tìm hiểu kỹ thuật sản xuất giống cá ông tiên (pterophyllum altum pellegrin, 1903) tại vinpearl land – khánh hòa - Pdf 15

i

LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành đề tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được nhiều sự
giúp đỡ từ mọi người. Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến:
- Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, các Thầy, Cô giáo khoa Nuôi
trồng Thủy Sản đã cung cấp cho tôi những kiến thức nền tảng để tôi có thể thực
hiện đề tài.
- Công ty Vinpearl Land, các anh, chị trong Bộ phận Thủy Cung đã tạo điều
kiện cho tôi học tập và hoàn thành đồ án tốt nghiệp.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến T.S Hà Lê Thị Lộc và T.S Lục
Minh Diệp đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong quá trình thực tập tốt nghiệp.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân và bạn bè đã lo lắng
giúp đỡ động viên tôi trong suốt thời gian học tập.
Tôi xin chân thành cảm ơn! Nha Trang, tháng 6 năm 2011
Sinh viên thực hiện

Đặng Thị Thúy Diễm

ii

iii

2.3.1.4 Xác định tỷ lệ sống 12
2.3.1.5 Xác định tốc độ tăng trưởng của cá thông qua chỉ tiêu chiều dài,
chiều cao và khối lượng cơ thể 12
2.3.2 Phương pháp theo dõi quá trình phát triển phôi và cá mới nở đến hai
tháng tuổi. 12
2.3.2.1 Phương pháp thu mẫu 12
2.3.2.2 Theo dõi quá trình biến thái của phôi 12
2.3.2.3 Theo dõi quá trình phát triển của cá mới nở đến hai tháng tuổi . 12
2.3.3 Phương pháp kỹ thuật ương nuôi cá mới nở đến đến hai tháng tuổi 13
2.3.4 Phương pháp thu thập các thông số môi trường 13
2.4 Phương pháp xử lý số liệu . 13
Phần 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN. 14
3.1 Kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ và cho cá đẻ 14
3.1.1 Kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ 14
3.1.2 Kỹ thuật cho cá đẻ 17
3.2 Ấp nở trứng . 18
3.2.1Quá trình ấp trứng cá ông tiên 18
3.2.2 Quá trình phát triển phôi . 20
3.3 Ương nuôi cá con từ lúc mới nở đến hai tháng tuổi 23
3.3.1 Quản lý và chăm sóc cá con từ khi mới nở đến khi đạt hai tháng tuổi 23
3.3.1.1 Thức ăn và cách cho ăn. 23
3.3.1.2 Quản lý môi trường bể nuôi 24
3.3.2 Quá trình phát triển và tốc độ tăng trưởng của cá con từ mới lúc nở đến hai
tháng tuổi. 27
3.3.2.1 Quá trình phát triển của cá con từ khi mới nở đến hai tháng tuổi 27
3.3.2.2 Tốc độ tăng trưởng của cá ông tiên từ 1 ngày tuổi đến 60 ngày tuổi 32
Phần 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 35
4.1 Kết luận 35

Hình 3.4: Hình dạng và vị trí đặt giá thể 17
Hình 3.5: Hoạt động đẻ của cá ông tiên bố mẹ 17
Hình 3.6 Trứng cá ông tiên vừa đẻ xong 19
Hình 3.7: Trứng bị nấm và nguyên sinh động vật bám 19
Hình 3.8: Các giai đoạn phát triển của phôi cá ông tiên . 22
Hình 3.9: Trứng Atermia và vợt cho ăn. 24
Hình 3.10: Bể ương nuôi cá ông tiên 24
Hình 3.11: Biểu đồ biến động nhiệt độ bể ương 25
Hình 3.12: Biểu đồ biến động pH bể ương 26
Hình 3.13: Cá ông tiên từ 1 đến 60 ngày tuổi 31
Hình 3.14: Sự tăng trưởng theo chiều dài và chiều cao. 33
vi

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Dụng cụ và thời điểm xác định các thông số môi trường 13
Bảng 3.1: Số lượng và khối lượng cá bố mẹ đưa vào nuôi vỗ 15
Bảng 3.2: Kết quả chỉ tiêu sinh sản của cá ông tiên 19
Bảng 3.3: Các giai đoạn phát triển phôi của cá ông tiên 20
Bảng 3.4: Các yếu tố môi trường trong bể ương. 25
Bảng 3.5: Quá trình phát triển cá ông tiên mới nở đến hai tháng tuổi 27
Bảng 3.6: Tốc độ sinh trưởng của cá ông tiên. 32


1

LỜI NÓI ĐẦU

Trong đời sống tinh thần của con người, một trong những thú tiêu khiển được
cho là tao nhã đó là thú nuôi cá cảnh. Nghề nuôi cá cảnh đã có lịch sử rất lâu đời.
Từ hàng ngàn năm trước, các vua chúa Trung Hoa đã nuôi giữ cá chép và cá vàng
làm cảnh (Vũ Cẩm Lương, 2008). Cùng với sự phát triển của xã hội và sự tiến bộ
của khoa học kỹ thuật, ngày càng có nhiều đối tượng được đưa vào nuôi làm cảnh,
thu hút nhiều sự quan tâm của các tầng lớp khác nhau trong xã hội. Ngày nay, cùng
với sự phát triển của nền kinh tế, khi mà đời sống về vật chất đã đảm bảo, thì nhu
cầu hưởng thụ về mặt tinh thần được nâng cao. Để thỏa mãn nhu cầu đó, đã có
nhiều người tìm đến cá cảnh như là một sự lựa chọn.
Thú chơi cá cảnh hiện đã được phổ biến khắp mọi nơi trên thế giới dẫn đến sự

trường.
- Nắm được kỹ thuật sinh sản nhân tạo cá ông tiên.
Do thời gian thực tập có giới hạn và kiến thức của bản thân còn nhiều hạn chế
nên không tránh khỏi những thiếu xót trong luận văn. Vì vậy, tôi rất mong quí thầy
cô và các bạn đóng góp ý kiến để luận văn được hoàn thiện hơn.
3

PHẦN 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 HIỆN TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG PHÁT TRIỂN CỦA NGHỀ NUÔI CÁ
CẢNH Ở VIỆT NAM
Trước năm 1975, thành phố Hồ Chí Minh và một vài nơi khác đã từng xuất khẩu
cá cảnh đi các nước châu Âu nhưng đã bị thất bại hoàn toàn vì chưa có kinh nghiệm
trong kỹ thuật nuôi và vận chuyển cá cảnh. Năm 1985, sau khi có đường bay trực
tiếp từ TP. Hồ Chí Minh đi Pháp, cá cảnh bắt đầu được xuất khẩu thường xuyên
hàng tuần. Chỉ hai năm sau, việc xuất khẩu cá bị gián đoạn. Đến năm 1990, một vài
công ty Đài Loan sang TP. Hồ Chí Minh thành lập công ty để mua và xuất khẩu cá
cảnh, tuy nhiên chỉ một thời gian ngắn sau đó việc kinh doanh bị dừng lại vì không
hiệu quả. Vào đầu những năm 90, cá cảnh biển bắt đầu được xuất khẩu. Từ đó đến
nay, trải qua nhiều bước thăng trầm, nghề nuôi và sản xuất cá cảnh bắt đầu có
những bước tiến rõ rệt [13].
Năm 1995, xuất khẩu cá cảnh nước ngọt, có cơ sở phát triển mạnh sau sự kiện
một nghệ nhân Việt Nam đem 8 con cá dĩa đi dự triển lãm và hội thi AQUARAMA
95 từ ngày 25/5 – 31/5, đạt 7 huy chương trong tổng số 13 giải thưởng. Tại hội thi,

+ Thành phố Đà Nẵng hiện có hơn 100 hộ dân làm nghề nuôi cá cảnh, trong
đó có những người đã gắn bó với nghề 15 năm, cơ ngơi ngày càng phát triển [13].
+ Từ khi nền kinh tế thị trường phát triển, nghề nuôi cá cảnh ở Long An có
điều kiện khôi phục trở lại, tuy nhiên vẫn mang tính tự phát. Đến năm 2005, qua
theo dõi thông tin báo đài, mạng internet, đi tham quan tìm hiểu thị trường, và các
cơ sở nuôi cá cảnh ở TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh bạn, những người nuôi cá cảnh tụ
họp lại rồi xúc tiến thành lập chi hội cá cảnh Long An. Hiện tại, ở Long An ước tính
khoảng 30 cơ sở sản xuất và kinh doanh cá cảnh. Đến năm 2008 – 2009, do ảnh
hưởng suy thoái kinh tế thế giới sản phẩm xuất khẩu có gặp khó khăn. Tuy nhiên,
đây cũng là cơ hội để các cơ sở kinh doanh cá cảnh sắp xếp lại sản xuất, rèn luyện
tay nghề, từ đó sẽ đẩy mạnh sản suất trong giai đoạn tới [12].
Hiện nay, diện tích ao nuôi cá cảnh trên địa bàn tỉnh Bình Dương khoảng 3 ha,
số hồ kiếng nuôi cá là 2.000 hồ. Mô hình nuôi kết hợp nhiều loài cá cảnh trong ao,
5

hồ tự nhiên có tổng diện tích lên đến gần 20 ha. Các trại cá mang tính công nhiệp có
trên 4.000 hồ kiểng. Trong đó, các hộ cá nhân có từ vài chục hồ bố trí theo kệ tầng
phù hợp với diện tích sử dụng [12].
Các giống cá cảnh quý hiện có phần lớn trong tay các nghệ nhân nuôi cá cảnh ở
TP. Hồ Chí Minh như cá dĩa (Simphysodon discus), cá ông tiên (Pterophyllum
scalaine) và vài loài cá khác. Cá dĩa gồm có các dòng như cá dĩa bông xanh dương
(blue turquoise), pigeon blood, cá dĩa bông xanh lá (green turquoise), cá dĩa xanh
dương (blue discus), cá dĩa xanh lá (green discus), cá dĩa bông đỏ (red discus). Và
một vài dòng cá dĩa có trên thế giới hiện nay không còn thấy ở nước ta như cá dĩa
nâu (brown discus), cá dĩa ma (ghost discus) [13]. Đối với cá ông tiên, có các dòng
như cá ông tiên vàng, cá ông tiên bạc, cá ông tiên cẩm thạch đơn điệu. Cùng với
một số giống trước kia nay đã mai một dần như cá ông tiên ma, cá ông tiên trắng
đen, cá ông tiên đen tuyền [13]. Bên cạnh đó, loài cá thuộc họ Tetraodontidae, số
lượng chỉ còn một số ít so với trước kia. Các loài cá chép nhật thì cá giống đủ tiêu
chuẩn để nuôi làm cá cảnh rất hiếm. Các loại cá xiêm, phướng (Betta splendent) chỉ

1.2.2 Phân bố
Cá ông tiên có nguồn từ các vùng biển Rio Orinoco của Venezuela ở Nam
Mỹ, chủ yếu ở một số phụ lưu sông Amazon và sông Orinoco [1].
1.2.3 Đặc điểm hình thái
Cá có thân mỏng, dẹp hai bên, có dáng tròn như cái đĩa, các vây lẻ (vây lưng,
vây hậu môn, vây đuôi) rất to, các vây chẵn (vây bụng, vây ngực) các tia vây ngắn
hơn. Riêng ở vây bụng, một vài tia vây kéo dài thành một sợi mảnh. Không kể vây,
chiều dài thân chỉ lớn hơn 1/3 chiều cao thân. Nếu kể cả vây, chiều cao tất cả đạt
khoảng 25cm [1].
Cá ông tiên có rất nhiều loài nên màu sắc cá thay đổi tùy loài. Đối với loài
Pterophyllum altum, đôi mắt có màu đỏ máu, hông cá màu trắng bạc và có vân màu
nâu, điểm thêm 4 vạch ngang màu đen khá rõ. Vạch thứ nhất tạo thành một đường
cong đi qua mắt và đến đỉnh của vây bụng. Vạch thứ hai đi từ phần trước của vây
lưng đến hết cơ thể. Vạch thứ ba, rộng nhất, nối liền điểm cuối của vây lưng với gốc
7

vây hậu môn. Vạch thứ tư là vạch cuối, nằm trên phần đuôi, chỗ nối liền với thân cá
[1].
Tuy hai bên thân cá không có màu sắc sặc sỡ. Nhưng nhờ có sự phối trí của
các vây như vây lưng, vây ngực, vây bụng quá dài, nên khi di chuyển, cá tạo được
sự mềm mại, thướt tha và uyển chuyển [6].
1.2.4 Đặc điểm sinh thái
Môi trường sống thích hợp nhất của cá ở pH 6,5 – 7,0; nhiệt độ từ 26 –
30
o
C. Hàm lượng oxy trên 4 mgO
2
/lít. Độ cứng từ 20 – 150 mgCaCO
3
/lít [11].

quấn quít với nhau. Trước hết, cá đực rưới lên giá thể một chất nhờn. Sau đó, cá cái
đẻ trứng lên giá thể có chất nhờn đó[1]. Cá thường đẻ vào ban ngày [15].
+ Tuy sức sinh sản cá ông tiên tương đối lớn, nhưng để cá bố mẹ chăm
sóc trứng thì số lượng cá nở ra không nhiều do cá mẹ lẫn cá bố thích ăn dần con của
chúng [1].
1.3 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LAI TẠO GIỐNG CÁ ÔNG TIÊN
Vào khoảng những năm 50, cá ông tiên đen đầu tiên được lai từ cặp bố mẹ có
màu pha đen. Những con cá này mang hai tính trạng di truyền cho màu đen được
gọi là “true black”, trong khi cặp bố mẹ chỉ có một tính trạng. Toàn thân cá “true
black” có các sọc mờ, lóng lánh dưới ánh đèn flash [11].
Cho đến tận cuối những năm 60, sau sự xuất hiện của ông tiên cẩm thạch
(marble), một loại tiên ông đen khác mới đã được tạo ra. Loài này mang một tính
trạng đen và một tính trạng cẩm thạch thể hiện kiểu hình đó là hoa văn cẩm thạch
đen trên một nền xám sẫm. Chúng sẽ trở nên cực kỳ rực rỡ khi trưởng thành. Yếu tố
gen di truyền cho màu sẫm và cẩm thạch được gọi là gen đẳng vị [11]. Cũng vào
khoảng thời gian này, loài ông tiên đen thứ ba xuất hiện mang một tính trạng sẫm và
một tính trạng “vàng sẫm” cũng là một kiểu đẳng vị của màu sẫm và cẩm thạch. Cá
ông tiên đen mang tính di truyền sẫm - vàng sẽ có thân màu đồng thau, sọc thẳng
đứng và rõ nét.
9

Sau đó, loài ông tiên đen đẹp nhất và mới nhất được gọi là "nhung đen" (Black
Velvet). Ông tiên nhung đen có màu nhung đen mượt và không có sọc. Loài này
mang hai tính trạng sọc (làm chúng ửng hồng), một tính trạng sẫm và một tính trạng
vàng. Xét về di truyền loại đen nhung cũng giống như “true black ” nhưng có thêm
tính trạng vàng [9].
"True black" có thể trạng yếu, chậm lớn, tỉ lệ chết khá cao so với các dòng khác.
Chính vì vậy, "true black" cần được thay thế bằng 1 dòng cá có màu đen khoẻ hơn,
chỉ mang 1 tính trạng di truyền màu sẫm. Cặp bố mẹ mang gen sẫm - cẩm thạch sẽ
cho ra đời đàn con với tỉ lệ là 1 "true black"; 2 "black" (mang gen di truyền sẫm -

Hình 2.1: Sơ đồ nội dung nghiên cứu.

Kỹ thuật
nuôi vỗ cá
bố mẹ và
cho cá đẻ
Kỹ thuật
ương
nuôi ấu
thể
Ấp nở
trứng
Kỹ thuật
nuôi vỗ
cá bố mẹ
Cho cá
ông tiên
đẻ
Mô tả
hình thái
ấu thể và
tốc độ
tăng
trưởng

trong bể, thay nước vào lúc sáng, cung cấp nước mới và oxy cho cá. Vệ sinh, siphon
đáy hồ cho sạch, cho cá ăn sau khi thay nước vào buổi sáng.
2.3.1.1 Xác định số lượng trứng
Số lượng trứng cá được xác định theo hai cách như sau:
- Ta đếm trong 1cm
2
trên giá thể ở 3 vị trí khác nhau sau đó lấy trung
bình được bao nhiêu trứng rồi nhân diện tích mà trứng dính trên bề mặt giá thể đó.
- Sau khi trứng được đẻ ra dính trên giá thể, ta chụp ảnh rồi phóng to
ảnh để đếm số trứng cá đã đẻ ra.
2.3.1.2 Xác định tỷ lệ thụ tinh
Trứng không được thụ tinh sẽ có màu trắng đục, ta đếm số trứng không
thụ tinh và tính tỷ lệ thụ tinh theo công thức:
TLTT (%) =
A
A
0
x 100
Trong đó: A
o
: số trứng thụ tinh
A: tổng số trứng
2.3.1.3 Xác định tỷ lệ nở
Khi cá nở thì xác định thời gian nở, đồng thời, tiến hành định lượng cá
bột mới nở bằng cách đếm số lượng cá nở ra dính trên giá thể và tính tỷ lệ nở như
sau:
12

TLN (%) =
0

Cân, đo, quan sát dưới kính hiển vi tại phòng thí nghiệm.
2.3.2.2 Theo dõi quá trình biến thái phôi
Cá sau khi đẻ được thu thập trứng hàng ngày và theo dõi quá trình biến
thái của phôi. Xác định thời điểm của các giai đoạn phân cắt trứng, quá trình hình
thành các cơ quan, đếm nhịp đập của tim phôi. Dựa vào các mô tả của Allen (1972),
và của Ajith Kumar (2009), minh họa bằng hình chụp mẫu tươi.
2.3.2.3 Theo dõi quá trình phát triển của cá mới nở đến hai tháng tuổi
Theo dõi sự phát triển của cá con, thu mẫu 2 ngày/lần, đo chiều dài toàn
thân, chiều cao, cân khối lượng của cá 1 ngày tuổi đến 60 ngày tuổi. Số lượng mỗi
lần thu là 5 cá thể. Quan sát sự biến thái về hình dạng, sự thay đổi vầ màu sắc và tập
tính sống của cá con. Mô tả lại bằng hình ảnh minh họa. 13

2.3.3 Phương pháp ương nuôi cá mới nở đến đến hai tháng tuổi
- Các yếu tố môi trường trong bể ương: nhiệt độ khoảng 26 – 29
o
C; pH từ 6 –
7; sục khí: 24/24, ánh sáng đầy đủ.
- Quản lý và chăm sóc cá con:
+ Thức ăn: Artemia bung dù, nauplii Artemia, trùn chỉ sống, trùn chỉ
đông lạnh.
+ Cách cho ăn: phù hợp theo từng giai đoạn phát triển của cá.
+ Vệ sinh bể sạch trong quá trình ương và quản lý tốt các yếu tố môi
trường trong bể.
- Xác định tốc độ tăng trưởng thông qua chỉ tiêu chiều dài và chiều cao
+ Xác định chiều dài bằng thước kẻ có độ chính xác 1mm.
+ Định kỳ đo chiều dài 2 ngày/lần.
- Xác định tốc độ tăng trưởng thông qua chỉ tiêu theo khối lượng

C; pH khoảng 6 – 7. Trong bể luôn đặt sục khí và ánh sáng đầy đủ.
Diện tích bể rộng hay hẹp cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động của cá.
Đây là một trong những nguyên nhân gây nên sự thay đổi của các yếu tố môi trường
bể nuôi. Bể có diện tích lớn các yếu tố môi trường ít thay đổi, cá hoạt động tốt
nhưng khó khăn cho quản lý và chăm sóc. Ngược lại, nếu bể nhỏ các yếu tố môi
trường thay đổi lớn, phạm vi hoạt động của cá hẹp, nhưng dễ chăm sóc. Do đó,
trong quá trình nuôi dưỡng cá bố mẹ cần phải xác định diện tích bể phù hợp với các
đối tượng nuôi [4].
Theo tác giả khác, đây là bể nuôi cá cảnh với loài cá kích thước nhỏ nên
thể tích bể không lớn khoảng 60 lít, độ sâu trung bình 40 – 50 cm. Nhiệt độ bể 26 –
30
o
C; pH từ 6,5 – 7,0 [6].
- Nguồn nước cấp
Nguồn nước máy được xem là nguồn nước sạch cho các loài cá cảnh
nước ngọt, nhưng trong nước máy chứa nhiều dư lượng Clo. Do đó, nước cần được
bơm ra bể chứa cho sục khí trong vòng 2 – 3 ngày để hết dư lượng Clo trước khi
đưa vào sử dụng. Như vậy, nguồn nước sẽ đảm bảo sức khỏe cho cá bố mẹ và chất
lượng đàn cá con.
- Tuyển chọn cá bố mẹ vào nuôi vỗ
Trong quá trình thực tập, việc tuyển chọn đã được thực hiện và cho đẻ
nhiều lần trước đó. Nên cá bố mẹ tiếp tục được nuôi dưỡng để cho đẻ. Cá bố mẹ
được chọn đưa vào nuôi vỗ phải khỏe mạnh, không bị sây xát, màu sắc sáng, toàn
thân trơn nhẵn, không dị hình và hoạt động nhanh nhẹn [4].
15

Ở mỗi loài cá có tuổi thành thục khác nhau, khi chọn đàn cá có tuổi thành
thục phù hợp sẽ tạo ra đàn cá giống tốt và có hiệu quả trong quá trình sản xuất. Nếu
cá bố mẹ chưa thành thục sẽ sinh sản không tốt, nhưng nếu quá thành thục cho đẻ
cũng không hiệu quả [4].

Cặp 3 20 40
16

- Quản lý, chăm sóc đàn cá bố mẹ
Việc quản lý môi trường và chăm sóc tốt cá bố mẹ cũng ảnh hưởng nhiều
đến sức sinh sản của cá. Trong đó, chất lượng thức ăn, chế độ cho ăn và khẩu phần
ăn rất quan trọng. Lượng thức ăn cho ăn hằng ngày từ 3 – 5% khối lượng thân.
Thức ăn được cho vào giỏ cho ăn và đặt ở một góc bể nhằm mục đích kiểm tra việc
sử dụng thức ăn của cá và thuận tiện cho việc làm vệ sinh nơi cá ăn. Cho cá ăn 2
lần/ngày, vào lúc 8 giờ và 16 giờ. Đối với việc quản lý môi trường thì thay nước
định kỳ 3 – 5 ngày/lần, lượng nước thay từ 30 – 50% lượng nước trong bể và thay
nước vào lúc sáng là tốt nhất. Việc thay nước nhằm cung cấp thêm oxy và nước mới
cho cá. Vệ sinh, siphon đáy hồ cho sạch, cho cá ăn sau khi thay nước vào buổi sáng.
Thức ăn cho cá trong giai đoạn nuôi vỗ là trùn chỉ sống (hình 3.1), trùn chỉ đông
lạnh (hình 3.2), tốt nhất là trùn chỉ sống.
Trùn chỉ là loại trùn có thân mình nhỏ như sợi chỉ và ngắn độ 3 – 4cm,
màu đỏ như màu huyết. Trùn chỉ là loại thức ăn giàu đạm, hầu như tất cả giống cá
kiểng đều thích ăn. Sau khi mua về, trùn chỉ được ngâm trong thau nước sạch để
lóng bớt hết tạp chất rồi mới cho ăn. Nếu mua với số lượng nhiều dùng để cho ăn
vài ngày thì hằng ngày cần thay nước và đổ bỏ trùn chỉ chết. Vì khi chúng chết có
mùi rất thối, nếu không vệ sinh sạch trùn chỉ sống sẽ làm cho mùi thối vẫn còn dẫn
đến chất lượng thức ăn giảm [2].
Trong quá trình chăm sóc cá bố mẹ cho thấy, cá đẻ lại sau 15 ngày.
Trong quá trình nuôi dưỡng cá bố mẹ, thức ăn không những là nguồn vật chất cho
sự sinh trưởng, năng lượng cho sự trao đổi chất mà còn là nguyên liệu tạo noãn
hoàng và tinh sào. Những cá đói do thiếu thức ăn sẽ có hệ số thành thục thấp hoặc
không thành thục mặc dù cá yếu tố môi trường thuận lợi [3].
Theo nghiên cứu về ảnh hưởng của hàm lượng protein đến sự sinh sản
của cá ông tiên (Pterophyllum scalare) trên tạp chí nghiên cứu khoa học, đã thí
nghiệm với bốn loại thức ăn chế biến có cùng mức năng lượng nhưng hàm lượng

và cá cái sẽ dễ nhận biết hơn. Cá đực thì hậu môn ngắn hơn và hơi lõm vào ở phần
trước gai sinh dục nhọn và hơi chếch về phía trước còn cá cái thì gai sinh dục tù và
hơi ngã về phía sau. Trước khi đẻ, cá dùng gai sinh dục để làm sạch tổ đẻ. Hiện
18

tượng này thường xảy ra khoảng 1 – 2 ngày trước khi đẻ, sau đó cá cái lướt nhẹ 1 –
2 lần trên giá thể rồi phóng trứng. Cá đực tiến đến tưới tinh lên trứng. Hành động
này được lặp lại nhiều lần đến khi cá cái phóng hết trứng (khoảng 400 – 500 trứng)
trong thời gian 25 – 30 phút (Hình 3.5). Sau khi đẻ xong, cá ông tiên bố mẹ trở nên
hung dữ. Chúng có thể tấn công những vật lạ khi cho vào trong bể.
3.2 Ấp nở trứng
3.2.1 Quá trình ấp trứng cá ông tiên
Ấp trứng là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất cá bột trong sinh sản nhân
tạo. Nhưng thực tế, nếu kỹ thuật này không được chú ý, sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả
của một đợt sản xuất cá giống. Muốn có hiệu quả cao phải nắm được quá trình phát
triển phôi và mối quan hệ của quá trình phát triển này với môi trường [2].
Trứng cá khi đẻ ra có màu vàng nhạt và bám trên giá thể (Hình 3.6). Sau khi
cá đẻ trứng xong, ta có hai cách ấp:
- Cách 1: Ấp trứng ngay trong bể cá bố mẹ vừa đẻ xong để cá bố mẹ
chăm sóc.
- Cách 2: Chuyển trứng sang bể ấp riêng không để cá bố mẹ chăm sóc.
Ấp trứng ngay trong bể đẻ hay chuyển sang nơi khác tùy theo điều kiện.
Trong quá trình ấp nở trứng cá ông tiên, chọn và tiến hành cả hai cách ấp trên.
Trong đó, cặp 1 được ấp theo cách 1, hai cặp cá còn lại ấp theo cách 2.
Sục khí liên tục, thay nước mỗi ngày 2 lần. Theo dõi thường xuyên nhiệt độ nước,
tốt nhất là ở 26 – 30
o
C, nếu thấp hơn trứng dễ bị nấm đặc biệt ở 24
o
C. Nên thường


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status