn cao xuất phát từ đặc điểm về thời hạn cho vay
dài và quy mô cho vay lớn của chúng.
 “Thời hạn cho vay được TCTD và khách hàng thoả thuận căn cứ vào
chu kỳ sản xuất kinh doanh, thời gian thu hồi vốn của phương án, dự án đầu
tư, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn cho vay của TCTD. Đối với
các pháp nhân Việt Nam và nước ngoài, thời hạn cho vay không quá thời gian
hoạt động còn lại theo quyết định thành lập hoặc theo giấy phép hoạt động
tại Việt Nam”
7
. Do mục đích của các khoản vay như đã trình bày thì thời gian
để khách hàng có thể hoàn vốn là rất dài đồng thời khối lượng vốn vay lại rất
lớn. Trong thời gian đó nhiều biến động không mong muốn có thể xảy ra như
khách hàng làm ăn thua lỗ, dự án không được hoàn thành, lãi suất thị trường
tăng cao trong khi lãi suất cho vay đã được cố định từ trước trong hợp đồng
tín dụng, … đều có thể gây thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động của
NHTM.

6
Điều 11 quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN
7
Điều 10 Quyết định 1627/QĐ-NHNN  Tính rủi ro của các khoản cho vay trung và dài hạn còn thể hiện ở chỗ
Tóm lại, các đặc điểm của khoản cho vay trung và dài hạn như quy mô
món vay, thời hạn cho vay, cũng như mục đích sử dụng của khoản vay đều
cho thấy tính chất rủi ro của tín dụng trung và dài hạn đối với hoạt động kinh
doanh của NHTM. Đây là nguyên nhân vì sao tỷ trọng tín dụng ngắn hạn tại
các NHTM thường cao hơn tín dụng trung và dài hạn. Tuy rủi ro cao song lợi
nhuận nó đem lại cho ngân hàng (như đã phân tích ở phần vai trò của cho vay
trung và dài hạn) lại rất hứa hẹn nếu không xảy ra các tình huống ngoài dự
đoán của ngân hàng. Như vậy vấn đề đặt ra không phải là hạn chế cho vay
trung và dài hạn để giảm rủi ro mà phải biết tìm ra các nhân tố ảnh hưởng tới
hoạt động cho vay trung và dài hạn để tìm hướng giải quyết hợp lý sao cho
vừa đảm bảo được tính an toàn vừa nâng cao lợi nhuận
1.2. Khái quát về DNNQD tại Việt Nam
Hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội mỗi nước khác nhau sẽ tạo nên
những đặc điểm không thể giống nhau của khối kinh tế ngoài quốc doanh. Tại
Việt Nam thì khối DNNQD mới chỉ được Đảng chính thức công nhận như
một thành phần kinh tế tất yếu khách quan từ năm 1986. Tuy nhiên, để đảm
bảo việc bám sát tình hình thực tế của Việt Nam cũng như có đầy đủ các số
liệu nhằm làm rõ các vấn đề nêu ra thì trong giới hạn của chuyên đề này, em
xin được tập trung tìm hiểu riêng về DNNQD tại Việt Nam.
1.2.1. Khái niệm DNNQD
Sách Quản trị doanh nghiệp
9
đã đưa ra một khái niệm được xem là đầy
đủ nhất về DNNQD. Theo đó thì:
“DNNQD là các doanh nghiệp vốn trong nước, mà nguồn vốn thuộc sở
hữu tập thể, tư nhân một người hay một nhóm người hoặc có sở hữu Nhà
nước nhưng chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống. DNNQD bao gồm:


nghệ, … là những ngành nghề chủ yếu sử dụng lao động thủ công. Vốn ít đã

10
Niên giám Thống kê năm 2007 (NXB Thống kê) khiến các DNNQD ít có khả năng trang bị công nghệ tiên tiến, với mức đầu tư
trung bình cho tài sản cố định trên một lao động chỉ có 43 triệu đồng so với
137 triệu đồng đối với DNQD và 247 triệu đồng đối với doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài
11
. Máy móc thiết bị nhập khẩu chủ yếu thuộc thế hệ thứ
hai, thứ ba của nước ngoài. Kỹ thuật công nghệ lạc hậu là tác nhân chính gây
trì trệ trong quá trình sản xuất kinh doanh của các DNNQD.
1.2.2.3. Lĩnh vực hoạt động kinh doanh đa dạng
Các DNNQD hoạt động trên hầu hết mọi địa bàn, mọi ngành nghề của
nền kinh tế: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng,
nông – lâm nghiệp, thuỷ sản, thương mại, du lịch và dịch vụ. Trong đó tập
trung lớn hơn vào các ngành thương mại, dịch vụ và công nghiệp. Thậm chí
một doanh nghiệp cũng có thể hoạt động cùng lúc trong nhiều lĩnh vực khác
nhau. Điều này không chỉ thúc đẩy lưu thông hàng hoá mà còn giúp giảm rủi
ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thuộc khu
vực này đã khơi dậy, huy động và khai thác một tiềm năng to lớn về tiền vốn,
sức lao động, trí tuệ, kinh nghiệm, khả năng kinh doanh và các nguồn lực
khác của địa phương mình.
1.2.2.4. Dễ thích ứng với biến động môi trường kinh doanh
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ được đánh giá là bộ phận năng động,
hoạt động có hiệu quả của nền kinh tế. Điều này xuất phát từ lợi thế của quy
mô nhỏ, gọn nên việc chuyển hướng trong kinh doanh của các DNNQD dễ
dàng hơn. Đặc điểm hoạt động đa dạng ngành nghề cũng góp phần giảm thiểu

bên cạnh những ưu điểm không thể phủ nhận thì khu vực DNNQD cũng tồn
tại nhiều nhược điểm cần khắc phục ngay trong thời gian tới nhằm phát triển
cho xứng với tiềm năng vốn có của mình. Một trong những biện pháp có thể
giúp các DNNQD trong cả ngắn hạn và dài hạn chính là vay vốn từ NHTM.
Nhận định này sẽ được làm rõ trong các phần tiếp theo.

12
Số liệu thống kê DNNQD năm 2007 (website của Tổng cục Thống kê) 1.2.3. Vai trò của DNNQD Việt Nam trong nền kinh tế thị trường
DNNQD Việt Nam ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng của mình,
xứng đáng là một trong những động lực của nền kinh tế hiện nay.
1.2.3.1. Tạo thêm nhiều việc làm
DNQD không thể tạo đủ việc làm cho tất cả mọi lao động trong xã hội;
khu vực doanh nghiệp nước ngoài thì không phải lao động nào cũng có thể
đáp ứng những yêu cầu về trình độ, kỹ năng do họ đặt ra; do đó các DNNQD
trở thành cứu cánh cho số lao động này. Hơn nữa do tính đa dạng trong loại
hình của DNNQD, tính đa dạng trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, phạm vi
phân bố rộng, dễ dàng thành lập bởi một cá nhân, một gia đình, hay một số cổ
đông liên kết lại dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần
cùng với việc sử dụng kỹ thuật sản xuất cần tương đối nhiều lao động, kinh tế
ngoài quốc doanh là nơi tạo việc làm nhanh nhất, dễ dàng hơn so với khu vực
kinh tế Nhà nước.
Trong giai đoạn 2001-2005, bình quân cả nước tạo việc làm mới cho
người lao động được khoảng 1,5 triệu việc làm/năm. Trong đó, khu vực
DNNQD có đóng góp đáng kể, khoảng 0,3 triệu việc làm/năm.
Bảng 1.1: Cơ cấu lao động hàng năm phân theo thành phần kinh tế
13


trọng lao động làm việc trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 68,2%
năm 2000 xuống còn 57% năm 2005, tỷ trọng lao động trong các ngành
thương mại, dịch vụ tăng từ 19,7% lên 25%…
1.2.3.3. Tạo môi trường cạnh tranh thúc đẩy phát triển kinh tế
Cùng với sự lớn mạnh của mình, khối DNNQD đã tạo ra sức ép cạnh
tranh đối với khối DNQD. Tuy nhiên cuộc cạnh tranh này là hoàn toàn có lợi.
Nó là động lực quan trọng để các DNQD tiến hành cải cách toàn diện, chấm
dứt sự lệ thuộc vào Nhà nước. Cạnh tranh song không phải là để tiêu diệt lẫn
nhau, cạnh tranh là để đôi bên cùng phát triển, đóng góp vào sự phát triển
kinh tế chung của cả nước.
DNNQD sẽ là những đối tác tin cậy với các nhà đầu tư nước ngoài, là
cầu nối quan trọng cho sự hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Sự phát triển
của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là cơ sở thu hút vốn đầu tư nước ngoài
trong quá trình liên doanh liên kết. 1.2.3.4. Đóng góp vào GDP, đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước
Theo Bộ Kế hoạch và Ðầu tư, khu vực DNNQD đã đóng góp khoảng
26% GDP, 31% giá trị sản xuất công nghiệp, 78% tổng mức bán lẻ, 64% khối lượng vận chuyển hàng hóa trong giai đoạn 2001-2005. Vốn sử dụng cho hoạt
động sản xuất, kinh doanh của DNNQD qua các năm cũng liên tục tăng. Nếu
năm 2000 là 98.348 tỷ đồng thì năm 2006 là 150.500 tỷ đồng (gấp 2,37 lần
mức đầu tư của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, chiếm 37,7% trên
tổng vốn đầu tư toàn xã hội). Và đồng thời khu vực này tạo ra 45,66% GDP
của cả nước.
Sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh góp phần hoàn
thiện một cơ cấu kinh tế tối ưu, đáp ứng đầy đủ nhu cầu trong nước và hướng
vào xuất khẩu ra nước ngoài. Nói cách khác, khu vực kinh tế ngoài quốc


Số doanh nghiệp khu vực DNNQD gia nhập thị trường tăng bình quân
mỗi năm hơn 21,8% và tăng 44,1% về vốn đăng ký
15
. Số lượng và năng lực
tài chính không ngừng tăng lên này là cơ sở cho những khoản cho vay của
NHTM tăng về cả quy mô và chất lượng.
NHTM sẽ phân tán được rủi ro do số lượng khách hàng DNNQD lớn,
quy mô từng khoản vay nhỏ, trải rộng trên hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực
nên việc cho vay các đối tượng này sẽ giúp phân tán rủi ro của doanh mục cho
vay. Hơn nữa, cho vay với DNNQD, NHTM không phải thực hiện các ưu đãi
về lãi suất nên thu lợi nhuận cao hơn so với cho vay khối DNNN.
Tạo điều kiện để tăng thu dịch vụ ngân hàng do tổng số lượng giao dịch
lớn. Các DNNQD chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường có xu
hướng sử dụng trọn gói dịch vụ tại một ngân hàng do đó tạo cơ hội để NHTM
nâng cao và thay đổi dần cơ cấu thu nhập.
Ngân hàng dễ dàng quản lý khoản vay của khách hàng do DNNQD
thường có quy mô nhỏ, gọn, địa bàn hoạt động hẹp.
Cho vay với DNNQD, NHTM sẽ có điều kiện khai thác tối ưu mạng
lưới chi nhánh rộng khắp trên cả nước. Do các DNNQD có địa bàn hoạt động
trải rộng trên cả nước nên NHTM có thể khai thác tối ưu mạng lưới chi nhánh
tại hầu hết các tỉnh, thành phố. Hơn nữa, thế mạnh của là tài trợ cho các
Doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp và thương nghiệp – đây cũng là lĩnh
vực hoạt động chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay.
1.2.4. Cho vay trung và dài hạn của NHTM đối với DNNQD
1.2.4.1. Nguồn huy động vốn trung và dài hạn của DNNQD hiện nay
Vốn trung và dài hạn dành cho đầu tư mở rộng sản xuất theo chiều rộng
và chiều sâu của các doanh nghiệp được hình thành từ vốn chủ sở hữu và vốn

15


Trong bối cảnh hiện nay thì đối với các DNNQD vay vốn trung và dài
hạn từ NHTM vẫn là phương án tối ưu.
1.2.4.2. Vai trò của vốn vay trung và dài hạn từ NHTM đối với DNNQD
 Giúp giải quyết nhu cầu đầu tư dài hạn của DNNQD
Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, nhất là trong
thời buổi hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay thì để đảm bảo cho khả năng tồn
tại và phát triển của mình, các doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư cả về
chiều rộng và chiều sâu. DNNQD luôn có nhu cầu về vốn trung và dài hạn để
mua sắm trang thiết bị, xây dựng, cải tiến kỹ thuật, mua công nghệ,… nhằm
thoát khỏi tình trạng quy mô nhỏ hẹp, kỹ thuật và công nghệ lạc hậu hiện nay.
Vốn vay trung và dài hạn của góp phần đáp ứng nhu cầu này để duy trì quá
trình sản xuất được liên tục và phát triển. Điều này càng trở nên đặc biệt quan
trọng đối với các DNNQD trong sự cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị
trường.
DNNQD có 03 nguồn để huy động vốn trung và dài hạn là từ thị trường
phi chính thức, từ thị trường chứng khoán và từ NHTM. Tuy nhiên thì việc sử
dụng vốn qua hệ thống NHTM dưới hình thức cho vay trung và dài hạn vẫn là
quan trọng và khả thi nhất.
 Không làm ảnh hưởng tới quyền kiểm soát của doanh nghiệp
Việc vay nợ trung và dài hạn từ NHTM giúp chủ doanh nghiệp có thể
kiểm soát toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp mình. Các doanh nghiệp ưa
huy động vốn vay nhằm tránh phát hành cổ phiếu - hình thức huy động vốn sẽ
dẫn đến sự phân chia quyền lợi kiểm soát đối với doanh nghiệp
Tài sản cố định nói chung của doanh nghiệp được tài trợ bằng cách tăng
vốn cổ phần và vay nợ dài hạn. Tuy nhiên việc sử dụng vốn vay trung và dài
hạn tỏ ra có nhiều ưu điểm hơn việc doanh nghiệp phát hành thêm cổ phiếu.
Ưu thế của vốn vay trung và dài hạn so với việc phát hành cổ phiếu thể hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status